Xung Quanh Vài Chuyện Thời Sự:
Về Lời Kêu Gọi Của Ông Tướng Nguyễn Duy Hinh

  ●   Bản rời

Xung Quanh Vài Chuyện Thời Sự

Về Lời Kêu Gọi Của Ông Tướng Nguyễn Duy Hinh

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts073.php

11-Dec-2013

Mới đây tôi nhận được từ một người bạn cùng khóa bài “Lời Kêu Gọi Của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh”. 

Gồm các mục:

- I. Chúng ta hãy đọc “Lời Kêu Gọi…” của Nguyễn Duy Hinh (NDH):
- II. Về Phản Biện Nguyễn Duy Hinh Của Nguyễn Đạt Thịnh.
- III. Về Thư Ngỏ Gửi Nguyễn Duy Hinh Của Bác Sĩ NTC
- IV. Sang đến chuyện khác ở ngoài nước.
- V. Về Trí Tuệ Chống Cộng.
- VI. Về Huỳnh Thục Vy
- VII. Nhân Quyền Tây Phương Và Nhân Quyền Việt Nam
- Phụ Lục: 2 Bài Đọc Thêm.

Nguyễn Duy Hinh tốt nghiệp cùng Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định với tôi, và nếu tôi nhớ không lầm thì Nguyễn Duy Hinh tốt nghiệp Thủ Khoa.  Sau khi ra trường, mỗi người một ngả, tôi chưa từng gặp lại và không biết anh Hinh đã ở trong những đơn vị nào.  Nay nhân có bài “Lời Kêu Gọi…”, tìm hiểu thêm trên Internet tôi mới biết là năm 1975, anh mang cấp bậc Thiếu Tướng, chỉ huy Sư Đoàn 3. 

Tôi thường không mấy quan tâm đến những phát ngôn của các tướng tá khi xưa ở hải ngoại, chỉ đặc biệt viết chút ít về ông Nguyễn Cao Kỳ.  Nay có bài của ông Thủ Khoa cùng Khóa nên cũng đọc cho biết. 

Thực ra, trong thâm tâm của tôi, tôi nghĩ quý vị tướng tá đã bỏ chạy ra nước ngoài thì trong cuộc đời còn lại, nếu có khả năng thì nên hoạt động trong các lãnh vực khác, còn về những chuyện chính trị chống Cộng thì nên giữ yên lặng, vì có nói gì đi chăng nữa cũng rất khó nói, nếu trong đầu còn đôi chút suy nghĩ.  Nhất là lại nói ra những điều mà chúng ta chưa nghiên cứu kỹ, hay không hiểu rõ, phần lớn thuộc cảm tính cá nhân chứ không dựa trên sự thật. Sự kiện là, chúng ta đã thua cuộc.  Một trang sử đã lật qua, một thế hệ đã trôi qua, lớp già tuổi tôi và anh Hinh, cứ lần lượt rủ nhau dần dần ra đi, tôi nghĩ hãy để cho những thế hệ sau lo việc nước trong khung cảnh của một quốc gia độc lập và thống nhất.

Đọc bài của Nguyễn Duy Hinh tôi cảm thấy hơi ngượng vì không thể tưởng tượng được là nguyên thủ khoa Khóa Nam Định lại có thể viết lên một bài “Lời Kêu Gọi…” như vậy.  Tại sao tôi lại viết như vậy? 

I. Chúng ta hãy đọc “Lời Kêu Gọi…” của Nguyễn Duy Hinh (NDH):

NDH: Ít ngày gần đây đã có nhiều nhân vật thức thời lên tiếng than phiền và giải thích về sự việc một số không nhỏ đồng bào chúng ta đưa tiền về Việt Nam nuôi sống và vỗ béo bọn Cộng sản tàn phá quê hương. 

TCN: ►   Trước hết, ai là những nhân vật thức thời?  Trong thời đại ngày nay, viết những bài phổ biến trên diễn đàn truyền thông thì phải viết cho rõ ràng, không thể viết vu vơ mà người đọc không thể hiểu tác giả viết về ai hay viết những điều không cần dẫn chứng.  Nếu đúng là nhân vật thức thời thì không bao giờ lên tiếng than phiền và giải thích một cách lãng xẹt như vậy.  Vì đưa tiền về Việt Nam là quyền tự do của các cá nhân trong một nước tự do và không vi phạm luật pháp.  Không ai có chút ý thức  về quyền công dân trong một xã hội như xã hội Mỹ mà lại than phiền về quyền tự do của người khác, bất kể dựa trên căn bản nào.  Đó là sự hiểu biết sơ đẳng về quyền tự do trong vòng pháp luật, nhất là đối với những người đang tranh đấu cho quyền tự do, hay quyền làm người (sic) v…v… ở Việt Nam, nhưng nhiều khi lại tranh đấu cho quyền hành động phi pháp ở trong nước thí dụ như vụ Nguyễn Văn Lý ở trong tòa, vụ thắp nến cầu nguyện với búa, kìm và xà beng ở tòa khâm sứ, hay vụ giáo dân làm loạn ở Mỹ Yên (Xin xem video về vụ này trên KBCHN.net). 

Thứ đến, NDH viết: một số không nhỏ đồng bào chúng ta đưa tiền về Việt Nam nuôi sống và vỗ béo bọn Cộng sản tàn phá quê hương là viết bậy, có tính cách cưỡng đặt quan niệm hoang tưởng theo cảm tính cá nhân của mình trên người khác.  Mỗi người có một động cơ khác nhau để đưa tiền về Việt Nam, nhưng tôi nghĩ không ai lại đưa về để vỗ béo bọn Cộng sản tàn phá quê hương (sic).  Muốn biết bọn Cộng sản tàn phá quê hương như thế nào thì hãy về Việt Nam mà quan sát.  Hãy nhìn số xe hơi, số xe gắn máy, cảnh kẹt xe thường xuyên ở các thành phố lớn, đếm xem có bao nhiêu cầu mới, xa lộ mới v…v… và nhìn xem người dân ngày nay sống như thế nào so với thời Việt Nam Cộng Hòa. 


Một đường đầy xe auto ở Hà Nội


Một cảnh trên đường phố Huế


Đường phố Sài gòn

(SH - Tất cả các hình ảnh trên được chụp khoảng sau năm 2009)

Hãy nhìn xem có bao nhiêu hãng du lịch mở ra, không chỉ phục vụ du khách ngoại quốc mà còn phục vụ người dân trong nước, càng ngày càng đi du lịch nhiều.  Tại sao một số người trong chế độ cũ ở miền Nam lại có khả năng cho con, cháu đi học ngoại quốc.  Tại sao người dân thường có thể đi du lịch ngoại quốc.  Tại sao hàng năm vẫn có mấy trăm ngàn người về thăm quê hương  v…v… Tôi đọc trên KBCHN.net có người viết một câu khá chí lý: "Đừng nghe những gì người Việt chống Cộng nói mà hãy nhìn những gì Cộng sản VN làm".  Còn nói đến chuyện đích thực là tàn phá quê hương thì hãy tìm hiểu xem Mỹ đã thả bao nhiêu tấn bom trên đất nước nhỏ bé Việt Nam, trải bao nhiêu lít chất độc da cam trên miền Nam, giết mọi thứ di động, vùng oanh kích tự do, chiến dịch Phụng hoàng tàn sát dân lành cho là Việt Cộng, mấy chục Mỹ Lai v…v…  Có hận Cộng sản vì bại trận, mất đi quyền cao chức trọng cá nhân của mình, thì hận, nhưng không nên viết bậy.

NDH: Trong quá khứ, hàng ngũ quốc gia chúng ta đã không biết tự chỉnh, tự lo để đến nỗi mất nước. Quê hương tan nát, bỏ tất cả để lo chạy trốn, chịu bao tang thương, mất mát. Ngày nay một số đồng bào chúng ta lại đang tự hại bằng cách chuyển tiền về, vô tình giúp bọn côn đồ CSVN thêm nữa.  Với những số tiền này, 8 tỉ, 10 tỉ Mỹ kim mỗi năm, bọn cán bộ cao cấp của chúng đã tậu mua nhiều tài sản to lớn ngay tại Hoa Kỳ này và nhiều nơi trên thế giới. Nguy hiểm hơn nữa, chúng có thêm phương tiện tăng cường bộ máy đàn áp dân ta. 

TCN: ►     Một ông tướng mà ngày nay vẫn lại đưa ra những luận điệu chống Cộng ấu trĩ, mê sảng, rẻ tiền như trên, hèn nào bại trận là phải. Tôi xin hỏi ông tướng Hinh: ông nói “mất nước”, vậy nước nào của ông vậy?  Miền Nam là một nước?  Hay chỉ là một chế độ do Mỹ dùng cường quyền thắng công lý dựng lên như một chế độ tay sai? 

Tổng thống Kennedy đã hơn một lần nói: Diệm và VNCH là con đẻ của Mỹ (our offspring).  Tổng Thống Johnson cũng nói tương tự: Diệm là thằng nhỏ duy nhất mà chúng ta có được ở ngoài đó (He is the only boy we got out there)  Thượng Nghị Sĩ Fulbright cũng khẳng định: Mỹ là “Mẹ bề trên” (Mother superior) và là người “Cha nghe xưng tội và hướng dẫn” (Father confessor) của Diệm.  Tổng thống Thiệu cũng như Phụ tá Nguyễn Văn Ngân, Đại Tướng Cao Văn Viên, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, đều thú nhận tương tự và “Đó là chiến tranh của Mỹ, chúng tôi chỉ là kẻ đánh thuê” (Nguyễn Cao Kỳ). Đây là những sự kiện lịch sử không thể thay đổi. Vậy nước nào là nước của ông tướng Hinh?



Ông tướng Hinh viết: Với những số tiền này, 8 tỉ, 10 tỉ Mỹ kim mỗi năm (mà người Việt hải ngoại đưa về), bọn cán bộ cao cấp của chúng đã tậu mua nhiều tài sản to lớn ngay tại Hoa Kỳ này và nhiều nơi trên thế giới. Than ôi!  Sự hiểu biết của một ông tướng VNCH chỉ có thế thôi hay sao?  Phải chăng bọn cán bộ cao cấp của CS đã tịch thu toàn bộ những số tiền hải ngoại đưa về để mua các tài sản to lớn.  Nhưng ông tướng Hinh chỉ biết chống Cộng mờ mắt và càng chống càng tỏ ra mình ngu. 

Ông có biết tại sao người Việt hải ngoại đưa tiền về, đưa về như thế nào và để làm gì không?  Đó là vì tình người Việt Nam, điều mà những người chống Cộng cực đoan hay chống Cộng cho Chúa không hề có.  Có nhiều cách đưa tiền về.  Hoặc qua các cơ sở gửi tiền.  Hoặc qua mấy trăm ngàn người về thăm nước mỗi năm.  Hoặc qua các vị chăn chiên xuất ngoại mục vụ xin tiền. v…v… và v…v….  Nhưng người hải ngoại, gồm mọi thành phần, mọi tôn giáo, và vô thần, đưa tiền về để làm gì? Không thể nói hết được vì không biết hết.  Nhưng có nhiều điều biết rất rõ ràng.  Đó là:

  • Giúp thân nhân qua cảnh túng quẫn.
  • Giúp làng xóm xây dựng lại đình miếu.
  • Giúp thân nhân xây lại mồ mả gia đình.
  • Giúp các ông chăn chiên xây nhà thờ hoành tráng.
  • Giúp nạn nhân trong các vụ thiên tai bão lụt.
  • Cấp học bổng cho các học sinh, sinh viên nghèo.
  • Giúp làm những cầu xi măng thay cho các cầu khỉ.
  • Giúp đào giếng để người dân có nước lành.
  • Và nhiều dịch vụ từ thiện khác.
  • Đặc biệt là đưa tiền về để xúi các nhà dân chủ dỏm, ngây thơ, tham tiền, nhập cảng “món hàng xuất cảng làm chết người nhất của Mỹ: Dân Chủ.”.  Người Việt hải ngoại sống an toàn trên các đất nước tự do, luôn luôn xúi dân trong nước làm loạn, đứng lên (Ca-tô Nguyễn Phúc Liên), tưởng rằng người dân trong nước không biết thực chất họ là những ai và nhắm mắt nghe lời xúi dại từ ngoại quốc.  Ngày nay người dân trong nước còn hiểu biết hơn là đám người chống Cộng ở hải ngoại đấy.

