LTS: Tóm tắt kế hoạch của ông Phạm Cao Dương để "tránh chiến tranh Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954" (trong video phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Xuân Nam, từ phút 34 tới hết phút 37) chính xác là như sau:

"Một chính phủ nào khác (miễn là không phải Việt Minh), do những người có thế - tức là những người thân Pháp - sẽ thương lượng, điều đình với Pháp - để Pháp duy trì quyền lợi của họ ở Việt Nam vì VN là một phần tương lai của nước Pháp." (SH)

C.6.- Về sau này điều đình giữa Pháp và Hồ Chí Minh chẳng hạn, thì cũng là có sự tương nhượng về quyền lợi. Vậy thì, nếu như vậy, thì cái cuộc chiến tranh với Pháp sẽ không xảy ra.

Câu này của ông Dương hơi tối nghĩa. Không hiểu  ông Phạm Cao Dương đưa ra câu nói trên để chứng minh cái gì, nhưng ông lập lại hai chữ "tương nhượng", và "cuộc chiến tranh với Pháp sẽ không xảy ra," thì tôi cũng xin nhắc lại câu nói mà trước đây tôi đã nói về hai chữ "điều đình" và điều kiện của nó trong câu số 3 và câu 4 ở trên.

Dường như ông Dương hoàn toàn thiếu hiểu biết về những cuộc điều đình giữa hai thế lực chính trị đối nghịch nhau,  giữa một bên là quân giặc xâm lăng đang ở thế mạnh và một bên là lực lượng yêu nước của nhân dân của một quốc gia bị cưỡng chiếm làm thuộcđịa vùng lên đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc (thường thường là ở vào thế yếu vào lúc khởi đầu) như trường hợp Việt Nam vào thời điểm năm 1945. Trong câu C.3 và câu C.4 ở trên, chúng tôi đã trình bày về (1)  những bước đường chiến đấu và điều đình giữa nhân dân 13 thuộc địa Anh và quân xâm lược Anh tại Bắc Mỹ trong cuộc chiến  1774-1783, và (2)  những bước đường chiến đấu và điều đình giữa nhân dân Việt Nam và Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican trong cuộc chiên 1945-1954.

Ông Phạm Cao Dương cũng nói đến cái “Thế”, nhưng lại không hiểt hay cố tình không cần biết đến “cái thế của Việt Nam”  và “cái thế của Liên minh xâm lược Pháp – Vatican” lúc bấy giờ khác nhau đến thế nào.  Ông nói đến "cái thế của những người thân Pháp" mà không nhớ đến những kinh nghiệm đau thương của triều đình nhà Nguyễn trong thời Vua Tự Đức, chỉ vì ở vào thế yếu mà triều đình Huế phải  nhận chịu hết tất cả những điều kiện của giặc đưa ra mà phải cúi đầu ký vào các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1874, Quý Mùi 1884 và Giáp Thân 1884.

Chính cụ Trần Trọng Kim đã nộp đơn từ chức ngày 5/8/1945, cũng vì biết rõ “cái thế yếu” của cái thân phận làm tay sai cho Nhật, và chính quyền Bảo Đại vào thời điểm đầu tháng 8/1945 khi Nhật sắp sử đầu hàng Đồng Minh. Trong cuốn "Con Rồng Việt Nam" tr. 184, chính BẢO ĐẠI nhìn nhận cái thế mạnh của Việt Minh và thế yếu của chính bản thân ông như sau:

“Họ có súng đạn phương tiện, còn tôi thì không có khả năng  để tập họp những bậc trung thần và những người thân cận xưa nay vẫn câm như thóc, hay có âm mưu chống lại tôi…Họ đã chiếm được quyền hành không mất một mảy long, và tôi bị bơ vơ trong một kinh thành chết.

Tất cả như tập họp cho họ, đầy bí hiểm. Sự thành công không thể chối cãi này, phải chăng là một dấu hiệu chứng tỏ họ họ đã nhân được thiên mệnh của Trời?” (Bảo ĐẠi, Con Rồng Việt Nam (Alamitos, CA: Xuân Thu, 1990), tr 184.

Chính ông Phạm Cao Dương cũng ghi lại y như thế vào sách của ông "Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới Bảo Đại – Trần Trọng Kim Và Đế Quốc Việt Nam 9/3/1945-30/8/1945” ở trang 361. Những người ở trong cuộc lúc bấy giờ nhìn nhận cái thế mạnh của Việt Minh và cái thế yếu của chính họ rõ ràng như vậy.

Ấy thế mà hơn 70 năm sau, ông Phạm Cao Dương lại cho rằng cả ông Bảo Đại và ông Trần Trọng Kim, và những người "có thế thân Pháp" còn có thể "thương lượng" với Pháp. Vậy là ông GS Phạm vừa khen họ tốt vừa chê họ đã không "thương lượng" với Pháp để "tránh khỏi mất công tranh đấu giành độc lập." Không giành độc lập thì láy đâu ra Tự Do, Dân Chủ, và tiến bộ như các nước khác?

Viết đến đây, bất giác tôi nhớ tới lại hai câu thơ về tình trạng trong thời Liên Minh Pháp – Vatican cưỡng chiễm triều đình nhà Nguyễn phài cúi đẫu kỳ các hiệp ước bán nước nói trên:

Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo thì có khác chi thằng hề!

Làm sao họ có thể điều đình với Pháp tốt hơn Việt Minh nếu muốn giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam chúng ta?

Rà soát giai đoạn lịch sử trong những năm 1946-1954, tôi thấy tất cả có 5 cuộc điều đình giữa Pháp và chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dưới quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh. Trong 5 cuộc thương thuyết này, khi Pháp ở thế mạnh thì họ tỏ ra hết sức trịch thượng, cưỡng bách chính quyền ta phải cúi đầu chấp nhận những điều kiện  của họ đưa ra giống như khi họ điều đình với triều đình Huế trong thời Vua Tự Đức (1848-1883) trong việc ký các hòa Ước Nhâm Thân 1862, Giáp Tuất 1874, Hòa Ước Quý Mùi 1883, và Hòa Ước Giáp Thân 1884) và chỉ khi nào họ ở thế yếu họ mới tỏ ra hòa hoãn, lịch sự và tương nhượng.

=====================

Trước khi nói đến vấn đề điều đình với Pháp để kỳ Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946, thiết tưởng cũng nên nói về tình hình miền bắc với các thế chính trị và quân sự của các thế lực thù địch ngoại nhập và các thế lực nội thù chống lại chính quyền Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh vào thời điểm tháng 3 năm 1946.