Đó là những mục đích đưa tiền về Việt Nam, điều mà ông tướng Hinh cho rằng những người đưa tiền về là tự hại mình. 

Nói rằng CS phải nhờ vào tiền đưa về của người Việt hải ngoại để có thể sống còn là chuyện hoang đường.  Sau chiến tranh cả nước đều kiệt quệ.  Mỹ thua trận, mất mặt với thế giới, nên bội ước không bồi thường chiến tranh và trả thù Việt Nam bằng cuộc cấm vận trong 19 năm.  Mục đích là để đánh gục Việt Nam bằng kinh tế thay vì không thể đánh gục bằng quân sự.  Nhưng cho tới cuối thập niên 1980, Việt Nam đã từ từ tự vực giậy, đâu đã có tiền của người Việt hải ngoại gửi về. 

Sau bao nhiêu năm, người Việt hải ngoại nhận ra rằng cuộc chiến ở Việt Nam thật là phi lý, và tình người đã thay thế cho thù hận.  Do đó người Việt hải ngoại bắt đầu đưa tiền về.  Ảnh hưởng của tình người này rất to lớn nhưng rất ít người có tầm nhìn xa để nhận ra chân giá trị.

Thứ nhất đó là truyền thống dân tộc: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước hãy thương nhau cùng”.  Thứ nhì, khi người dân có tiền thì mức tiêu thụ sẽ lên.  Mức tiêu thụ lên thì kinh tế lên.  Kinh tế lên thì người dân có thêm công ăn việc làm.  Người dân có công ăn việc làm, có đời sống tương đối thoải mái thì dần dần giới càng ngày càng có nhiều người trung lưu.  Giới trung lưu càng ngày càng nhiều thì vì chính quyền lợi của họ họ sẽ nghĩ đến việc cải cách xã hội, cải cách giáo dục, sử dụng sức mạnh tinh thần của tôn giáo dân tộc, và dần dần mở mang dân trí để đi đến dân chủ.  Đây là con đường để đi đến dân chủ qua kinh nghiệm quốc tế, và Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng đã nói như vậy. Trong cuốn “The Clash of Civilizations” Giáo sư  Huntington nhận định:

“Nếu dân chủ có tới thêm với các quốc gia ở Á Châu, đó là vì các giới tiểu tư sản và trung lưu càng ngày càng mạnh trong các quốc gia đó muốn như vậy.” (If democracy comes to additional Asian countries it will come because the increasingly strong Asian bourgeoisies and middle classes want it to come). 

Ông tướng Hinh cũng không biết là các cán bộ cao cấp CS lấy tiền ở đâu để mua tậu nhà cửa ở trong nước và ở ngước ngoài, cho nên hoang tưởng cho là do tiền của người Việt hải ngoại đưa về.  Trong khi bàn dân thiên hạ đều biết đó là tiền từ những nguồn tham nhũng do những dịch vụ qui hoạch quốc gia như xây cất, làm đường, xa lộ, cầu cống, và các công ty liên doanh v…v…, phần lớn là từ các chương trình viện trợ của ngước ngoài. 

Chống Cộng kiểu ông tướng Hinh chỉ làm cho người trong nước cười cho sự thiếu hiểu biết của mình.  Cũng vì vậy, mà bao nhiêu tổ chức chống Cộng kiểu tương tự như ông tướng Hinh, với những khẳng định chắc nịch như: CS đang dãy chết, trên đà sụp đổ, Việt Nam nay là thuộc địa của Tàu, CS phải dâng biển cắt đất cho Tàu  v…v…, mà trong mấy chục năm nay mấy người chống Cộng cực đoan và ngu ngơ như trên vẫn dậm chân tại chỗ, khí thế càng ngày càng teo, trong khi CS vẫn càng ngày càng gia tăng vị thế trong cộng đồng quốc tế.

Với sự hiểu biết quá ấu trĩ như vậy nên ông tướng Hinh đề nghị 2 không: đề nghị cùng đồng bào và các Quí Vị nhân sĩ, trí thức quốc dân một thử thách ngắn hạn:tạm thời thử thách hai tháng tự chế, tự giác không du lịch, không gửi tiền về VN từ 20 tháng chạp 2013 tới 20 tháng hai 2014 (tức là từ khoảng Giáng sinh 2013 tới sau Tết Nhâm ngọ 2014).”. 

Ông tướng mơ ngủ, cho rằng như vậy thì CS sẽ dẹp tiệm, mà thực ra có còn đâu là CS nữa để mà dẹp tiệm.  Tôi đã từng nói “Chỉ những kẻ ngu mới chống Cộng khi không còn Cộng”. 

Thực tế là CSVN đã biến chất từ 1986, 3 năm trước khi các quốc gia CS bắt đầu thay đổi năm 1989.  Ông tướng không biết rằng cả mấy tháng trước đây, hỏi mấy hãng người Việt bán vé máy bay, vé máy bay về Việt Nam trong dịp Đông Chí và Tết đã không còn chỗ với giá khứ hồi từ Chicago là $1800.00, nếu chịu trả giá đắt hơn thì may ra còn kiếm được chỗ.  Lời kêu gọi không gửi tiền về Việt Nam, không du lịch Việt Nam đã có từ nhiều năm nay, nhưng cứ như là nói trong sa mạc, có ai thèm nghe đâu. Tôi mới xem mẩu video trên KBCHN.net về Phố Bolsa TV phỏng vấn nhà báo Nguyễn Phương Hùng.  Ông Hùng nói, mấy chục năm qua, 4 “không” của người Việt hải ngoại chống Cộng trên thực tế lại trở thành 4 “có”, nghĩa là người Việt hải ngoại chẳng coi những lời kêu gọi 4 không ra gì, vẫn gửi tiền về, vẫn du lịch Việt Nam, vẫn giao lưu với Việt Nam, vẫn làm ăn với Việt Nam.  Ông Nguyễn Phương Hùng nhận định là trong 38 năm qua, đường lối chống Cộng của người Việt hải ngoại sai, càng chống thì vị thế của VN càng lên cao trong cộng đồng quốc tế. 

Tại sao?  Vì quốc tế đâu có ngu mà tin theo những lời bịa đặt tiêu cực để chống Cộng của một số người lưu vong vô tên tuổi mà trình độ hiểu biết là một dấu hỏi lớn.  Quốc tế, nhất là Mỹ, biết rõ hơn ai hết tình hình ở Việt Nam, nhưng một mặt Mỹ và vài chính khách Âu Châu vẫn lợi dụng mấy tay sai ngu xuẩn để chống phá, phục vụ cho những mục đích thầm kín của họ.  Ông Nguyễn Phương Hùng đề nghị người Việt hải ngoại phải suy nghĩ lại đường lối chống Cộng.  Nhưng tôi nghĩ ông Hùng đánh giá hơi cao những người chống Cộng, vì họ làm gì có đầu óc đâu để mà suy nghĩ lại. Vài video biểu tình trên KBCHN.net mà tôi sẽ giới thiệu trong một phần sau sẽ chứng tỏ như vậy. 

Nhưng nhân sĩ, trí thức nào sẽ nghe theo lời kêu gọi của ông tướng ?  Đọc danh sách “Việt Cộng nằm vùng” (sic) mới nhất, tôi đếm được tất cả là 357 vị:  Pháp 63, Mỹ 147, Úc 49, Canada 28, Bắc Âu 3, Thụy Sĩ 17, Đức 20, Anh 5, Nhật 8 và Đông Âu 17, trong đó toàn là Tiến sĩ, Giáo sư đại học, Bác sĩ, Kỹ sư, Chuyên gia v…v… và có cả những người đã qua đời như Charlie Nguyễn, HT Mãn Giác, Nguyễn Cao Kỳ v…v…  Không kể tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại thuộc những lớp người thầm lặng, trong đó cũng không thiếu gì trí thức, còn lại những nhân sĩ, trí thức vô tên tuổi “không nằm vùng”, tự cho là thiên tài chống Cộng, nghe theo lời kêu gọi của ông tướng Hinh thì họ là những ai, có người nào có tên tuổi được nhiều người biết đến như Cao Huy Thuần, Trịnh Xuân Thuận v…v… 

Ông tướng Hinh cũng nên tự hỏi là mình có uy tín trong cộng đồng như thế nào để cho các nhân sĩ, trí thức nghe theo lời kêu gọi của mình.  Đọc trên Internet thấy vài bài phê bình ông tướng Hinh từ mấy năm trước của Nguyễn Đạt Thịnh, Song Kiếm, và một ông bác sĩ NTC nào đó, tôi thấy ông tướng không đủ uy tín ngay trong quân đội huống chi là đối với các nhân sĩ, trí thức.  Nhưng chính Nguyễn Đạt Thịnh, Song Kiếm và ông Bác sĩ  ký tên tắt NTC cũng đều thuộc loại chống Cộng cực đoan một cách mê sảng. 

Tôi không có thì giờ đi vào mấy bài này, chỉ trích dẫn vài câu thuộc tư tưởng vĩ đại của mấy vị trên và đưa ra vài nhận định ngắn..

II. Về Phản Biện Nguyễn Duy Hinh Của Nguyễn Đạt Thịnh.

Nguyễn Đạt Thịnh viết:

Tôi không đồng ý với nhận xét của thiếu tướng Hinh cho là 34 năm nay cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ đáng được ví với một anh võ sĩ thượng đài, không đem lại một trận thắng nào, hoặc vô dụng như một chú thợ săn 34 lần 365 ngày vác súng vào rừng, rồi trở về tay không.

Theo Nguyễn Đạt Thịnh thì chúng ta đã có nhiều trận thắng lớn, làm cho Việt Cộng điêu đứng, nói tóm lại là chúng ta đã chống Cộng thành công, đại thành công như sau:

Có thật 34 năm nay chúng ta không làm gì được Việt Cộng không ? Tôi nghĩ người Việt hải ngoại đã làm nhiều lắm, nhiều đến mức Việt Cộng điêu đứng đấy chứ; tôi nghĩ Nguyễn Minh Triết thèm muốn một cuộc đón tiếp khác hơn là cảnh những rừng cờ vàng dàn chào khắp nơi hắn tới; chính truyền thông Hoa Kỳ và thế giới cũng ca ngợi tinh thần bất khuất của người Việt hải ngoại sau 30 năm mất nước.
    Nhưng tướng Hinh lại không thấy điều này, dù “điều này” là một trận thắng đo ván chứ không chỉ thắng điểm. Trận thắng thứ nhì diễn ra trên võ đài Houston, khi Nguyễn Tấn Dũng đến đây khoe với đồng bào Việt Nam là hắn sẽ mở một tòa tổng lãnh sự để “giúp đỡ khúc ruột ngàn dậm” dễ dàng đem tiền về nước đầu tư, nhưng cuối cùng đã phải nhờ cảnh sát địa phương vận dụng 50 kỵ binh cỡi ngựa, 50 kỵ binh cỡi mô tô, ngăn cản 10,000 người Việt Nam biểu tình đuổi hắn gô hôm.
   Trận thắng thứ ba là suốt nhiều năm dài bang giao với Hoa Kỳ, ông đại sứ Việt Cộng vẫn hoàn đại sứ Việt Cộng không dám léo hánh đến một khu chợ Việt Nam nào cả, không dám nhân danh đại sứ Việt Nam tham dự bất cứ một ngày quốc lễ Việt Nam nào cả.
    Cấm cửa bọn lãnh tụ Việt Cộng không cho chúng chường mặt trong mọi sinh hoạt hải ngoại của người Việt Nam chưa phải là một thành tích đáng hãnh diện ư ?

Theo Nguyễn Đạt Thịnh thì đó là những trận thắng lớn mà người Việt hải ngoại nên hãnh diện.  Nhưng đối với tôi thì đó là những hành động côn đồ, vô cương vô pháp rất đáng xấu hổ, và làm nhục lây đến cộng đồng người Việt hải ngoại.  Nguyễn Đạt Thịnh hãnh diện khoe rằng “Houston “phải nhờ cảnh sát địa phương vận dụng 50 kỵ binh cỡi ngựa, 50 kỵ binh cỡi mô tô, ngăn cản 10,000 người Việt Nam biểu tình …”  Điều này nói lên bạo lực rất có thể xẩy ra của đám người biểu tình VN đối với một vị khách của nước Mỹ.  Nếu đám người biểu tình, đây là quyền của họ, chỉ biểu tình trong ôn hòa, thì chính quyền Houston không phải vận dụng những phương tiện như trên để đề phòng ngăn cản bạo động như vậy. 

Nhưng kinh nghiệm cho biết không thể tin được thái độ ôn hòa của đám người Việt biểu tình nên chính quyền Houston mới phải vận dụng một lực lượng cảnh sát như vậy dù rất tốn công quỹ.  Tôi nghĩ Nguyễn Đạt Thịnh nên cảm thấy xấu hổ trước sự kiện chính quyền Houston phải tốn công quỹ để đối phó với đám biểu tình người Việt, thay vì khoe khoang đó là một trận thắng dứt điểm, đối với một cá nhân, chứ không phải là đối với CS.  Thành tích chống Cộng của mấy người chỉ có vậy, thật là tội nghiệp.  CS và người dân Mỹ, kể cả dân Mỹ gốc Việt, không khỏi coi thường và khinh khi những hành động thiếu văn minh của đám người biểu tình.

Tại sao Nguyễn Đạt Thịnh lại viết lên những điều quá ấu trĩ, tự bôi tro lên mặt mình như vậy?  Vì Nguyễn Đạt Thịnh không đủ trình độ để biết rằng, mỗi người xứ ngoài được  nhập cảnh vào Mỹ hợp pháp và nếu không có hành động nào phi pháp thì người đó đương nhiên được coi là khách của nước Mỹ. Điều này cũng đúng cho tất cả các nước. Trên sổ thông hành của mỗi nước đều có câu yêu cầu những nhà chức trách và người dân nước sở tại dễ dàng cho qua, giúp đỡ và bảo vệ nếu cần.  Đây là tiêu chuẩn giao lưu văn minh giữa các nước.

Trên sổ thông hành của Mỹ có câu:

Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ nay yêu cầu người có liên hệ, cho phép công dân/kiều dân Mỹ có tên trong đây qua mà không bị ngăn trở hay chậm trễ và trong trường hợp cần xin hãy cung cấp mọi sự giúp đỡ và bảo vệ hợp pháp.
(The Secretary of State of the United States of America hereby requests whom it may concern to permit the citizen/national of the United States named herein to pass without delay or hindrance and in case of need  to give all lawful aid and protection.)

Xấu hổ hơn nữa là nhiều tướng tá quốc gia về lại Việt Nam đều không bị làm khó dễ, không có ai biểu tình chống đối.  Chúng ta đã thua về quân sự, nay qua những việc làm càn rỡ có tính cách côn đồ của một số người, chúng ta lại thua về đạo lý làm người và hiểu biết.  Có thể có một số người cho rằng với chiêu bài chống Cộng họ có thể làm bất cứ điều gì mà không cần nghĩ đến cộng đồng. Nhưng đây là những hành động băng đảng thiếu văn minh và có tính cách khủng bố, chẳng có gì đáng khoe khoang và hãnh diện.

III. Về Thư Ngỏ Gửi Nguyễn Duy Hinh Của Bác Sĩ NTC

Bài Thư Ngỏ Gửi Thiếu Tướng NGUYỄN DUY HINH của ông Bác sĩ NTC 100% Ca-tô không có gì đặc biệt, vì cũng thuộc loại cuồng tín chống Cộng cho Chúa, nhất là nhận xét sai lầm về “lý do miền Nam mất về tay CS” (sic).  Ông bác sĩ viết:
Miền Nam VN mất về tay CS là do bởi nhiều lý do, trong đó lý do quốc tế là quan trọng nhất. Bàn tay Mỹ, Nga, Tàu đã thò vào quấy nát VN.

Lý do quan trọng nhất không phải là “bàn tay Mỹ, Nga, Tàu đã thò vào quấy nát VN” như ông bác sĩ viết, mà lý do chính là Mỹ đã phản bội chính những lời Mỹ tuyên bố về Hiệp Định Geneva:

“Mỹ sẽ tự kiềm chế không đe dọa hoặc dùng võ lực để phá những thỏa hiệp trong Hiệp Định Geneva…
Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh”. 
    (Government of the United States will refrain from the threat or the use of force to disturb them…

In the case of nations now divided against their will, we shall by I Want This">continueto seek to achieve unity through free elections supervised by the United Nations to insure that they are conducted fairly.)

   Và Mỹ đã dựng lên chế độ tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam, không thi hành khoản Tổng Tuyển Cử trong Hiệp Định Geneva, và khi bỏ Diệm xong thì trắng trợn xâm lăng Việt Nam.  Nên nhớ, miền Nam là một phần đất của Việt Nam, không phải là một quốc gia của Mỹ hay của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu.  Nếu Mỹ không xâm lăng Việt Nam thì Nga, Tàu không cần phải viện trợ vũ khí cho Bắc Việt để chống lại cuộc xâm lăng của Mỹ, dù với hậu ý là CS chống Tư Bản. 

Tiếp theo, ông bác sĩ viết:

Bây giờ chúng ta đừng ca tụng CSVN tài giỏi, siêu việt và can trường hơn chúng ta. Họ cũng là người VN như chúng ta mà thôi. Không thể nhìn vào cái hầm VC đào rộng lớn có thể chứa mấy chục cái xe tăng mà vội trợn mắt thán phục “chúng nó tài giỏi quá”. Sai lầm. Thiếu tướng có trả lời được tại sao cái nhà thờ Phát Diệm, với kỹ thuật của người Việt chúng ta thời đó còn thô sơ, mọi sự đều làm bằng tay, lấy sức người mà làm, trong khi thời nay cái gì cũng phải có máy móc mới làm nổi. Ấy thế mà nhà thờ Phát Diệm đã xây nên bằng những tảng đá khối to lớn vô cùng. Sao Thiếu tướng không ca tụng đi. Mà lại nhát chí, tự kỷ ám thị cho bọn CS là tài ba hơn ta ???

Ông bác sĩ ca tụng kỹ thuật xây nhà thờ Phát Diệm của cụ Sáu Trần Lục thì cũng chẳng khác gì ca tụng LM Trần Lục là vĩ nhân của cả thế giới.  Nhà thờ Phát Diệm chỉ đặc biệt là có cái cổng tam quan và vài cái mái cong là khác với những nhà thờ khác, có vẻ Việt nam một chút, nhưng lại có cây thập ác trên nóc nên có vẻ lạc lõng đối với những kiến trúc cổ truyền Việt Nam và đối với các tôn giáo dân tộc. 

Tại sao tôi lại gọi đó là cây thập ác, không phải là thánh giá?  Vì đó là một hình cụ rất dã man của La Mã khi xưa dùng để hành hình những tội phạm xã hội như trộm, cướp v…v… và cây thập giá Dê-su bị đóng đinh trên đó không phải là cây thập giá duy nhất và cũng không có gì đặc biệt hơn những cây thập giá đã từng dùng để hành hình cả ngàn người.  Mặt khác, đọc lịch sử Ki Tô Giáo thì chúng ta biết rằng Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca-tô Rô-ma giáo, đã nhân danh cây thập ác đó và nhân danh Dê-su để phạm những tội ác dã man nhất đối với nhân loại như phát minh ra những dụng cụ tra tấn hành hình, và thiêu sống người.  Đây là sự kiện lịch sử không thể chối cãi. 

Điều đáng nói là ông tướng Nguyễn Duy Hinh đang nói về các đường hầm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và ông bác sĩ lại mang nhà thờ Phát Diệm ra để so sánh với các đường hầm, muốn ông tướng Hinh phải ca tụng kỹ thuật kiến trúc nhà thờ Phát Diệm vượt trội kỹ thuật kiến trúc đường hầm.  Người Ca-tô cứ có dịp là ca tụng những thứ của mình, chẳng cần biết ca tụng lạc lõng như vậy thì có ảnh hưởng gì, ngoài tự chứng tỏ là mình thiếu đầu óc. 

Thật vậy, nói đến nhà thờ Phát Diệm thì lại nhớ đến chuyện Linh mục Trần Lục đã mang 5000 giáo dân đi giúp thực dân Pháp để hạ chiến khu kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng.  Hơn nữa ông bác sĩ lại còn đặt vấn đề: “Sao Thiếu tướng không ca tụng (nhà thờ Phát Diệm) đi”.  Đặt câu hỏi này, ông bác sĩ đã tự chứng tỏ là người cuồng tín, không thuộc lãnh vực thảo luận hay đối thoại trí thức. 

Thứ nhất, không ai có bổn phận phải ca tụng “nhà thờ Phát Diệm”, vì so với các kiến trúc vĩ đại nhất trên thế giới, và ngay cả đối với các nhà thờ hay thánh đường ở Tây phương thì nhà thờ Phát Diệm chẳng là cái gì. (SH - Vả lại, kiến trúc của nhà thờ Phát Diệm là một công trình cướp đoạt. Xin xem bài "Bí Mật Nhà Thờ Phát Diệm" của Nguyễn Hồng Hải ở )

Thứ nhì, đặt câu hỏi đó là ông bác sĩ muốn chỉ đạo văn hóa.  Mỗi tác giả viết theo ý nghĩ và chủ đích của họ, người đọc có chấp nhận hay không là quyền tự do của người đọc, nhưng không ai có quyền đặt vấn đề là “sao tác giả không viết về cái này, cái nọ v…v…”.  Cũng như nhiều người không đồng ý với người nào đó, quy chụp họ là thân Cộng, hay làm tay sai của CS v…v.. rồi hỏi tại sao không về sống với Cộng đi, xía vào đời sống cá nhân của người khác.  Thật là ngu hết chỗ nói.

Ông bác sĩ NTC nói đúng: CSVN cũng là người VN như chúng ta mà thôi.  Chỉ khác là họ chấp nhận hi sinh, gian khổ, vì lý tưởng yêu nước chống ngoại xâm.  Còn chúng ta cũng tài giỏi như họ, và còn tài giỏi hơn như lời tự nhận của một số người quốc gia, nhưng chỉ là kẻ đánh thuê cho ngoại bang (Nguyễn Cao Kỳ), chiến đấu chỉ là để tự vệ, không có lý tưởng, tránh né được chừng nào hay chừng ấy như trận Ấp Bắc, và cuối cùng thì tướng  bỏ quân chạy trước, để quân ở lại đi trại cải tạo. 

Ông bác sĩ viết:

Thiếu tướng hẳn phải biết khi ta bắt được tù binh CS lúc chúng tự xích chân chúng vào súng và hốc đá để chiến đấu cho đến chết thì thôi? Chúng can đảm và hy sinh phải không, thưa thiếu tướng? Không phải thế đâu. Chúng sợ chết lắm, sợ chết kinh khủng.

Nghĩa là CS sợ chết, phải tự xích chân vào súng và hốc đá trong các trận Điện Biên Phủ, Ấp Bắc, Khe Sanh, Tết Mậu Thân, và quân ta chỉ việc kiếm chỗ nào chúng tự xích chân đến mà bắt sống.  Nhưng ông bác sĩ viết là chúng làm vậy để chiến đấu cho đến chết thì thôi.  Vậy ông bác sĩ bắt được tù binh nào, tù binh sống hay chết.  Làm sao cái ông này, với đầu óc như vậy, có thể đậu được bằng bác sĩ?

Thôi, hết chuyện ông tướng Nguyễn Duy Hinh, ông phóng viên chiến trường Nguyễn Đạt Thịnh và ông bác sĩ tự xích cây thập ác vào trong đầu. 

IV. Sang đến chuyện ở ngoài nước.

Chuyện ngoài nước về chống Cộng nó cứ dài dài như chuyện nhân dân tự vệ, chẳng làm sao nói hết được.  Muốn biết những người chống Cộng thành công, đại thành công như thế nào, xin mời quý đọc giả thưởng thức những mẩu video trên KBCHN.net về hai chủ đề:

1- “Biểu tình náo loạn phản đối sô “Kỹ nghệ lấy Tây” ở Little Saigon

2- “Phóng sự đặc biệt về hai cuộc biểu tình trên đường Bolsa”. 