C.6.A.- Thế lực thù địch ngoại nhập. Các thế lực này gồm có:

1.-/ Tại miền Bắc, gần 200 ngàn Quốc Quân Trung Hoa với danh nghĩa là quân đội Đồng Minh sang nước ta vừa làm những việc tàn tặc và chống lại chính quyền Việt Nam với những hành động ỷ mạnh cưỡng ép chính quyền ta phải chấp nhận những hành động ăn cướp và vơ vét cho đầy túi tham của chúng, vừa ra mặt cấu kết với hai đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Cách) trong mưu đồ dùng bạo lực cướp chính quyền để làm tay sai cho chính quyền Tưởng Giới Thạch. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, các chính đảng thân Nhật (hầu hết đều có hai chữ Đại Việt hay Phục Quốc hay Quang Phục) đều lui vào bóng tối hay không còn hoạt động nữa vì rằng Nhật Bản không còn là cường quốc để cho họ trông nhờ nữa. Sao hôm lặn thi sao mai xuất hiện. Nhật bại trận, đầu hàng Đồng Minh thì Trung Hoa dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch Quốc Dân Đảng Trung Hoa trở thành một trong các cường quốc Đồng Minh thắng trận. Vì thế, Quốc Quân Trung Hoa được giao phó cho việc gửi quân sang Đông Dương đảm trách nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật từ biên giới Việt Hoa đến vĩ tuyến 16.

Lợi dụng nhiệm vụ này, Tưởng Giới Thạch gửi sang Đông Dương tới 180 ngàn quân. Những người đã từng chứng kiến sự hiện diện của đoàn quân Tầu này ở Việt Nam lúc bấy giờ đều khẳng định rằng đoàn quân này quả thật là một đoàn quân ô hợp, có những tác phong và hành động của quân thổ phỉ ăn cướp. Bản thân người viết cũng đã từng chứng kiến sự thật như vậy suốt dọc Đường Số 10 từ huyện An Lão (Kiến An) đến Hải Phòng trong những ngày đầu tháng 11 năm 1945. Nói về những hành động thổ phỉ của các binh đoàn Quốc Quân Trung Hoa này, sử gia Bernard B. Fall ghi nhận:

“Trái lại, (so với quân Anh để giải giới quân Nhật ở miền Nam) đạo quân Trung Quốc sang giải giới quân Nhật ở miền Bắc dưới quyền chỉ huy của Lư Hán, người sau này đảo ngũ theo Cộng Sản Trung Quốc, thật là to lớn phi thường. Đạo quân này gồm có các quân đoàn 60, 62, và 93, được tăng cường với các sư đoàn 23, 39 và 93, tổng số lên đến hơn 152 ngàn quân. Giống như đàn châu chấu, vừa đi vừa vơ vét của dân, cho nên chúng di chuyển chậm chạp và phải mất 6 tuần lễ chúng mới vượt qua đoạn đường hơn 100 dặm Anh. Tiến quân chậm chạp như vậy, không những chúng đã giúp cho Việt Minh có đủ thì giờ nắm quyền kiểm soát hầu hết Việt Nam, mà còn làm sống lại mối hận thù thâm niên cố đế của người Việt Nam đối với người Trung Quốc về đủ mọi thứ. Đạo quân Trung Quốc này đã làm cho các đảng phái Quốc Gia mất hết niềm tin mà trước đó họ đã hy vọng có thể trông nhờ vào sự ủng hộ của chúng để chống lại cụ Hồ Chí Minh.” Nguyên văn: “As for the Chinese occupation forces under Lu Han, who later defected to Chinese Communists, they were, on the contrary, enormous. They were composed of the 60th, 62nd, 93rdarmies, reinforced by the 23rd 39th, and 93rd divisions, comprising some more than 152,000 men and it took them almost six weeks to cover 100 miles from border to Hanoi, like a sawrm of locusts, they slowly pilfered their way through the countryside. In the process, they not only gave the Viet Minh’s sufficient time to gain control over much of Viet Nam, but they also revived the century old Vietnamese hatreds for all things. Chinese and thus thoroughly discredited the Vietnamese natrionalists who had hoped to be able to use Chinese support in their forthcoming struggle against Ho Chi Minh.”[14] Bernard B. Fall, The Two Viet Nams (New York: Frederick A. Praeger, 1964), pp. 63-64.

Đã có nhiều người nêu lên thắc mắc là khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, trên toàn thể lãnh thổ Đông Dương chỉ có 60 ngàn quân Nhật, trong khi người Anh chỉ gửi sang Việt Nam có một đạo quân nhỏ bé 1400 quân để giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, thì TẠI SAO Tổng Thống Tưởng Giới Thạch lại gửi sang Đông Dương tới 180 ngàn ngàn quân để giải giới (khoảng 30 ngàn) quân Nhật từ vĩ tuyễn 16 trở ra Bắc?

Theo sự tìm hiểu của người viết, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch gửi sang Đông Dương một số quân nhiều như vậy là có kế sách nhất tiễn tam điểu:

1.-/ Giải giới quân Nhật (nhiệm vụ đương nhiên phải làm và chỉ là mặt nổi).

2.-/ Làm thế lực đỡ đầu và trợ lực cho hai đảng Việt Quốc và Việt Cách đánh bại chính quyền Việt Minh Kháng Chiến do cụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Nếu thành công, thì Việt Nam sẽ trở thành một thuộc địa của Trung Hoa và cũng là căn cứ để chống lại thế lực Cộng Sản Trung Hoa đang bành trướng mạnh ở Hoa Bắc.

3.-/ Để cho gần 200 ngàn quân này tàn phá Việt Nam bằng những hành động ăn cuớp với mục đích làm cho dân ta vốn đã đói khổ do Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican gây ra lại càng trở nên đói khổ hơn. Vậy là làm giảm thiểu sức đề kháng của dân ta hầu dễ dàng biến Việt Nam thành một thuộc địa của Trung Hoa. Lập luận này được Đại Tướng Võ Nguyên Giáp nói rõ như sau:

“Sau khi Nhật đầu hàng, Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa, một tên chống Cộng khét tiếng, đã thúc Lư Hán điều quân vào miền Bắc Việt Nam cho thật nhanh. Kế hoạch “Hoa Quân Nhập Việt” đã được chuẩn bị từ lâu. Bọn quân phiệt Quốc Dân Đảng tin rằng đây là một thời cơ rất thuận lợi để thôn tính miền Bắc Việt Nam. Chúng tính ít nhất cũng đặt được từ vĩ tuyến 16 trở ra, một chính quyền tay sai ngoan ngoãn thực hiện mọi chỉ thị của chúng.