Tôi thấy những hành động hung hăng, lời lẽ tục tĩu của người trong đám biểu tình không đáng để cho tôi phê bình.  Xin nhường cho vài nhận xét sau đây của vài đọc giả trên KBCHN.net:

  • Tôi đã từng chứng kiến biểu tình ở Đức, Thai Lan, Indonesia...Nhưng khi xem biểu tình của những người Việt Nam ở hải ngoại qua Phố Bolsa tv tôi không thể tưởng tượng được quý vị 38 năm sống ở một đất nước văn minh mà quá kém về nhận thức văn hóa đến như vậy;  Nói năng hành động của loại côn đồ.
  • Sống ở đâu thì theo pháp luật ở đó, theo pháp luật là đạo đức tối thiểu cần phải có của người công dân. Hành xử của nhóm biểu tình có một số hành vi quá vô văn hóa, cái nhóm này mà về nước dân người ta đập cho rụng hết răng.
  • Bọn chống cộng cực đoan này vô học, biểu tình như những thằng điên.
  • Nhìn thằng khùng cãi nhau với ông người Mỹ thấy nhục quá. Luôn mồm nói yêu đất nước nhưng gân cổ văng tục, nói bậy bạ. Thử ông Mỹ là người VN xem. Hung hăng con chó điên ngay...
  • Một mớ hổ lốn hỗn quân, hỗn quan.  Sau 38 năm thất trận bây giờ mới hoàn hồn. Tụ hợp lại với nhau được. Nhưng đầu óc bọn họ có còn sáng suốt nữa đâu, hành xử với nhau như: Côn đồ, chợ trời, sao mà bát nháo đến thế thì làm nên trò trống gì đây....!!!!!!
  • Đúng là bọn CCCĐ ngu dốt từ trong bản chất.

V. Về Trí Tuệ Chống Cộng.

Cuối cùng là vài chuyện chứng tỏ trí tuệ của người Việt chống Cộng.  Họ đòi gửi kháng thư cho LHQ phản đối việc bầu Việt Nam vào trong Hội Đồng Nhân Quyền.  Họ muốn làm cha LHQ, họ cho rằng 184 quốc gia bầu cho Việt Nam không biết gì về Việt Nam như họ. Họ cho rằng LHQ phải nghe theo một đám người vô tên tuổi, đám người mà LHQ chẳng bao giờ buồn để ý tới.  Họ cũng còn lên tiếng phản đối việc Quốc Hội Việt Nam thông qua chấp thuận bản Hiến Pháp. 

Nhiều nhất là họ có quyền không đồng ý với tư cách cá nhân, nhưng phản đối Liên Hiệp Quốc về chuyện bầu Việt Nam vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ cũng như phản đối việc làm của Quốc Hội Việt Nam là những hành động cực kỳ ngu si vô trí.  Họ lấy tư cách gì và nhân danh cái gì để phản đối?  Xin nhắc lại, ông Nguyễn Phương Hùng đề nghị những người chống Cộng ở hải ngoại hãy suy nghĩ lại về đường lối chống Cộng sai lầm của mình trong 38 năm qua.  Nhưng những đầu óc thuộc loại như vậy thì làm gì có khả năng suy nghĩ.  Tôi tin rằng họ vẫn tiếp tục chống Cộng một cách thiếu hiểu biết như trong 38 năm qua để cho người ngoại cuộc có những dịp cười khinh về sự yếu kém trí tuệ của họ.

Đối với những người chống cộng cực đoan hay chống cộng cho Chúa ở hải ngoại thì bất cứ hành động chống Cộng nào ở trong nước, dù ngu xuẩn đến đâu như của Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Phương Uyên v…v… thì họ cũng ca tụng hết mình, đẩy họ lên tận mây xanh.  Chúng ta hãy đọc một đoạn họ ca tụng một số phụ nữ chống Cộng ở bên nhà:

Người Việt Nam không quên rằng những cuộc khởi nghĩa đầu tiên “chống Trung Quốc xâm lược” đều do phụ nữ lãnh đạo. Hai Bà Trưng ở Mê Linh cầm đầu cuộc dấy binh kéo theo 65 thành cùng nổi dậy chống quân Hán. Hai thế kỷ sau, bà Triệu Thị Trinh ở Cửu Chân được quân và dân suy tôn là Bà Vua, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô. Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những phụ nữ dưới 30 tuổi; riêng Bà Triệu tuổi mới ngoài 20. Các cô Huỳnh Thục Vy, Lê Thị Công Nhân, Trịnh Kim Tiến cũng bắt đầu biết tranh đấu cho quyền làm người vào lớp tuổi đó. Các nữ tướng của Hai Bà Trưng ngày nay còn được dân thờ làm thần trong các làng, thần phả ghi lại sự tích cho biết đa số họ còn trẻ dưới 20 tuổi; trẻ hơn cả cô Nguyễn Phương Uyên.
Cho nên chúng ta có thể tin tưởng vào vai trò đứng đầu sóng ngọn gió của 35 người phụ nữ mới thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ đủ trí sáng suốt, thông minh, và thừa can đảm để lãnh đạo công cuộc tranh đấu cho quyền làm người của dân Việt Nam.

Lại là kiểu ở ngoài  tâng bốc và xúi dại những kẻ ngu ngơ ở trong nước. Lẽ dĩ nhiên, người Việt Nam không ai quên Bà Trưng, Bà Triệu và các nữ tướng dưới quyền các Bà.  Chỉ có điều người Việt Nam chẳng có ai ngu đến độ không phân biệt nổi một đàng thì các Bà hi sinh chống ngoại xâm, và một đàng thì mấy tên dân chủ dỏm hi sinh vì đô-la, vì laptop, vì tiền ngoại gửi về để chống ngay chính quyền quốc gia của mình.

Tôi thấy mấy người chống Cộng ở ngoại quốc, kể cả một số được gọi là trí thức, đều mắc chung một chứng bệnh: bệnh mờ mắt.  Vì chống Cộng mờ mắt khi không còn Cộng nên mất cả lý trí, nhìn mọi thứ trong nước rất tiêu cực, luôn luôn tìm cách dẫn giải những điều tích cực trong nước thành tiêu cực và bao giờ cũng là “lỗi CS mọi đàng”.   “Đệ thất đại ngu” của Hoàng Thị Nhật Lệ phê bình các nhà dân chủ cuội nói lên sách lược chống Cộng trên: “Ỉa chảy hay táo bón đều là tại Đảng và Nhà Nước" đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước...” [Xin đọc bài “Dân Chủ Thập Đại Ngu” của Hoàng Thị Nhật Lệ trong phần Phụ Lục.]

Về chữ nghĩa thì, “làm người dân Việt Nam” không phải là một quyền, đó là sự tiếp nối tự nhiên của giòng giống Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.  Nhân quyền” không phải là “quyền làm người” mà là “quyền của con người” quy định bởi Hiến Pháp.  Nói rằng tranh đấu cho “quyền làm người của dân Việt Nam” chẳng lẽ bây giờ dân Việt Nam không phải là người.  Thật là khó tưởng tượng được chống Cộng đến độ mạ lỵ cả một dân tộc.  Cụm từ “quyền làm người” là cụm từ mà Võ Văn Ái dùng một cách hết sức ngu xuẩn trước đây. Có chống Cộng thì cứ chống chẳng có ai ngăn cản.  Nhưng chống một cách ngu quá thì ai mà chịu được.  Ca tụng Lê Thị Công Nhân nhưng “thánh nữ” mới bị một bà già vác cán chổi đuổi vụt [Xin xem video trên KBCHN.net.]  Ca tụng Nguyễn Phương Uyên, 19 tuổi, nhưng chưa thấy ai ngu như ả, chỉ vì đô-la và cái laptop mà mang cờ vàng dán ở nơi không nên dán, và đi đến nơi không nên đến, mộ Ngô Đình Diệm, người mà chắc chắn cô bé không biết là ai, không biết rằng ông ta thuộc một gia đình tam đại Việt gian, là một tội đồ của dân tộc, bị dân miền Nam oán ghét nên đưa đến cuộc đảo chính ngày 1.11.1963 với kết quả là chết thảm.   Chẳng trách nhà nước bảo, tôi nghĩ như vầy, thôi tha cho nó vì nó ngu quá, cho nó ra ngoài để đời dạy nó, cỡ nó thì chẳng làm nên trò trống gì, nó nghèo, để cho nó kiếm ít tiền ngoại..

Những người chống đối ở trong nước cũng ngu không kém.  Ngu như thế nào?  Hãy đọc luận điệu càn rỡ của Nguyễn Quang A: “Quốc hội khóa XIII đã tự chứng tỏ không đại diện cho nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc; hiến pháp này không thật sự là hiến pháp của nhân dân và người dân có thể sử dụng quyền bất tuân dân sự của mình”. 

Ơ hay nhỉ?  Thế những thành viên trong Quốc hội do dân bầu hay tự bầu?  Quốc hội do dân bầu lên không đại diện cho dân thì đại diện cho ai? Người dân bầu Quốc Hội là đã trao quyền Quốc Hội đại diện cho dân rồi.  Nhiệm vụ của Quốc Hội là gì.  Quốc hội làm Hiến Pháp hay trên 90 triệu dân họp nhau lại làm Hiến Pháp?  Hung hăng con bọ xít chống đối vô lối kiểu “Tôi không đồng ý nên Quốc Hội đó, Hiến Pháp đó không có giá trị và tôi có quyền bất tuân dân sự” thì chỉ chứng tỏ là sự hiểu bết của mình còn quá ấu trĩ về trách nhiệm xã hội và ý thức về dân chủ. 

Tổng thống Obama đắc cử, dân Cộng Hòa ghét cay ghét đắng, nhưng không một ai dám mở miệng ra nói tôi không bầu cho Obama nên Obama không đại diện cho người dân Mỹ.  Không chấp nhận Hiến Pháp này chỉ có ba cách:  một là chờ đến kỳ bầu cử tới, bầu cho những người khác.  Cho đến khi đó thì bổn phận công dân là phải tuân theo Hiến Pháp, vi phạm thì nằm đếm lịch.  Hai là vận động để Quốc Hội sửa Hiến Pháp vì Quốc Hội có quyền như vậy.  Và ba là nếu có hậu thuẫn của đa số dân chúng và nghe lời hô “xung phong” của Nguyễn Phúc Liên et al.. ở hải ngoại, không sợ chết, lẽ dĩ nhiên những người hô “xung phong” ở nước ngoài không có chết, đứng lên làm cách mạng lật đổ chính quyền, giải tán Quốc Hội và lập lên một Quốc Hội khác theo cách thức dân chủ của những người không hiểu dân chủ là gì.  Đọc bài “Dân Chủ Thập Đại Ngu” của Hoàng Thị Nhật Lệ thì về “đệ bát đại ngu” tác giả viết: “Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu trả lời đâu có 1 vài câu hay dài dằng dặc thì chung quy cũng là "giống như..nước ngoài ấy"???” 

Dân chủ cần có trình độ hiểu biết và ý thức được trách nhiệm xã hội.  Đối với các nhà dân chủ hiện nay ở trong nước, không đáng nói đến các nhà dân chủ ở ngoài nước, thì họ chưa đủ trình độ để hưởng dân chủ, chưa đủ trình độ để có đa nguyên đa đảng.

VI. Về Huỳnh Thục Vy

Nghe nói có tổ chức Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam mới thành lập, tôi tò mò vào Internet tìm hiểu về tổ chức này.  Được biết, ngày 25.11.2013, tổ  chức Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam được thành lập, với sự tham gia của 34 hay 35 phụ nữ Việt Nam, và Huỳnh Thục Vy là một trong 9 sáng lập viên/vận động viên của Tổ chức.  Và rồi đọc Việt Thức phỏng vấn Huỳnh Thục Vy nên biết đại khái về tổ chức này như sau:

Việt Thức:  Xin cô cho biết vắn tắt về Tôn Chỉ của tổ chức Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam?,  những ưu tiên khẩn thiết trong giai đoạn khai mở?,  và những dự phóng quan trọng, khả thi trong tương lai?

Huỳnh Thục VyTôn chỉ của Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam là phi lợi nhuận, phi chính trị (sic), độc lập và chỉ làm việc liên quan đến Nhân quyền. Nhân quyền là điểm khởi đầu mà cũng sẽ là sợi chỉ xuyên suốt, kết nối tất cả các hoạt động của chúng tôi.

Những ưu tiên khẩn thiết trong giai đoạn khai mở này là kết nạp thêm thành viên, cả quốc nội lẫn hải ngoại. Tôi hy vọng rằng Việt Thức sẽ giúp chúng tôi truyền đạt nguyện vọng này của Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam nhắm vào các phụ nữ hải ngoại quan tâm đến vấn đề nhân quyền trong nước. Chúng tôi tha thiết kêu gọi sự giúp đỡ về ngoại giao cũng như tài chính của đồng bào hải ngoại và sự tham gia làm thành viên của các chị em phụ nữ ở hải ngoại.