Bọn quân phiệt Quốc Dân Đảng sắp sẵn những con bài, gồm những tên tay sai người Việt ở Trung Hoa như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam… Chúng thuộc hai tổ chức: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội và Việt Nam Quốc Dân Đảng, sống từ lâu ở nước ngoài, không có liên hệ gì với phong trào trong nước. Chúng tự nhận là những người Việt Nam yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, nhưng thực ra là một bọn phản động mưu toan dựa vào Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch và mũi súng quân Tưởng để kiếm sống. Quân Tưởng đi vào Việt Nam bằng hai đường nên bọn này cũng chia làm hai bộ phận đi theo chúng.

Vì tổ chức luộm thuộm, thiếu phương tiện vận chuyển, phải đi bộ, không có hậu cần đi cùng, đến đâu cũng phải xoay ăn, lại thiếu cả quân số, vừa đi vừa vét quân lính ở dọc đường, nên chúng đi khá chậm.

Phía Vân Nam, Quân Đoàn 93 thuộc đệ nhất phương diện quân của Lư Hán, theo kế hoạch sẽ đi dọc sông Hồng đến Hà Nội, cuối tháng 8 mới tới Lào Cai. Phía Quảng Tây, Quân Đoàn 62, lực lượng của Quân Đội Quốc Dân Đảng Trung Ương, có Tướng Tiêu Văn đi cùng, sẽ đi đường Lạng Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội, mãi đầu tháng 9 mới vượt qua biên giới.

Hai quân đoàn khác, Quân Đoàn 52 của Trung Ương và Quân Đoàn 60 của Vân Nam đi tiếp theo, sẽ chia nhau xuống Hải Phòng, vào Vinh và Đà Nẵng.

Tổng số quân của chúng vào miền Bắc là mười tám vạn người. Các quân đoàn Vân Nam nhiều binh lính ốm đau ô hợp, kém huấn luyện. Những quân đoàn trung ương mạnh hơn, về tổ chức cũng đỡ luộm thuộm. Bốn quân đoàn này được đặt dưới quyền chỉ huy chung của Tướng Lư Hán. Tướng Tiêu Văn, một phó tướng của Trương Phát Khuê, từ lâu theo dõi vấn đề Việt Nam, lãnh trách nhiệm với bọn quân phiệt Quốc Dân Đảng trong việc sắp xếp chế độ chính trị ở miền Bắc.

Nguyễn Hải Thần theo Quân Đoàn 62 vào Lạng Sơn, thì được tin Chính Phủ Lâm Thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ra mắt trước một triệu đồng bào tại Thủ Đô Hà Nội.

Những tên chỉ huy Quân Đoàn 62 đòi tước vũ khí các lực lượng vũ trang của ta tại Lạng Sơn, Cao Bằng. Bộ đội ta không chịu. Chúng đem quân đến chiếm các doanh trại của Quân Giải Phóng. Bọn Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội núp sau lưỡi lê Quân Tưởng, xông vào trụ sở của nhân dân tỉnh.

Để tránh xô xát lớn, các cơ quan chính quyền, đoàn thể và các lực lượng vũ trang của ta phải tạm giãn ra vùng chung quanh. Nhân dân lập tức thực hiện “vườn không nhà trống”. Thị xã trở nên vắng ngắt.

Bọn Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội đi lùng khắp nơi không kiếm ra đủ số người để làm một cuộc mit-tinh nhỏ cho Nguyễn Hải Thần ra mắt. Chúng đành in một số truyền đơn phản đối việc Việt Minh thành lập Chính Phủ Lâm Thời và nêu lên mười ba điều thảo phạt Chính Phủ Hồ Chí Minh. Không có ai mà phân phát, chúng đem truyền đơn rải khắp đường ngang lối tắt.

Bọn Việt Nam Quốc Dân Đảng do Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam cầm đầu, đi theo Quân Đoàn 93 Vân Nam. Cũng dựa vào mũi súng của quân Tưởng, chúng tới đâu là tìm cách lật đổ của chính quyền của nhân dân ta tại đó. Chúng lập trụ sở, tập hợp bọn phản động ở địa phương, quấy nhiễu, phá phách, cướp của, giết người, Thầy nào, tớ ấy, bọn quân ô hợp của Long Vân hoạt động giống như những tên thổ phỉ.

Tại một số nơi chưa được phổ biến kỹ chủ trương, những cuộc xung đột giữa các lực lượng vũ trang của nhân dân ta với quân Tưởng đã xẩy ra.

Các cơ quan chính quyền và bộ đội ta được lệnh tạm rút ra ngoài một số thị trấn, thị xã ở vài tỉnh miền biên giới và dọc đường xe lửa từ Vân Nam về.

Trong nửa đầu tháng 9, gần hai chục vạn quân Tưởng đã tràn ra khắp các tỉnh miền Bắc như một bệnh dịch. Theo gót chúng là những bọn tay sai tức tối vì thấy khó có cơ hội kiếm ăn to. Trước mắt chúng là lực lượng cách mạng rất lớn, một chính quyền rất đàng hoàng với những cơ sở chịnh trị vứng chắc, được nhân dân hết lòng ủng hộ. Chúng càng trở nên trơ tráo, lộ rõ nguyên hình bọn lưu vong mất gốc, được che chở bằng lười lê quân đội phản động nước ngoài.

Ngày 11 tháng 9, Tướng Lư Hán đáp may bay đến Hà Nội. Mấy hôm sau, những bản bố cáo dài dằng đặc được dán khắp nơi. Bọn quân phiệt Quốc Dân Đảng Trung Hoa coi như chúng tới một nơi không có chính quyền. Chúng tự cho chúng quyền giữ trị an trong thành phố. Chúng quy định giá trị của tiền Quan kim, tiền Quốc tệ, những thứ tiền từ lâu đã trở thành mớ giấy lộn. Chúng đề ra cả những quy định để kiểm soát xe cộ đi lại trong thành phố.

Lư Hán tới được vài ngày thì A-lét-xăng-đơ-ri cũng xuất hiện ở Hà Nội. Viên tướng chỉ huy quân đội lê dương Pháp tại Bắc Kỳ, đã đem bọn tàn quân chạy trốn sang Côn Minh trước cuộc tấn công của quân đội Nhật đêm mồng 9 tháng 3 năm nay (1945), tại sao cũng đến đây? Tình ý của bọn Tưởng và bọn Pháp ra sao là vấn đề cần được chú ý.”