Mạng xã hội và internet đã kết nối mọi người Việt yêu nước lại với nhau, nhiều nhóm đã ra đời trên mạng ảo. Hoạt động giới thiệu của chúng tôi cũng nhờ thế giới ảo này mà được quảng bá. Thế nhưng, chị em chúng tôi vẫn chú trọng vào những hành động trong thế giới thật. Trong tương lai chúng tôi sẽ tổ chức nhiều buổi thảo luận offline để phổ biến kiến thức Nhân quyền cho chị em phụ nữ, tổ chức các buổi dã ngoại Nhân quyền hoặc đi phân phát các tài liệu và tin tức về Nhân quyền cho những phụ nữ chưa có điều kiện tiếp cận, chúng tôi cũng gây quỹ để hỗ trợ cho mẹ, vợ, con cái của những tù nhân lương tâm, đi viếng thăm các trường hợp phụ nữ vị sách nhiễu đàn áp nói chung…Và chúng tôi nghĩ rằng, nếu có được sự ủng hộ tài chính rộng rãi, đặc biệt từ đồng bào hải ngoại, để có một ngân quỹ vừa đủ, chúng tôi sẽ thực hiện thành công các hoạt động này.

Việt Thức: Với tư cách một người đấu tranh đòi dân chủ và sáng lập viên Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam, Cô nghĩ sao về hiện tượng (sic) Việt Nam, ngày 12 tháng 11 năm 2013, được “thắng cử” vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc giữa lúc những tai tiếng về vi phạm nhân quyền của Hà Nội vẫn tiếp tục leo thang?.   Đó là việc đáng mừng, hay đáng lo ngại? 

Huỳnh Thục Vy:

Việt Nam được vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là một sự sỉ nhục cho một định chế có mục tiêu bảo vệ nhân quyền. Ủy ban Nhân quyền LHQ từng thất bại và bị mất niềm tin vì đã bầu cho Lybia dưới thời Gaddafi làm chủ tịch Ủy ban Nhân quyền LHQ vào năm 2003. Đây là hai sự kiện tiêu biểu mà tôi xem là một cú vỗ mặt đối với những người đang dấn thân và bị đàn áp vì nỗ lực bảo vệ Nhân quyền của họ. Nhưng là một người hoạt động, với sự lạc quan bắt buộc phải có, tôi tạm tin rằng Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ tự do không thể lập ra một thiết chế mới, thay thế cho một thiết chế cũ đã thất bại, rồi lại dẫm lên vết xe đổ của Ủy ban Nhân quyền.

Hoa Kỳ, trong giai đoạn này, phải chứng tỏ cho thế giới biết họ là người đàn anh về Quyền lực mềm trong nỗ lực thực sự về Nhân quyền trên thế giới. Nếu không có quyền lực mềm là các giá trị tự do dân chủ nhân quyền làm nền tảng, sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị chưa đủ để Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới.

Điều thắc mắc trước hết của tôi là Tổ Chức Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam được thiết lập ra có theo đúng những thủ tục quy định trong luật pháp quốc gia không.  Mọi tổ chức trong một quốc gia, có lợi nhuận hay phi lợi nhuận bao giờ cũng nằm trong sự kiểm soát của sở thuế.  Nếu được công nhận là một tổ chức phi lợi nhuận thì mọi thu nhập của tổ chức được miễn thuế.  Nhưng dù được hưởng chế độ miễn thuế, hàng năm tổ chức vẫn phải khai mức thu nhập, các nguồn thu nhập tài sản hay tài chánh và chi tiêu ra sao, có phù hợp với chế độ phi lợi nhuận được hưởng không.  Tôi chỉ thắc mắc vậy thôi chứ tin rằng tổ chức Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết quy định lập hội của chính quyền và không vi phạm.

Những ý kiến của Huỳnh Thục Vy chỉ là những luận điệu mà chúng ta đã nghe quá nhiều, nhất là ở hải ngoại.  Nhưng Huỳnh Thục Vy đã sỉ nhục 184 quốc gia đã bầu cho Việt Nam vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.  Phát ngôn bậy bạ như vậy chứng tỏ Huỳnh Thục Vy chưa trưởng thành, nếu không muốn nói là dốt về chính trị.

Huỳnh Thục Vy nói:  Hoa Kỳ, trong giai đoạn này, phải chứng tỏ cho thế giới biết họ là người đàn anh về Quyền lực mềm trong nỗ lực thực sự về Nhân quyền trên thế giới.

Phát ngôn như trên chứng tỏ Huỳnh Thục Vy không biết gì về nước Mỹ.  Nếu Huỳnh Thục Vy muốn cầu cạnh một “bu” thì nên tìm một “bu” khác thay vì Mỹ.  Tại sao ?  Vì Mỹ có một hồ sơ nhân quyền khủng khiếp nhất thế giới.  Vài sự kiện lịch sử về nhân quyền của Mỹ cho chúng ta thấy rõ vấn đề.

Năm 1986, Mỹ là quốc gia duy nhất đã bị Tòa Án Quốc tế (World Court) kết án là khủng bố quốc tế - dùng võ lực bất hợp pháp, cho những mục tiêu chính trị (The Chomsky Reader, p. 84: In 1986, the U.S. was the only country comdemned by the World Court for international terrorism – for “unlawful use of force” for political ends) và Mỹ đã phủ quyết một nghị quyết của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc kêu gọi mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, phải tôn trọng luật lệ quốc tế. 

Tại sao Mỹ không dám công nhận quyền của Tòa Án Quốc Tế Le Hague?  Vì nếu công nhận thì Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên bị đưa ra Tòa Án Quốc tế về những tội ác chiến tranh (war crimes) trong đó có những tội ác ở Việt Nam.  Những người có ý định truy tố tội ác CS lên tòa án Le Hague như tên Liên Thành nên nghĩ kỹ về vấn đề này, vì tội ác chiến tranh của Mỹ trong cuộc chiến và ở Huế trong vụ Tết Mậu Thân so với vụ được gọi là Thảm Sát Tết Mậu Thân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mà theo Gareth Porter, Noam Chomsky và Edward Herman chỉ là những con số thổi phồng của Pike, USIS, và VNCH với mục đích tuyên truyền cho thế giới, có thể nói là gấp cả trăm ngàn lần. [Xin đọc http://vi.wikipedia.org/wiki/Thảm_sát_Tết_Mậu_Thân]

Đầu tháng 5, 2001, Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu hất Mỹ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Tế trong đó Mỹ liên tục là một thành viên từ năm 1948, trong khi Trung Quốc, Việt Nam, Cuba đều được bầu làm thành viên.  Điều này cho thấy, Mỹ chỉ có thể dựa vào ưu thế kinh tế và quân sự  chứ không thể dựa vào chiêu bài “nhân quyền”.  Nếu Mỹ thực sự tôn trọng nhân quyền trên nước Mỹ cũng như trên thế giới thì tại sao Mỹ lại bị loại ra khỏi Ủy Ban Quốc Tế Nhân Quyền?  Nhưng Mỹ là một cường quốc mạnh nhất về quân sự và kinh tế nên Mỹ muốn làm gì cũng được, muốn nói gì cũng được, vì Mỹ biết không có nước nào có khả năng để chống Mỹ.

Về biến cố này, Vince Hyaner đã viết trong bài  “Những Vi Phạm Của Hoa Kỳ” (US Violations) :
“Sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một bất ngờ cần được hoan nghênh.  Trong khi các chính trị gia, ký giả và dân thường hỏi tại sao, câu trả lời ở ngay trước mắt chúng ta: Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền..  Hi vọng rằng sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một dấu hiệu mà các thành viên khác của LHQ sẽ không dung dưỡng cho những hành động không hề thay đổi, đơn phương tấn công nhân quyền của Hoa Kỳ.”
(The ejection of the US from the UN Human Rights Committee is a welcome surprise.  While politicians, journalists and everyday people ask why, the answer is right in front of us: The US has a horrible human rights record…It is hoped that this ejection comes as a sign that the other members of the UN will not tolerate the consistent unilateral assaults on human dignity by the US.)

Liên quan đến Việt Nam thì:

Walter J. Rockler, nguyên công tố viên tòa án xử tội phạm chiến tranh Nuremberg, đã viết như sau về quan niệm nhân quyền của Mỹ:


Walter J. Rockler

"Cái mà chúng ta gọi là quan tâm đến nhân quyền thật là lố bịch. Chúng ta đã thả xuống Việt Nam một số lượng bom gấp đôi số lượng bom mà các quốc gia liên hệ đến cuộc Đệ Nhị Thế Chiến thả lên đầu nhau. Trong cuộc chiến này, chúng ta đã giết hàng trăm ngàn thường dân. Ngay gần đây, chúng ta bảo trợ, huấn luyện và ủng hộ những đoàn quân địa phương của Guatamala, El Salvadore, và Nicaragua Contras ở Trung Mỹ, trong sự tàn sát ít nhất là 200 ngàn người..."
(Our alleged concern with human rights borders on the ludicrous.  We dropped twice as many bombs on Vietnam as all the countries involved in World War II dropped on each other.  We killed hundreds of thousands of civilians in the course of that war.  Very recently, in Central America, we sponsored, trained, and endorsed the local armies - Guatemalan, Salvadoran, and Nicaraguan Contras - in the killing of at least 200000 people.)

Và Robert Scheer cũng viết như sau trên tờ Times:


biên tập viên Robert Scheer

"Chẳng phải là chúng ta có một lịch sử "diệt chủng" hay sao, mới đầu là thổ dân Mỹ, và sau là ở Việt Nam, khi quân đội Hoa Kỳ lùa những dân làng trung thành, hầu hết là Công Giáo, vào sống an toàn trong những Ấp Chiến Lược, trong khi biến những vùng Phật Giáo ở thôn quê Nam Việt Nam thành những vùng tự do thả bom một cách toàn diện?"  
(Don't we have our own history of "ethnic cleansing", first of the Native American population and later in Vietnam, when U.S. troops herded loyal, mostly Catholic villagers into so-called "strategic hammers" for safety while turning the mostly Buddhist countryside of South Vietnam into a saturation bombing zone?)

Và gần đây, với những cuộc xâm chiếm Iraq, Afghanistan v..v…, chúng ta có thể thấy sự thực về quan niệm về dân chủ và nhân quyền của Mỹ như thế nào.  Xin đọc bài: “ Xung Quanh Tác Phẩm : Món Hàng Xuất Cảng Làm Chết Người Nhất Của Mỹ: DÂN CHỦ” (America’s Deadliest Export: Democracy By William Blum, Zed Books, London/New York, 2013), đăng trên sachhiem.net ngày 18.11.2013:   http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts072.php .

Với ý thức chính trị như vậy, và với sự hiểu biết về nước Mỹ như vậy, tôi không hiểu Huỳnh Thục Vy sẽ dẫn tổ chức Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam đi tới đâu.  Nhưng chắc chắn là tổ chức này sẽ có nhiều hội viên ở ngoại quốc, thực hay ảo không biết, tham gia để đáp ứng lời kêu gọi hải ngoại tiếp tay về nhân sự và tài chính, nhất là tài chánh phải rộng rãi, của Huỳnh Thục Vy.

Tôi không biết Huỳnh Thục Vy et al.. đã hiểu được bao nhiêu về vấn đề nhân quyền trên thế giới.  Tiện đây, tôi ôn lại vài điều về nhân quyền, quý vị nào biết rồi xin miễn đọc.