2.-/ Các bộ phận cựu thù là bộ phận đại diện Tòa Thánh tại Huế vẫn còn hoạt động  chống lại chính quyền ta. Bằng chứng là viên Khâm Sứ đại diện giáo triều Vatican là Tổng Giám Mục Antoni Drapier công khai đề nghị dùng Bảo Đại Thành lập chính quyền làm tay sai cho giặc đế quy tụ những con chiên và bọn phong kiến phản động chống lại chính quyền ta. Đề nghị lưu manh này được sách sử ghi lại như sau:  

“Ngày 28/12/1945: HUẾ: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố:

"Gia đình Bảo Đại là gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les annmites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars; DOM [aix], CP 125). DRAPIER cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long kế vị, và Nam Phương làm Giám Quốc [Phụ Chính]." Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975- (Tập A: 1939-1946 (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr 295.

C.6.B.-   Các thế lực nội thù: Vào thời điểm đầu năm 1946, có ít nhất là 3 thế lực nội thù dựa giáo triềuVatican và dựa  các binh đoàn Quốc Quân Trung Hoa trên đây để đáng phá chính quyền ta.

1.- / Ngoài đề nghi đưa ra đề nghi dùng Bảo Đại thành lập chính quyền của nhân ta, Toà Thánh Vatican còn ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền ca ngợi và tán dương chế độ thực dân của Liên Minh Pháp - Vatican để che giấu tội ác đã làm cho nhân dân ta khốn khổ lâm vào cảnh chết đói tới hai triệu người bằng những luận điệu:

"Chính sách thực dân, dưới mắt các nhà luật học và luân lý học vẫn là một việc hợp lý, vừa giúp ích nhân loại vừa là hành vi nhân đạo. Chính sách thực dân giúp ích chung nhân loại mỗi khi: Một dân tộc không đủ tài lực để khai khẩn những ruộng đất, hầm mỏ, rừng rú mà giời (trời) đã ban cho. Một dân tộc không thể tự trị nổi cần phải nhờ sức bảo hộ của nước ngoài... Hơn nữa chính sách thực dân có tính cách nhân đạo ở chỗ: một cường quốc khai hóa cho một nước mà nền văn minh còn thô sơ." Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Những Hoạt Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo Trong Thời Kháng Chiến 1945-1954 (Hà Nôi: Nhà Xuất B?n Khoa Học, 1965), tr. 21. (Ðoạn văn trên đây trích ra từ cuốn sách có tựa đề là "Người Công Giáo Trước Thời Cuộc của tác gỉa Phao-lô Trung Chính viết ngày 28/3/1948, nhà in Lê Bảo Tịnh xuất bẩn tại Phát Diệm, 1950, trang 161.

2.-/ Hai chính đảng Việt Cách và Việt Quốc vừa dựa vào các binh đoàn Quốc Quân Trung Hoa vừa liên kết với giáo triều Vatican để đánh phá chính quyền ta. Vấn đề này cũng được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:.

"Nhóm Quốc Dân Đảng (của Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam, v.v...) đòi thành lập ngay một Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến với Vĩnh Thụy làm chủ tịch. Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức trước nhà Vĩnh Thụy ở Đường Gambetta cũ, hoan hô cố vấn và đòi ông ra cầm quyền." Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nam Á, 2002), tr. 2076. “Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Mạnh Quang, Sachhiem.net”

3.-/ Bọn phong kiến phản động, tàn dư của chính quyền Bảo Hộ Pháp – Vatican và triều đình Huế cũng rục rịch ủng hộ đề nghị dùng Bảo Đại thành lập chính quyền chống lại nhân dân ta để nhảy vào ăn có.

Đang ở trong tình hình đầy những khó khăn như vậy, thì ngày 28/2/1946, Pháp đã ký với chính Phủ Trung Hoa Tưởng Giới Thạch Hiệp Uớc Trùng Khánh 28/2/1946, theo đó thì Pháp sẽ nhường cho Trung Hoa Một số quyền lực để Trung Hoa bằng lòng đê cho Pháp kéo quân thay thế 180 ngàn Quốc Quân Trung đảm nhiệc việc giải giới quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16. Dù rằng đã đạt được một thòa hiệp với chính quyền Trung Hoa để kéo quân ra Bắc, nhưng Pháp  vẫn còn cho rằng cũng cần phải có một thỏa hiệp với chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về vấn đề này để khi kéo quân ra Bắc thì  sẽ không chính quyền và nhân Việt Nam chống đối. Vì thế họ gửi đại diện là ông Santeny đế gặp cụ Hồ Chính Minh đề bàn về vấn đè này.

Thấy rằng , NẾU không ký một thỏa hiệp với Pháp để cho Pháp kéo quân ra Bắc, THÌ Pháp vẫn cho kéo quân ra Bắc. NẾU như vậy,  chính quyền ta sẽ ở vào thế bị lưỡng đầu thọ địch, bị cả quân Pháp và Quốc Quân Trung Hoa cùng đánh phá.  Chi bằng, tốt hơn hết là nên ký với Pháp một thỏa hiệp về vấn đề này. Hơn nữa, ký một thỏa hiệp như vậy với Pháp thì quả là một diệu kế, một giải pháp vô cùng tốt đẹp và hết sức hữu hiệu. Nó chính là một kế sách “nhât thạch tam tứ điểu”, cùng một lúc tống xuất được 180 ngàn quân thổ phỉ quốc quân Trung Hoa, vừa giải quyết được hai thế lực nội thù là Việt Quốc và Việt Cách vì rằng khi các binh đoàn Quốc Quân Trung Hoa rút về Tàu rôi, thìi hai chính đảng này tự nó phải rã ngũ tan hàng.

=================

- Thứ nhất là cuộc điều đinh để Ký Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946. Vào thời điểm cưối tháng 2 năm 1946, Pháp cũng đã thăm dò và chuẩn bị thương thuyết với chính phủ Việt Nam để tìm cách tránh khỏi bị chính quyền và nhân dân ta chống đối khi chúng tiến quân ra Bắc. Trong khi đó, chính quyền Việt Nam lại cũng nhìn thấy việc Pháp thương thuyết với chính quyền Tưởng Giới Thạch để thay thế gần 200 ngàn quân Tầu ở phía Bắc vĩ tuyến 16 là một cơ hội bằng vàng để giải thoát luôn cả hai hiểm họa quân Tầu cùng với hai cục bướu Việt Nam Quốc Dân Đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Cách). Vì thế, Cụ Hồ Chí Minh đã lanh tay chụp lây cơ hội này.

lễ ký kết hiệp ước sơ bộ

Hội Nghị thứ 2 là Hội Nghĩ Đà Lạt được tổ chức vào cuối  cuối tháng 5 năm 1946. Hội nghị này tan vỡ ngay sau khi vừa mới nhóm họp vì thái độ trịch thượng của Cao Ủy Đông Dương d’ Argenlieue.