VII. Nhân Quyền Tây Phương Và Nhân Quyền Việt Nam

Tháng 12, 1948, Liên Hiệp Quốc tung ra Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, một tài liệu không rõ ràng, không có tính cách bắt buộc pháp lý (Mary E. Williams, Human Rights, p. 16: declarations are not legally binding; Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p.101: the UN later adopted its vague, non-binding Declaration of Human Rights), nghĩa là các quốc gia không có bổn phận phải thi hành những điều khoản trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền.  Tuy nhiên, Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền trên thường được Tây phương cưỡng dùng làm thước đo vấn đề nhân quyền trên toàn thể thế giới, một chiêu bài thường được sử dụng để đạt được những mục đích chính trị kinh tế của Tây phương chứ không phải vì tự thân nhân quyền.  Ảnh hưởng của các cường quốc Tây phương, dựa trên bản Tuyên Ngôn, sau này đã đưa đến việc thành hình hai Giao Ước về Nhân Quyền trên thế giới: Giao Ước Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền Chính Trị (The International Covenant on Civil and Political Rights), và Giao Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa (The International Covenant on Economic, Social, and Cultural Rights) vào năm 1966.  Trước hết chúng ta hãy xét đến Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Có hai điều rất căn bản mà chúng ta cần biết là:

-   Thứ nhất, khi Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời thì  Mỹ và đồng minh vừa đánh bại Đức Quốc Xã, Nhật Bản và ảnh hưởng của Nga Sô đang bành trướng trên nửa hoàn cầu.  Khi đó Mỹ ở thế mạnh nhất về chính trị, kinh tế, và quân sự.  Anh và Pháp đang lo củng cố hoặc tái lập quyền cai trị ở các thuộc địa.  6 nước trong khối Nga Sô, Saudi Arabia và Nam Phi vắng mặt, không ký bản Tuyên Ngôn. 
-   Thứ nhì, bản Tuyên Ngôn không có giá trị công pháp quốc tế (legally non-binding), vì không có một định nghĩa rõ ràng thế nào là nhân quyền, chỉ đưa ra một số điều khoản mà Liên Hiệp Quốc, dưới sự chi phối của vài cường quốc, cho đó là nhân quyền, do đó, theo nguyên tắc, không nước nào, cơ quan nào có thể dựa vào Bản Tuyên Ngôn để ép buộc bất cứ quốc gia nào phải thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn

Bởi vậy cho nên khi đó Pháp đang công khai mở cuộc tái xâm lược Đông Dương với 80% quân phí do Mỹ đài thọ, hòng tái lập thuộc địa ở Việt, Mên, Lào, một hành động vi phạm trắng trợn mọi nhân quyền của người dân Việt Nam, những quyền ghi trong Bản Tuyên Ngôn, mà không có sự phản đối của Liên Hiệp Quốc.  Và, việc Mỹ đơn phương tạo nên cuộc chiến Quốc Cộng ở Việt Nam, đơn phương xóa bỏ hiệp định Geneva, nuốt lời tuyên bố của chính phủ Mỹ (tuy không ký vào bản Hiệp Định Geneva nhưng sẽ không can thiệp vào quyền tự quyết (self-determination) của các dân tộc), đổ quân và vũ khí vào miền Nam, ném bom tàn phá ruộng nương, nhà thờ, trường học, nhà thương, chùa chiền v..v.. trên toàn đất nước Việt Nam, trải thuốc khai quang Agent Orange v..v.., để lại nhiều di hại cho người dân Việt Nam cho tới tận ngày nay, không đếm xỉa gì tới nhân quyền và lòng khao khát hòa bình của người dân Việt, muốn sống tự do và bình đẳng theo lý trí và lương tri của mình trong cộng đồng quốc tế, cũng không có sự chống đối nào của Liên Hiệp Quốc.

Thực chất Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là như thế nào?  Chúng ta hãy đọc những lời phát biểu sau đây của một số chính khách Mỹ.  “”Ngày Nhân Quyền”,  ngày 10 tháng 12 mỗi năm, bắt nguồn từ Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.  Rất nhiều nguyên tắc của nó nằm trong bản Hiến Pháp của chúng ta cho nên Hoa Kỳ phải rất lấy làm hãnh diện về sự hiện hữu của nó.” (Alexander Uhl, The US and The UN: Partners for Peace, 1962., p. 29); “Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là một sự xác nhận bao quát  về những quyền chính trị và kinh tế căn bản trong Hiến Pháp của chúng ta và căn bản lập pháp của Hoa Kỳ.” (Richard N. Gardner, In pursuit of World Order, 1964, p. 241); “Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền nằm trong truyền thống Hiến Pháp và Bản Nhân Quyền (Bill of Rights) của chúng ta.” (President Richard Nixon, Weekly Compilation of Presidential Documents, 1971, p. 1632); “Mối liên kết giữa Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Bản Nhân Quyền của chúng ta thật là rõ ràng.” (President Gerald Ford, Ibid., 1974, p. 1521). 

Chẳng cần phải thông minh cho lắm chúng ta cũng có thể hiểu, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền chỉ là sản phẩm của Mỹ và Tây phương, thích hợp với nền văn hóa Mỹ và Tây phương, nhưng Charles Malik, một cựu chủ tịch đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, chủ trương đưa ra một huyền thoại về bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền để lừa dối dư luận quốc tế như sau:

“Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, được chấp nhận bởi Đại Hội Đồng ở Paris năm 1948 mà không có một phiếu chống nào, là một trong những tài liệu căn bản của thời đại này...Thông điệp trong đó không thuộc một hệ thống pháp lý riêng biệt nào, một tôn giáo riêng biệt nào, một quan điểm về đời sống riêng biệt nào.  Thông điệp trong đó là kết quả của sự tổ hợp và xét đến quan điểm của mọi hệ thống pháp lý, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa, và mọi quan điểm về đời sống con người. (Charles Malik, Man in the Struggle for Peace, p. 89)”

Không có gì hoang đường và xa sự thực hơn những lời viết trên nếu chúng ta xét đến bản chất các hệ thống pháp lý, tôn giáo, văn hóa khác nhau trên hoàn cầu.  Cũng vì vậy mà Robert W. Lee đã phê bình câu trên như sau:


Minh họa tác phẩm của Frankenstein

“Hãy suy nghĩ về điều trên một lát.  Có cái gì có thể lố bịch và vô nghĩa hơn là toan tính đổ “quan điểm của mọi hệ thống [Cộng Sản và Tư Bản], mọi tôn giáo [Ki Tô Giáo và Hồi Giáo], mọi nền văn hóa [Tây phương và Nam Phi], và mọi quan điểm về đời sống [luân thường và phi luân] vào một cái bình nấu cho chảy, hòa lẫn với nhau để thành một cái gì giống như một chính sách về nhân quyền thích đáng?  Một tiền lệ chúng ta có thể nghĩ tới là toan tính nổi tiếng của Frankenstein khi lắp các phần riêng biệt lại với nhau.  Ông ta đã sáng tạo ra một con quỷ.” (Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p. 101).

Thứ đến, không phải chỉ có mình Thủ Tướng Mã Lai Mahathir Mohamad mới cho rằng Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là sản phẩm của những quốc gia Tây phương và có tính cách xâm lược văn hóa của chính sách đế quốc Tây phương. Thủ Tướng Lý Quang Diệu của Singapore cũng cho rằng “Những bài thuyết giảng về nhân quyền chỉ là những vận dụng của thái độ kiêu căng Tây phương, sẽ không có ảnh hưởng gì đến Bắc Kinh” (Newsweek, Nov. 29, 1993: “Human-rights lectures, says Lee, are exercices in Western arrogance that will not influence Beijing.”); và Thủ Tướng Nhật Hosokawa cũng tuyên bố “Những quan niệm về nhân quyền của Tây Phương không thể áp dụng một cách mù quáng vào Á Châu” (New York Times, May 2, 1994: Japan’s Prime Minister Hosokawa: “Western human rights concepts could not be “blindly applied” to Asia”)

Trong cuộc Hội Nghị Quốc Tế Nhân Quyền ở Vienna năm 1993 mà kết quả một thất bại lớn cho Mỹ và Tây phương, Bilahar Kausikan, một viên chức cao cấp trong bộ ngoại giao Singapore, đã phát biểu:

“Lần đầu tiên từ khi bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền  được chấp nhận vào năm 1948, những quốc gia không hoàn toàn đắm mình trong những truyền thống Do Thái – Ki Tô và qui luật thiên nhiên (của Thần Ki-Tô. TCN) được xếp lên hàng đầu;  tình trạng chưa từng có đó sẽ định nghĩa chính trị thế giới mới về nhân quyền.”  (Newsweek, Ibid.: “For the first time since the Universal Declaration of Human Rights was adopted in 1948, countries not thoroughly steeped in the Judeo-Christian and natural-law traditions are in the first rank: that unprecedented situation will define the new international politics of human rights.).

Điều này có nghĩa là ngày nay, nhiều quốc gia không còn thuộc quyền thống trị của thế giới Tây phương, cho nên những quan niệm về nhân quyền của Tây phương không còn khả năng để áp đặt trên toàn thể thế giới.  Tưởng chúng ta cũng nên biết, hai tháng trước Hội Nghị Vienna, những quốc gia Á Châu đã họp ở Bangkok và chấp thuận một bản tuyên ngôn nhấn mạnh rằng nhân quyền phải được xét đến “trong bối cảnh của những cá biệt quốc gia và địa phương, và những nền tảng lịch sử văn hóa tôn giáo khác nhau” (human rights must be considered in the context of national and regional particularities and various historical religious and cultural backgrounds), và rằng “theo dõi vấn đề nhân quyền là vi phạm chủ quyền quốc gia” (that human rights monitoring violated state sovereignty) và sau cùng “viện trợ kinh tế với điều kiện, dựa trên tiêu chuẩn nhân quyền là đối ngược với quyền phát triển” (and that conditioning economic assistance on human rights performance was contrary to the right of development).

Và tháng 11.2012, các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam,  đã thông qua một Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Các Nước Đông Nam Á [ASEAN Human Rights Declaration] trong đó có những khoản không phù hợp với quan niệm nhân quyền của Mỹ và Tây phương.  Tôi sẽ nói thêm về Bản Tuyên Ngôn này trong một phần sau.

Thật vậy, Đông và Tây có những quan niệm về nhân quyền khác hẳn nhau.  Căn bản quan niệm về nhân quyền của Tây phương xuất phát từ truyền thống tôn giáo Tây phương: quyền của con người là do đấng sáng tạo phú cho (rights are endowed by a Creator).  Vì thế trong các xã hội Tây phương, những quyền cá nhân (đều do con người định ra và cho rằng đó là quyền của đấng sáng tạo ban cho) phải được tôn trọng và không được vi phạm, bất kể bối cảnh xã hội mà cá nhân đang sống trong đó là như thế nào.  Nhưng đây cũng chỉ là lý thuyết.  Các cường quốc Âu Mỹ có thể phần nào, phần nào thôi, tôn trọng nhân quyền trong các nước của họ và theo quan niệm về nhân quyền của họ, nhưng có bao giờ tôn trọng nhân quyền trong các nước nhỏ yếu, đang phát triển đâu.  Lịch sử thế giới đã chứng tỏ như vậy. 

Quan niệm nhân quyền của Á Đông đặt căn bản trên sự kiện là con người không phải là một thực thể riêng biệt, mà có liên hệ tới toàn thể cộng đồng.  Do đó, Á Đông đặt quyền lợi của cộng đồng trên quyền của cá nhân.  Các xã hội Tây phương đặt nặng chủ nghĩa cá nhân và quyền tự do cá nhân (Western societies emphasize individualism and personal freedom), trong khi các nền văn hóa Á Đông đặt giá trị của sự tự kiểm và trật tự xã hội cao hơn quyền của cá nhân. (Asian cultures place a higher value on self-discipline and order.)  Người Tây phương có thể coi tự do ngôn luận là một quyền công dân căn bản, trong khi người Á Đông có thể xét đến ảnh hưởng của sự tự do này, trong một số trường hợp đặc biệt trong bối cảnh xã hội, và coi đó là gây sự hỗn loạn trong xã hội, do đó có phương hại đến sự ổn định xã hội, ngăn cản sự phát triển kinh tế v…v…

Tại sao Á Đông không chấp nhận quan niệm về nhân quyền của Tây phương?  Ngoài những bất đồng về văn hóa, xã hội, nhân sinh v..v.. giữa những nền văn minh khác nhau, Á Đông còn coi sách lược lưỡng chuẩn (double standard) về nhân quyền của Tây phương như là một sự áp đặt để đạt những mục đích kinh tế, tôn giáo.  Tây phương, với bản chất đế quốc, chưa bao giờ tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. 

Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, đã viết:

“Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương” (James Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331:  U.S. foreign policy is in fact based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business operations is highly relevant.)