Hội Nghị Trừ Bị Đà Lạt.- Hội nghị Đà Lạt được tổ chức tại Đà Lạt và khởi nhóm vào ngày 18/4/1946. Vì do Cao Ủy Đông Dương (linh mục) d’Argenlieu đề nghị và được tổ chức ở Đà Lạt, một địa điểm nằm trong vùng Pháp kiểm soát, cho nên d’ Argenlieu đóng vai chủ nhà và phải đài thọ tất cả các phí khoản về chỗ ăn và chỗ ở cho phái đoàn Việt Nam.

Theo đúng như d’ Argenlieu đề nghị, phái đoàn Việt Nam gồm có 12 đại biểu và một trưởng phái đoàn. Trong phái đoàn này, không có người của Việt Cách vì rằng Cụ Nguyễn Hải Thần (vị lãnh đạo của Việt Cách) bất mãn với Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 và đã bỏ chạy sang Trung Hoa ngay sau đó. Có thể Cụ đã tiên liệu rằng, sau khi quân Tầu rút về Tầu, thì cả Việt Quốc và Việt Cách đều sẽ bị thảm bại vì các ông lãnh đạo và cán bộ các cấp của hai chính đảng này đều bất tài, không có tinh thần dấn thân, đặc biệt là đã làm mất lòng dân do sự đi theo và dựa thế quân Tầu tàn tặc tác oai tác quái với nhân dân trong thời gian quân Tầu có mặt ở Việt Nam từ trung tuần tháng 9 cho đến lúc bấy giờ.

Phái đoàn Pháp cũng gồm có 13 đại biểu. Cả hai phái đoàn cùng họp phiên họp đầu tiên vào ngày 18/4/1946 tại hội trường Trường Trung Học Yersin dưới quyền chủ tọa của ông Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Nguyễn Tường Tam.

Rắc rối nhất vẫn là vấn đề chính trị, trong đó có vấn đề Nam Bộ đối với Việt Nam, rồi đến vấn đề Việt Nam đối với Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp cũng như vấn đề đình chiến ngay lập tức (ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ). Về vấn đề Nam Bộ, đối với Việt Nam, Nam Bộ phải nằm trong nước Việt Nam, trong khi Pháp lại chủ trương Nam Bộ là một xứ riêng biệt nằm trong Liên Bang Đông Dương giống như các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Cao Mên và Ai Lao.

Về vấn đề Việt Nam và Liên Bang Đông Dương, đối với Việt Nam, Việt Nam chỉ gia nhập Liên Bang Đông Đương về phương diện kinh tế, còn về phương diện chính trị, Việt Nam phải là nước độc lập, không dính dáng gì đến Liên Bang Đông Dương, nếu có gia nhập, thì cũng phải có điều kiện, đặc biệt là lúc đó lại chưa có một văn bản pháp lý nào nói về tổ chức Liên Bang Đông Dương cũng như tổ chức Liên Hiệp Pháp. Trái lại, đối với Pháp, Việt Nam phải nằm trong Liên Bang Đông Dương dưới quyền cai trị của vị toàn quyền Đông Dương.

Về vấn đề ngưng chiến lập tức ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, Việt Nam cương quyết đòi Pháp phải đình chỉ mọi cuộc hành quân đánh chiếm những nơi mà Pháp chưa chiếm đóng, trong khi Pháp tiếp tục xua quân tấn chiếm hết nơi này đến nơi nọ để mở rộng vùng kiểm soát.

Riêng về vấn đề Nam Bộ, trong khi Hội Nghị đang tiến hành thì Pháp vẫn tiếp tục xúi giục bọn Việt gian tay sai xúc tiến thành lập nước Nam Kỳ.

Thứ 3 là  Hội Nghị Fontainbleau ở Pháp vào ngày 14/9/1946. Bế tắc trong Hội Nghi Fontainebleau: Như đã nói ở trên, lập trường của Phái Đoàn Việt Nam là nếu phải gia nhập Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp thì (1) phải là tự nguyện, (2) chủ quyền độc lập của đất nước phải được bảo đảm không bị vi phạm,.và (3) lãnh thổ của đất nước phải toàn vẹn, nghĩa là không thể chấp nhận được việc Pháp đã tách rời Nam Kỳ và vùng Cao Nguyên Nam Trung Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam để thành lập Nước Nam Kỳ và Nước Tây Kỳ. Cũng vì thế mà ngay phiên họp đầu tiên vào ngày 6/7/1946, sau lời chào mừng của ông Max André, ông Phạm Văn Đồng, Trưởng Phái Đoàn Việt Nam, liền đứng lên chỉ trích gay gắt những hành động “vô liêm sỉ” của Pháp trong việc cho ra đời “Nước Nam Kỳ” và “Nước Tây Kỳ” cũng như việc chiếm đóng phủ toàn quyền ở Ha Nội cùng việc tiến chiếm Pleiku và Kontum.

Tuy bị chỉ trích gay gắt, phái đoàn Pháp được lệnh vẫn phải tiếp tục ngồi lại bàn hội nghị cầm chân phái đoàn Việt Nam với mục đích mua thời gian để tăng cường khả năng quân sự ở Đông Duơng chuẩn bị cho việc tấn công tiêu diệt chính quyền và quân đội Kháng Chiến Việt Nam theo sách lược tốc chiến tốc thắng của bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Đông Dương.

Như vậy là cả hai bên đều cùng muốn kéo dài thời gian ở bàn hội nghị với cùng một mục đích mua thời gian để chuẩn bị tăng cường lực lượng để tiêu diệt lẫn nhau. Thế nhưng, cung cách hành xử của Pháp đã để lộ cho Việt Nam nhìn thấy rõ là ý muốn này. Trong khi đó, Việt Nam lại tỏ ra thẳng thừng và bất cần, cho nên ngay từ phiên họp đầu tiên, ông Trưởng Phái Đoàn Việt Nam là ông Phạm Văn Đồng mới chỉ trích gay gắt những hành động “vô liêm sỉ” của Pháp trong việc cho ra đời “Nước Nam Kỳ”, “Nước Tây Kỳ” cũng như việc chiếm đóng phủ toàn quyền ở Hà Nội và việc tiến chiếm Pleiku và Kontum mà không tỏ ra một chút e ngại hành động như vậy sẽ làm cho hội nghị tan vỡ.