Dân Chủ và Nhân Quyền theo quan niệm của Mỹ là mục tiêu tranh đấu nghe rất hấp dẫn của một số người Việt lưu vong chống Cộng, và một số người chống Cộng ngu ngơ trong nước, dù rằng họ không mấy hiểu về Dân Chủ và Nhân Quyền, và trên thực tế chủ nghĩa Cộng Sản đã không còn từ mấy mươi năm nay.  Kể từ ngày nước nhà thống nhất, người Việt chống Cộng ở hải ngoại đã tốn không biết bao nhiêu là năng lực, tiền bạc v..v.. để tranh đấu cho mục tiêu này.  Nhưng đã hơn 38 năm qua rồi, họ đã đạt được những gì?  Những thay đổi chính trị và xã hội mở rộng nhân quyền ở trong nước, phần lớn là do xu thế thời đại chứ không do áp lực bên ngoài.  Hơn nữa, nhiều khi phương cách tranh đấu cho Dân Chủ và Nhân Quyền lại phản tác dụng, đưa đến sự thất bại đáng lẽ không nên có.  Tại sao vậy? 

Có thể nói ngay rằng, những người tranh đấu cho Nhân Quyền chưa bao giờ để tâm nghiên cứu thế nào là Nhân Quyền, và nhất là những người ở ngoài chưa bao giờ về thẳng Việt Nam, quan sát xã hội, thu thập những dữ kiện (data) chính xác để có một căn bản vững chắc cho việc tranh đấu.  Ngoài ra, đạo đức cá nhân và trình độ hiểu biết của những người lãnh đạo cuộc tranh đấu cho Nhân Quyền cũng là một trở ngại lớn, khoan kể đến bản chất làm tay sai, có thể là do vô minh hoặc vô tình, cho một thế lực thế tục hay tôn giáo ngoại bang của một số người tranh đấu. 

Đọc bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, chúng ta thấy:

Điều 18 trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền  quy định quyền tự do tôn giáo, nghĩa là quyền tin vào giáo lý, sự thực hành, thờ phụng và lễ tiết (belief in teaching, practice, worship and observance) của con người. 

Điều 29 khẳng định "mọi người phải có bổn phận đối với cộng đồng mà chỉ ở trong đó họ mới có thể phát huy tối đa nhân cách" (Article 29: Everyone has duties to the community in which alone the free and full development of his personality possible...)

Sau đây chúng ta hãy xét đến vài điều khoản trong Giao Ước Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền Chính Trị (The International Covenant on Civil and Political Rights: The CP Covenant), và Giao Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa (The International Covenant on Economic, Social, and Cultural Rights: The ESC Covenant), được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận ngày 6 tháng 12 năm 1966. 

Có nhiều điều khoản không thực tế, không thể áp dụng được một cách phổ quát như

Điều khoản 1: các quốc gia hứa sử dụng tối đa tài nguyên để đạt những tiêu chuẩn về nhân quyền quy định trong Giao Ước; 

Điều khoản 7: chính phủ phải trả lương tối thiểu (minimum wage) và đời sống thoải mái (decent living) cho công nhân; 

Điều khoản 9: quyền được hưởng phụ cấp an sinh xã hội (social security) và bảo hiểm xã hội (social insurance);

Điều khoản 11: chính phủ phải cung cấp đủ lương thực, y phục, và nhà ở (require governments to assure adequate food, clothing and housing);

Điều khoản 12 : phải có nền y tế xã hội bắt buộc, tạo điều kiện để bảo đảm cho mọi người dịch vụ y tế và săn sóc người dân khi đau ốm (mandates socialized medicine through creation of conditions which assure to all medical service and medical attention in the event of sickness) (Âu Châu, Gia Nã Đại và các nước xã hội chủ nghĩa đều áp dụng điều khoản này, riêng có Hoa Kỳ thì không, vì sự thao túng của bác sĩ đoàn và các cơ sở bảo hiểm sức khỏe);

Điều khoản 13: cho quyền các chính phủ kiểm soát giáo dục, và dùng các trường học như là các trung tâm dạy giáo điều thiên Liên Hiệp Quốc, bằng cách khẳng định rằng mọi cơ chế giáo dục phải đẩy mạnh những hoạt động của Liên Hiệp Quốc. (Article 13 provides for government control of education, and the use of schools as pro-UN indoctrination centers, by asserting that all educational institutions must further the activities of the UN).

Độc giả có thể thấy rõ ý nghĩa của những điều khoản trên mà tôi không cần phải phê bình để thấy chúng có thể áp dụng chung cho toàn thể thế giới hay không?.
Vài điều khoản khác cho thấy bản giao ước quốc tế đưa ra những quyền của con người nhưng những quyền này bao giờ cũng có những hạn chế. Sau đây là vài thí dụ:

Điều Khoản 18:

1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tri và tôn giáo.
2.  Sự tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của mọi người chỉ chịu những hạn chế quy định bởi luật pháp và cần thiết để bảo vệ sự an toàn công cộng, trật tự, sức khỏe, hay đạo đức hay quyền căn bản và tự do của người khác.

Article 18
1.  Everyone shall have the right to freedom of thought, conscience and religion..
2.  Freedom to manifest one’s religion or beliefs may be subject only to such limitations as are prescribed by law and are necessary to protect public safety, order, health, or morals or the fundamental rights and freedom of others.

 Điều Khoản 19:

1.  Mọi người đều có quyền tự do phát biểu ý kiến..
2.  Việc thực thi những quyền quy định trong mục 2 của điều khoản này đi cùng với những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt.  Nó có thể phải chịu một số hạn chế, nhưng những hạn chế này chỉ có thể do luật pháp đặt ra.

Article 19
1.  Everyone shall have the right to freedom of expression..
2.  The exercice of the rights provided for in Paragraph 2 of this article carries with its special duties and responsibilities.  It may therefore be subject to certain restrictions, but these shall only be such as are provided by law.

Điều khoản 21:

1.  Công nhận quyền hội họp trong hòa bình
2.  Không hạn chế nào được đặt trên sự thực thi quyền trên ngoài những hạn chế được áp đặt để  tuân theo luật pháp

Article 21.

1. The right of peaceful assembly shall be recognized.
2. No restriction may be placed on the exercice of this right other than those imposed in conformity of the law.

Chúng ta thấy ngay rằng, mọi quyền của con người, theo tinh thần của những bản văn trên, đều phải nằm trong vòng luật pháp của mỗi nước.  Nếu luật pháp của mỗi quốc gia mỗi khác thì định nghĩa về nhân quyền của mỗi quốc gia cũng mỗi khác.  Không có lý do gì để lấy nền luật pháp của Mỹ hay của bất cứ nước nào để dựa vào đó mà đo vấn đề nhân quyền trên toàn thể thế giới. 

Ngoài ra, điều khoản 20 trong bản Giao ước lại “đòi hỏi chính quyền phải ra luật ngăn cấm mọi tuyên truyền cho chiến tranh và mọi ủng hộ cho sự căm thù quốc gia, sắc dân hay tôn giáo có tác dụng tạo nên sự khích động cho những vấn đề kỳ thị, thù nghịch hay bạo lực” (Article 20 of the CP covenant “requires States parties to prohibit by law any propaganda for war and any advocacy of national, racial or religious hatred that constitutes incitement to discrimination, hostility or violence..). 

Vậy sự bắt giữ những người chống đối quốc gia, vi phạm luật pháp quốc gia Việt Nam như Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Paul Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Phương Uyên  v… v… gần đây có vi phạm những điều khoản trên của bản Giao Ước Quốc Tế về nhân quyền hay không?  Hỏi tức là đã trả lời. 

Không một người dân nào trong nước có quyền nói rằng, tôi không chấp nhận pháp luật đó, do Quốc Hội làm ra, nên không có bổn phận phải tuân theo pháp luật đó.  Lý luận phi dân tộc này phạm tội “coi thường luật pháp” (contempt of laws) của những quân phiến loạn và phải bị xử phạt.

Khi ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đã cam kết 14 điều.  Điều thứ 11 như sau:

11.  Tham gia và đóng góp cho sự xúc tiến sự hợp tác về nhân quyền của Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là trong khuôn khổ của Hội Đồng Liên Chính Phủ của ASEAN về Nhân Quyền [AICHR] và trong sự thi hành Tuyên Ngôn Nhân Quyền ASEAN.
11. Participate in and contribute to the promotion of ASEAN human rights cooperation, particularly in the AICHR [The ASEAN Intergovernmental Commission on Human Rights] framework and in the implementation of the ASEAN Human Rights Declaration.

Chúng ta nên để ý là Việt Nam cam kết hợp tác và thi hành Tuyên Ngôn Nhân Quyền ASEAN cho 600 triệu dân Đông Nam Á, chứ không phải là thi hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Tây phương.  Đọc bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền ASEAN chúng ta thấy rõ có nhiều điều khác biệt về quan niệm về nhân quyền so với Tây phương, phản ánh quan niệm nhân quyền trong các nền văn hóa Á Đông. Thí dụ:

Điều 6 viết:  Sự hưởng những nhân quyền và tự do căn bản phải được cân nhắc với sự thi hành những bổn phận tương ứng vì ai nấy đều có trách nhiệm đối với mọi người khác, đối với cộng đồng và xã hội mà họ sống trong đó.  Sau cùng thì trách nhiệm chính của mọi quốc gia thành viên của ASEAN là xúc tiến và bảo vệ mọi quyền của con người và quyền tự do căn bản.
[The enjoyment of human rights and fundamental freedoms must be balanced with the performance of corresponding duties as every person has responsibilities to all other individuals, the community and the society where one lives. It is ultimately the primary responsibility of all ASEAN Member States to promote and protect all human rights and fundamental freedoms.]

Điều 7 viết:

7.   Mọi quyền của con người thì phổ quát, không thể chia xẻ, tùy thuộc lẫn nhau và liên hệ với nhau.  Mọi quyền và tự do căn bản của con người phải được đối xử công bằng và bình đẳng, đặt trên cùng một căn bản và tầm quan trọng.  Cùng lúc, ý thức về nhân quyền phải được cân nhắc trong tình huống của địa phương và quốc gia, xét đến những bối cảnh khác nhau về chính trị, kinh tế, luật pháp, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo.
7. All human rights are universal, indivisible, interdependent and interrelated. All human rights and fundamental freedoms in this Declaration must be treated in a fair and equal manner, on the same footing and with the same emphasis. At the same time, the realisation of human rights must be considered in the regional and national context bearing in mind different political, economic, legal, social, cultural, historical and religious backgrounds.

Điều 8 viết:

8.   Nhân quyền và những quyền tự do của mỗi người sẽ phải được sử dụng với sự quan tâm thích đáng tới nhân quyền và những quyền tự do căn bản của những người khác.  Việc sử dụng những quyền và quyền tự do căn bản của con người chỉ bị những hạn chế quy định bởi luật pháp với mục đích duy nhất là bảo đảm sự công nhận thích đáng về những quyền và quyền tự do căn bản của những người khác, và để đáp ứng những đòi hỏi của an ninh quốc gia, trật tự xã hội, lành mạnh công cộng, an toàn công cộng, đạo đức công cộng, cùng hạnh phúc của con người trong một xã hội dân chủ.
8. The human rights and fundamental freedoms of every person shall be exercised with due regard to the human rights and fundamental freedoms of others.  The exercise of human rights and fundamental freedoms shall be subject only to such limitations as are determined by law solely for the purpose of securing due recognition for the human rights and fundamental freedoms of others, and to meet the just requirements of national security, public order, public health, public safety, public morality, as well as the general welfare of the peoples in a democratic society.

Chúng ta thấy rằng Á Đông đặt bổn phận con người trong xã hội trên quyền của con người. Những điều khoản trên rất phù hợp với ĐIỀU KHOẢN 19 TRONG BẢN Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền năm 1948, và những điều khoản 18, 19, 20 và 21 trong Giao Ước Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền Chính Trị (The International Covenant on Civil and Political Rights: The CP Covenant), và Giao Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa (The International Covenant on Economic, Social, and Cultural Rights: The ESC Covenant) đã ghi ở trên. 

Đọc văn bản Hiến Pháp Sửa Đổi mà Quốc Hội mới thông qua, nhất là Chương II: QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN, tôi thấy Hiến Pháp Việt Nam rất tiến bộ và phù hợp với truyền thống, văn hóa Việt Nam, quyền con người có liên hệ tới quyền của mọi người khác trong xã hội, cộng đồng, và phải nằm trong quy định của pháp luật.