Ngay từ phiên họp đầu tiên của hội nghị, dù rằng ông Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng dùng những lời nặng nề để lên án và chỉ trích chính sách chia để trị và lấn tới của Pháp ở Đông Dương, Phái Đoàn Pháp cũng vẫn phải tỉnh bơ, cố gắng giữ cho hội nghị kéo dài cho đến khi họ đã tăng cường xong khả năng quân sự như đã dự trù. Tới khi đó, thì họ mới để cho hội nghị tan vỡ theo như ý muốn của họ. Chính vì vậy mà Hội Nghị Fontainebleau mới ngắc ngư kéo dài cho đến trưa ngày 10/9/1946 mới tan vỡ thực sự:

“Ngày 9-10 (tháng 9/1946) hai phái đoàn thâu hẹp lại nhóm họp, bàn cãi suốt đêm rồi đến sáng mồng 10 đống ý về một bản “đường lối sống chung” (un modus vivendi), hẹn đến trưa sẽ ký (đề nghị số 4). Nhưng đến trưa (mồng 10) thì Phạm Văn Đồng tuyên bố không đồng ý nữa. Chắc là đã có bàn với Hồ Chí Minh. Đòi phải sửa lại vài đoạn, và nhất là phải ấn định rõ rệt ngày tháng và thể thức cuộc trung cầu dân ý. Max André tỏ vẻ ngạc nhiên và đề nghị bế mạc. Thế là hội nghị thâu hẹp cũng tan vỡ.” [43] Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nam Á, 2002), tr 2113.

Nội dung bản Tạm Ước 14/9/1946: Tạm Ước 14/6/1946 còn được gọi là modus vivendi 14/9/1946, chuyển sang Việt ngữ là Đường Lối Sống Chung hay Đường Lối Cộng Tồn. Cụ Hoàng Cơ Thụy kể lại việc Cụ Hồ Chí Minh đến tận nhà riêng của ông Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Moutet để ký bản thỏa hiệp này như sau:

“Ngày 14/9 Moutet đưa đến cho Hồ Chí Minh một bản “dự thảo cuối cùng” do Pignon được lệnh soạn ra (đề nghị số 5 của Pháp) để sẽ nghiên cứu ngay hôm ấy (ce jour) “giữa Thủ Tướng Chính Phủ - tức Bidault – và Chủ Tịch Hồ Chí Minh (entre le chef du gouvernement et le Président Hồ Chí Minh). Suốt ngày 14, Hồ Chí Minh chưa trả lời. Rồi đến 12 giờ đêm, một ông già mảnh khảnh, mặc áo kiểu nhà binh, đi bộ từ Khách Sạn Royal Monceau (Avenue Hoche) đến một biệt thự gần đó mang số 19 Boulevard de Courcelles là nhà riêng của Moutet, ông này còn thức chờ.

Thứ 4 là cuộc điều đình về vấn đề Pháp Chiếm Sở Quan Thuế Hải Phòng. Cuộc điều đình này diễn ra từ ngày 20/11/1946 đến ngày 19/12/1946. Trong cuộc điều đình cũng tan vỡ vì thái đô trịch thượng và hành động  và gây hấn về phía Pháp. Vấn đê này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Chương 46, sách Lịch Sử và Hồ Sớ Tội Ác của Giáo Hội La Mã, tựa đề là: Liên Quân Pháp – Vatican Gây Hấn Ở Bắc Bộ Và Chiến Tranh Bùng Nổ Trên Toàn Quốc (https://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH46.php)

Thứ 5 là Hội Nghi Genève 1954. Tại Hội Nghi này Pháp ở vào thế yếu vị bị thảm bại tại Điên Biên Phủ cho nên mới chịu thương thuyết nghiêm chỉnh công nhận chủ quyền độc Lập của Việt Nam và rút quân về nước. Nhưng  hội nghị này lại áp lực của của Anh, Hoa Kỳ (dù không tham dự hội nhưng vẫn có ảnh hưởng rất mạnh ở ngoài hành lang, muốn Việt Nam chia đôi và sẽ cùng Vatican thay thế Pháp ở miền Nam Việt Nam), Liên Sô muốn hòa hoãn với Hoa Kỳ vì lúc đó Hoa Kỳ đã có bom khinh khí (H Bombs) và Liên Số chỉ mới có bom Nguyên tử (atomic bombs); trong khi đó thì Trung Cộng có dã tâm muốn Việt Nam ở thế yếu và làm trái độn giữa Trung Cộng và Mỹ. Vì kẹt như vậy, ên chính phủ Kháng Chiến đành phải nín thờ qua song để mua thời gian để chuẩn bị thời cơ.

Tóm lại, đó là những cuộc điều đình đầy cam go và chiến tranh cân não mà các nhà lãnh tụ miền Bắc phải đương đầu. Khi ông Phạm Cao Dương nói câu "Về sau này điều đình giữa Pháp và Hồ Chí Minh chẳng hạn, thì cũng là có sự tương nhượng về quyền lợi. Vậy thì, nếu như vậy, thì cái cuộc chiến tranh với Pháp sẽ không xảy ra" thì ông đã không có một chút cao kiến nào, mà là một câu nói hết sức vô nghĩa.

C.7.- Rồi sau này chiến tranh chống Mỹ nữa, tất cả đều có thể tránh được hết.

Ông Phạm Cao Dương nới rằng, chiến tranh chông Mỹ , tất cả đều có thể tránh được hết”, thú thật tôi không hiểu TẠI SAO ông Dương lại nói như vậy khi mà  ông Ngô Đình Diệm chỉ biết cúi đầu tuân lênh quan thày của ông từ chối, nhất định không hiệp thương với Miền Bắc để cùng ngồi vào bàn hội nghị thảo luận luận chuẩn bị tổ chức tổng tuyên cử vào tháng 7 năm 1956 để thống nhất đất nước Ấy thế mà ông Phạm Cao Dương lại nói rằng, “chiến tranh chống Mỹ có thể  tránhđược”. Nói như vậy có nghĩa là ông Phạm Cao Dương nói rằng,  cứ để cho Mỹ dùng sức mạnh quân sự để hỗ trợ và bảo vệ  chính quyền Ngô Đình Diệm (tay sai của Mỹ và Vatican) cưỡng chiếm miền  Nam Viêt Nam rồi biến thành một quốc gia riêng biệt, đem dâng cho đế quốc  Vatican  (được ngụy tạo là dâng cho Đức Mẹ Vô Nhiễm) mà họ đã làm vào tháng 2 năm 1959.[ Xin đọc các trang 125-126, sách Thập Giá và Lưỡi Gươm (TP Hồ Chí Minh: NXB Trẻ) của Linh-mục Trần Tam Tỉnh.] Rồi họ dùng bạo lực của nhà nước để tiến hành Kế Hoạch Ki-tô Hoa  toàn thể người dân miền Nam  theo chỉ tiêu mà ông Ngô Dình Nhu đã công khai tuyên bố:

“Tôi có cả một chương trình đã bàn kỹ với Đức Giám Mục sẽ lần hồi tiến chố mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết.” Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr. 428.

Tôi cảm thấy vố cùng ngạc nhiên khi thấy rằng một trí thức có học vị đại học về ngành  sử học, đã từng giảng dạy môn lịch sử tại các trường trung học  và đại học ở miền Nam hơn 10 năm trời mà ông Phạm Cao Dương lại  không ý thức được cái tầm quan trọng của đại cuộc chiến đấu giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc cũng như  cuộc chiến đấ đòi lại miền Nam cho tổ quốc. Không những thế, ông ta lại còn mở miệng phóng ra những lời nói bội bạc vô ơn đối với các thế hệ tiền nhân đã nối tiếp nhau trong các cuộc chiến  dựng nước,  mở nước, giữ nuớc và đặc biệt những người con dân thân thương của tổ quốc đã  ngã gục nơi chiến trường  để đem lại chiến công  hiển hách Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 và ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

Riêng về tầm quan trọng và giá trị của công cuộc thống nhất đất nước (NẾU chẳng may đất nước rơi vào tình trạng qua phân) đã được tôi trình đầy đủ và khá rõ ràng trong bài viết có nhan đề là “Giá Trị Và Tầm Quan Trọng Của Ngày Thống Nhất Đất Nước 30/4/1975” (https://sachhiem.net/NMQ/NMQ53_304.php).  

Rõ ràng là vì tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân ở miền Nam trong những năm 1954-1975 do Giáo Hội La Mã chủ trương như tôi đã trình bày trong kỳ nói chuyện lần trước, cho nên ông Giáo-sư TS sử học Phạm Cao Dương mới có những suy tư, thái độ, phát ngôn và viết lách phóng ra những lời  nói bội bạc vong ơn đối với các tiền nhân ta như vậy! 

Ông TS Phạm Cao Dương lại không biết gi đến tấm gương của nhà ái quốc  Nguyễn Thái Học khi bước lên đoạn  đầu đài mà vân ung dung tự tại lớn tiếng nói với nhà cầm quyền Bảo Hộ Pháp - Vatican biết rằng người Việt Nam chúng tao có truyền thống sống theo nếp sống văn hóa “Tổ quốc trên hêt” và sẵn sàng chết cho tổ quốc.

Thất vọng vì không thể thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử, vô kế khả thi, chính quyền của cụ Hồ bắt buộc phải phát động chiến tranh giải phóng miền Nam để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thống nhất đất nước. Cuộc chiến này của nhân dân  ta dù là phải trải qua thiên lao vạn khổ, nhưng nhờ vào tài lãnh đạo của chính quyền Hà Nội cùng với lòng yêu nước và kiên trì chiến đấu toàn dân miền Bắc cũng như miền Nam mà cuộc chiến có kéo dài tới gần 20 năm, khiến cho chính quyền và nhân dân  Mỹ  thức tỉnh nhìn ra sai lầm đã can thiệp vào  nội tình Việt Nam. Vì thế mà họ mới tìm cách thương thuyết với chính quyền Hà Nôi tại Hội Nghị Paris kéo dài  từ năm 1968 đến ngày 27/1/1973.

Thỏa hiệp này có hai điều khoản chính yếu: (1) Hoa Kỳ sẽ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam để cho người Việt Nam giải quyết những vấn đề Việt Nam, và (2) hai bên trao trả tù binh hiện còn đang giam giữ (hiểu ngầm là Bắc Việt phải trao trả hết tù binh Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ). Có làm được như vậy, thì chính quyền Hoa Kỳ mới không bị nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới chống đối. Nếu không làm được như vậy, thì chính đảng cầm quyền ở Hoa Kỳ sẽ thất bại lớn trong kỳ bầu cử kế tiếp.

Thực chất của chính quyền và quân đội miền Nam trong những năm 1954-1975 ra sao thì sự kiện sau đây sẽ trả lời rõ ràng.

Thực tế là sau khi Mỹ Việt Nam hóa chiến tranh năm 1973, Mỹ chỉ rút quân đội về nước, nhưng vẫn còn tiếp tục viện trợ vũ khí và kinh viện để trả lương cho chính quyền và quân đội cho đến ngày chót. Nhưng Chính quyền và quân đội miền Nam đã bắt đầu “mất tinh thần” từ sau hội nghị này; cuối cùng rã ngũ tan hàng. Trong thời gian này, chính quyền và quân đội miền Nam đã bắt đầu ở vào tình trạng “Tướng đầu cuốn gói ba quân ngỡ ngàng”. Vì thế, chúng ta không thể bỏ qua khoảng thời gian từ ngày 27/1/1973 cho đến ngày 30/4/1975.

C.8.- Nhưng mà vì cái nhu cầu của họ không phải là đem lại độc lập cho đất nước VN, nhu cầu của họ là Xã Hội Chủ Nghĩa. Họ làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để thiết lập chế độ Cộng Sản lên đất nước Việt Nam.

- Các cụ ái quốc thế hệ tiền bối cả trăm năm trước đã dùng đủ phương cách và nhiều con đường khác nhau: - Phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, CM Nguyễn Thái Học, sau cùng mới Đảng Cộng Sản.

- Cụ Hồ cầu cứu cả Mỹ,... Sau cùng, bác chọn con đường duy nhất còn lại thời điểm đó để đi đến thành công.