Thực tế là nhân quyền, hiểu một cách hạn hẹp, nhiều khi bị lạm dụng, trong khi bổn phận của con người trong xã hội hoặc thi hành hoặc trốn tránh chứ không thể lạm dụng.  Ở Việt Nam gần đây có nhiều lạm dụng về nhân quyền vì không ý thức được thế nào là bổn phận và trách nhiệm công dân. Tất cả những vụ như Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Lê Thị Công Nhân,  Phương Uyên v…v  và những vụ như ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Mỹ Yên đều là lạm dụng nhân quyền, cho rằng nhân quyền là muốn làm gì thì làm bất kể luật pháp. 

Tôi nghĩ chừng nào mà ở Việt Nam còn những cảnh vô cương vô pháp bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về trách nhiệm xã hội của người dân, đặc biệt là của các giáo dân và các bề trên của họ, thì vấn đề đa nguyên đa đảng chưa thể thích hợp để bàn đến.  Giáo dục là vũ khí quan trọng nhất để giữ nước và xây dựng nước.  Cho nên Nhà Nước nên đặt ưu tiên trong quốc sách giáo dục quần chúng, nhất là về trách nhiệm xã hội kể cả trách nhiệm trong vấn đề tự do tín ngưỡng.

Trần Chung Ngọc

Ngày 10 tháng 12, 2013

 


Phụ Lục: 

2 Bài Đọc Thêm: 

 

I.   Thánh nữ bị ăn cán chổi của bà già!

http://kbchn.net/tin-tuc/thanh-nu-bi-an-can-choi-cua-ba-gia.aspx#.UqCgQCfvZ_E

Số Lượt Xem : 941
21:11 - 30/11/2013

Sự kiện Thánh nữ bị bà già cho ăn cán chổi ngay trong lần đầu tiên tái xuất giang hồ đáng được đưa vào sư kiện tiêu biểu trong làng dân chủ Việt Nam năm 2013!

nguồn http://vokhanhlinh98.blogspot.cz/2013/11/thanh-nu-bi-can-choi-cua-ba-gia.html
Chuyện là khi xưa cô (Lê Thị Công Nhân) được các anh chị dân chủ trong ngoài nước tôn vinh là Thánh nữ của Việt Nam. Cụ Bùi Tín từng ca ngợi cô trên VOA là “ Hạt ngọc quý của nhân dân”, tên tuổi cô từng tràn ngập trên các trang mạng của các nhà đấu tranh dân chủ với danh xưng tôn quý như anh thư nước Việt, bà Trưng bà Triệu ...y như cô Phương Uyên bây giờ, nhưng về độ sùng bái, tôn thờ thì vượt xa vì cô là luật sư, tiểu thư trong gia đình cố GS Trần Phương. Nghe nói khi Thánh nữ mới ra tù các nhân sỹ trí thức đua nhau đến diện kiến, quà cáp nhằm “động viên” Thánh nữ. Nhân sỹ Phạm Toàn tặng cô ấy hẳn cái điện thoại mấy triệu đồng. Tiền đổ về khiến Thánh nữ khoe khoang “đẳng cấp” của cô là phải xài hàng hiệu, mua nhà, sắm xe hơi bạc tỷ...mới xứng với cô, những câu nói bất hủ như cô đấu tranh cho dân chủ nước nhà nên xã hội phải có trách nhiệm nuôi dưỡng cô mãi đi vào lịch sử phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam!

Ra tù cô được vị gạo cội Việt Tân xe duyên với nhà dân chủ Ngô Duy Quyền để kết thành đôi uyên ương Nhân - Quyền. Dường như Nhân Quyền xứ ta thật tệ hại, mối duyên này khiến đời Thánh nữ lụn bại vì bao nhiêu ác nghiệp vợ chồng cô gây ra được tình địch chồng cô là Dân chủ Leaks  hoàn trả cả vốn lẫn lời. Xì căng đan khiến cả làng dân chủ ngơ ngáo, đi đâu gặp ai, Thánh nữ cũng bị chất vấn, sao không lên tiếng để cả làng dân chủ mang tiếng xấu, như phu nhân cụ Hoàng Minh Chính. Không thể đeo mo vào mặt nên Thánh nữ đành chọn cách thoái ẩn giang hồ ước mong xicangdan theo vết mòn thời gian sẽ tự chìm. Đúng là oan gia, nghiệp báo, ngày Thánh nữ tái xuất giang hồ lại gặp phải bà già liên tiếp tặng cho Thánh nữ vô số cán chổi khiến cô chỉ dám đợi bóng bà cụ đi khuất mới dám tri hô: Công an đánh người, công an giết người !!!

Đọc lại tường thuật đầy kịch tính cho vở kịch tái xuất giang hồ mà không hề thấy Thánh nữ đả động đến tình tiết này, nay clip được lan truyền trong thế giới ảo với tràng cười sảng khoái của cư dân mạng. Có thơ cóc rằng:
Dân chủ mà gặp bà già
Ăn luôn mấy chổi, đúng là hại thân

Đúng là Nhân Quyền của Thánh nữ đã bị xâm hại nghiêm trọng. Sau mấy ngày bị ăn cán chổi, Thánh nữ lập tức tham gia vào cổ động thành lập Hội Phụ nữ Nhân quyền với lý tưởng “ hỗ trợ và bảo vệ những người phụ nữ bị xâm phạm nhân quyền” bằng lời kêu gọi đầy thống thiết rằng Thánh nữ và chị em của Thánh nữ “đang chịu đựng trong một thể chế mà pháp luật không nhằm bảo vệ Nhân quyền và Dân quyền” và “trân trọng đón nhận sự yểm trợ của những quý ông tôn trọng Nhân quyền của nữ giới và yêu quý phụ nữ”, bla, bla

Quanh đi quẩn lại các nữ lưu dân chủ bạn bè của Thánh nữ lại mong ngóng sự ban phát ân lộc từ “những quý ông tôn trọng Nhân quyền của nữ giới và yêu quý phụ nữ” như là điều kiện để trưởng thành và thăng tiến (http://vnwhr.net/about-gioi-thieu/call-to-support-loi-keu-goi/).

Phải chăng Thánh nữ cũng như các nữ lưu dân chủ là các ký sinh trùng không thể tự trưởng thành được, không có sự “thăng tiến Nhâm phẩm, Nhân quyền và Tự do” nếu thiếu bóng dáng của sự yểm trợ “bất chấp sự khác biệt về văn hoá, địa lý và chính trị” kia!!!

II.  "Dân chủ" thập đại Ngu!  http://banconong.blogspot.cz/2013/11/dam-chu-thap-ai-ngu.html

Bạn đọc cho ý kiến thêm về suy nghĩ của một bạn trẻ về các nhà "rận xỹ chấy thức":

Ý kiến của TCN:  Ngu mà không biết là mình ngu mới đích thực là ngu, đại ngu, chí ngu.

Sau những tháng ngày đấu tranh cùng các nhà “dân chủ”, tôi (Hoàng Thị Nhật Lệ) đã rút ra được một số cái ngu của các vị ấy như sau:

Hoàng%20Thị%20Nhật%20Lệ.jpg
Hoàng Thị Nhật Lệ

1. Cái ngu kinh điển nhất :
-  Xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Bác Hồ, trong khi cả thế giới, cả kẻ thù đều kính trọng và ca ngợi.

2. Cái ngu kinh tởm
-  Gân cổ, chày cối cho rằng chiến tranh Việt Nam là "Nội chiến" trong khi lờ đi việc lúc cao điểm có tới nửa triệu lính Mỹ ở Việt Nam, Bom pháo Mỹ tống vào thành cổ Quảng Trị thôi đã bằng 6 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima. Bị đánh tơi bời mới "Việt Nam hoá chiến tranh".

3. Cái ngu đáng phỉ nhổ
-  Việt Nam Cộng Hòa là tay sai do Mỹ dựng lên, đã khước từ nguyện vọng thống nhất của nhân dân, đàn áp giết hại bao nhiêu đồng bào, nhưng các nhà "dân chủ" cho rằng đó là 1 nhà nước "đầy ắp dân chủ, căng tràn tự do"...

4. Cái ngu tệ hại
-  Phủ nhận sạch trơn mọi công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

5. Cái ngu đáng..kinh ngạc:
-  Nguỵ tạo chứng cớ, bịa đặt để xuyên tạc. Từ Văn bản "chặn Facebook" đến clip "đảo chính ở Việt Nam", rồi thì suốt ngày dùng ..tiết lợn bôi lên người để la lối "công an đánh"...!!!

6. Cái ngu..Phi phàm
-  Cứ ai chửi đảng, chửi nhà nước một câu thì suy tôn ngay thành "anh hùng", "nữ hào kiệt, thành "người con của sông núi", thành "nhân sỹ" bất kể đó là thành phần bệnh hoạn như Lý Tống hay giang hồ như Chí Đức, máu trên máu dưới như Bùi Hằng. Thậm Chí là những kẻ giết người như Đặng Ngọc Viết, u mê như Phương Uyên (với bọn này, chỉ ai giơ cờ Mỹ hay cờ ba que mới là yêu nước, còn ai đứng dưới cờ đỏ sao vàng được cả thế giới công nhận thì đều..không yêu nước.!!!

7. Cái ngu bệnh hoạn
-  Ỉa chảy hay táo bón đều là tại Đảng và Nhà Nước" đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước...

8. Cái ngu đáng cười
-  Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu trả lời dâu có 1 vài câu hay dài dằng dặc thì chung quy cũng là "giống như..nước ngoài ấy"???
Chẳng khác gì hỏi fan cuồng Kpop rằng nghệ thuật là gì thì nhận được câu trả lời "giống Kpop ấy"...

9. Cái ngu đáng nguyền rủa
- Biểu tình phản đối VN gia nhập WTO, dâng thỉnh nguyện thư kiến nghị Hoa Kỳ và phương Tây cấm vận VN, kích động chiến tranh Việt - Trung, "cầu cho Trung Quốc đánh Việt Nam" và nhiều trò phản quốc tương tự..

 10. Cái ngu nhất trong các thể loại ngu :
-  Đi biểu tình nói dưới danh nghĩa chống Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền biển đảo nhưng thực chất chả biết tí gì về biển đảo Việt Nam.

 



Các bài thời sự cùng tác giả


▪ 22 Năm Giao Điểm: Trừ Tà - Hiển Chánh và Độ Sinh - Trần Chung Ngọc

▪ Chủ Nghĩa Khủng Bố và Diệt Chủng - Trần Chung Ngọc

▪ Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar - Trần Chung Ngọc

▪ Những Người Máy Chống Cộng - Trần Chung Ngọc

▪ Tại Sao Những Người Tin Chúa Lại Thù Ghét Những Người Vô Th - Trần Chung Ngọc

▪ Tản Mạn về Chống Cộng - Trần Chung Ngọc

▪ Ăn Cơm Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản - Một Câu Chữ Của Những Kẻ U Mê - Trần Chung Ngọc

▪ Avro Manhattan: Cơn Ác Mộng Của Một Quốc Gia - Trần Chung Ngọc

▪ Bang Giao "Bắc Kinh-Vatican" (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt Nam - Trần Chung Ngọc

▪ Bang Giao Với Vatican? Bang Giao Như Thế Nào ?? - Trần Chung Ngọc

▪ Công Nghiệp Cuối Cùng -
Vài Suy Tư Xung Quanh Sự Ra Đi Của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp - Trần Chung Ngọc

▪ Cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter & Liên Hiệp Quốc Lên Án Mỹ Vi Phạm Quốc Tế Nhân Quyền - Trần Chung Ngọc

▪ Chuyện Phịa Thời Sự: Tin Vịt Truyền Thông - Trần Chung Ngọc

▪ Chuyện Thời Sự - Về Bức Thư “Chê Chúa” Của Einstein - Trần Chung Ngọc

▪ Kiến Thức 30/4 Qua Các Danh Nhân - Tại Sao Chúng Ta Thua ? - Trần Chung Ngọc

▪ Một Trong Ba Thứ - Trần Chung Ngọc

▪ NED Và Vụ Bắt Giữ Lê Quốc Quân - Trần Chung Ngọc

▪ Nhân Đọc Thư Kêu Gọi Cứu Trợ Nạn Nhân Siêu Bão Haiyan Của Hội Từ Thiện Giao Điểm - Trần Chung Ngọc

▪ Nhận Định Về Những Thứ Chống: Cộng Sản - Phật Gíao - Ca-Tô Gíao - Trần Chung Ngọc

▪ Phật Giáo Và Vài Vấn Đề Xã Hội - Trần Chung Ngọc


▪ 1 2 ▪ >>>


Bài khác