Để trả lời cho ông Phạm Cao Dương tôi xin ghi lại đoạn văn này của ông Hoàng Văn Đào nói về về thế nước lòng dân vào thời điểm những năm 1945-1946 dưới đây:

“Sau 80 năm bị lệ thuộc, dân tộc Việt Nam chỉ thèm khát độc lập, và không biết gì đến khuynh hướng chính trị của phe này với nhóm khác. Người dân Việt Nam nghĩ rằng: miễn là nước được độc lập, còn đảng phái nào lãnh đạo cuộc tranh đấu giành độc lập hay cầm chính quyền cũng vậy, cốt là “Nước Việt Nam của người Việt Nam!” Một yếu tố khác nữa, ngót hai triệu đồng bào chết đói vừa qua, là chết để đem linh hồn thức tỉnh ý chí những kẻ còn sống cũng phải phục thù rửa hận cho toàn dân. Đó là hoàn cảnh tạo nên cuộc cách mạng âm ỷ trong đầu óc mọi người dân Việt, khác nào như một kho thuốc nổ, chỉ còn đợi người nào hoặc đoàn thể nào châm ngòi lửa là nổ bùng. Lò thuốc súng đã có người châm, ngòi đã nổ, quần chúng ùa chạy theo Việt Minh Cộng Sản…”Hoàng Văn Ðào, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Saigon: TXB, 1970), tr 255-256.

Các nhà ái quốc thế hệ tiền bối cả trăm năm trước  từ các cụ Trương Công Đình, Nguyễn Trung Trực, Thủ  Khoa Huân, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Tôn, Pha Liêm, Mai Xuân Thưởng, Phan FĐình Phùng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Trịnh Vưn Cấn, Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Thái Học với Việt Nam Quốc Dân Đảng của thời 1927 đều đã dùng đủ mọi phương cách và nhiều con đường khác nhau để cứu nứơcu, những tất cả chỉ thành nhân, chứ cũng không thành công. Ngay cả đến cụ Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đời vào tù ra khám, bôn ba khắp năm châu bốn bể, đã cùng với các nhà ái quốc như cụ Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Trường và Phan Văn Trường viết thư cầu cứu đến Hoa Kỳ mấy lần. Lần đầu là Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson vào năm 1919 khi ông này đến dự Hộii Nghi Paris bàn về việc đối xử với các nước thuộc phe bại trận Đức, Áo và Thổ Nhĩ Kỳ. Rồi mùa thu năm 1945, sau khi cách Mạng Tháng 8, 1945 và công bố Bản Tuyên Ngôn Độc Lập 2/9/1945, Cụ Hồ cũng đã mấy lần viết thư gửi Tổng Thống Hoa Kỳ Truman để thỉnh cầu Hoa Kỳ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Nhưng tất cả đều không được Tổng Thống Hoa Kỳ ngó tới.

Với tình trạng như vậy, xin hỏi ông Phạm Cao Dương còn có cách nào khác hơn để tiến hành cuộc chiên đánh đuổi Liên Minh Xâm Lượcng Pháp –Vatican để bào toàn nền độc lập của dân tộc vừa mới giành lại từ trong tay quân Nhật xâm lăng, NẾU không liên minh với Liên Sô và Trung Quốc lúc bấy giờ?

KẾT LUẬN:

Khi tuyên bố câu “Biến Cố 19/8/1945 và Bản Tuyên Ngôn Độc Lập 2/9/1945 Của  Hồ Chí Minh là không cần thiết cho dân tộc”, ông lúng túng đưa ra những khái niệm: một chính phủ nào khác - những người có thế - điều đình - tương nhượng - để tránh chiến tranh. Chúng tôi đã phân tích từng cụm từ trên trong những giờ qua, và đã chứng minh rằng ông Phạm Cao Dương đã không dựa trên bất cứ một hoàn cảnh lịch sử hay một lý thuyết chính trị nào để lập luận.

Chúng tôi xin khẳng định rằng lời tuyên bố trên đây của ông Phạm Cao Dương đã tự phơi bày ra:

1.-/ Tâm địa phản dân tộc và phản quốc,

2.-/ Thái độ vong ơn bội nghĩa đối với các thế hệ tiên nhân từ cuối thập niên 1850 cho đến ngày 30/4/1975. Các thế hệ tiền nhân ta trong thời gian này đã liên tục liều thân và hy sinh tất cả để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc cũng như đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, và đòi lại miền Nam Việt Nam đem lại thống nhất cho đất nước.

3.-/ Tình trạng rất yếu kém về kiến thức tổng quát và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Có thể nói rằng một em bé ở bậc tiểu học cũng có thể hiểu rằng khi vua Tự Đức phải chấp nhận tất cả những điều khoản do Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đưa ra thì nhà Nguyễn không còn có tư cách hay chính nghĩa để ngồi lại ngôi vị lãnh đạo nhân dân. Và cũng từ năm 1862 cho đến cuối thập niên 1920, có rất nhiều phong trào nhân dân tự phát nổi lên chống giặc xâm lăng và chống cả triều đình nhà Nguyễn như các lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền lãnh đạo các nhà ái quốc. Ai cũng biết rằng bất kỳ lực lượng nghĩa quân kháng chiến nào có thành quả đã đánh đuổi quân cướp ngoại thù đòi lại chủ quyền cho dân tộc, thì đương nhiên sẽ lập một chính quyền mới theo chủ đích của họ; chứ không ai lại đem cái công lao của mình đã tạo được lại dâng cho cái triều đại bất tài bất lực và đã phản lại đất nước và dân tộc cả gần 100 năm rồi.

4.-/ Nói như ông Phạm Cao Dương là nêu gương xấu cho các thế hệ trẻ trở thành những hạng người nô lệ, vong bản, phản quốc, đúng như chủ trương của Giáo Hội La Mã đã theo đuổi ở Việt Nam từ hậu bán thế kỷ 16 cho đến nay.

Người viết sử không nên đặt mình trong một phe phái, dù không tuyên bố như thế. Nhưng chúng tôi hy vọng lịch sử để lại cho hậu thế những gì công bằng nhất đối với tiền nhân. Còn những gì trái lẽ, phản bội, vô ơn, sẽ mau chóng bị người đời vất bỏ không thương tiếc.

Đó là những gì chúng tôi muốn nói về đoạn video phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Xuân Nam với GS Phạm Cao Dương. Chúng tôi cũng đọc sơ lược quyển sách trong chủ đề, "Trước Khi Bảo Lụt Tràn Tới - Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam" và có rất nhiều điều cần nói. Xin hẹn với quí vị trong những lần tới sẽ bàn sau.

Với mục đich đối thoại công bằng, chúng tôi tha thiết mong GS Phạm Cao Dương lên tiếng để rộng đường dư luận.

________________________________________

Sau đây là phần nói chuyện đăng trên youtube.com:

https://www.youtube.com/watch?v=i9n4mK9tJLo&t=2s

Nguyễn Mạnh Quang