Việt Nam, Văn Hóa Và Hội Nhập

  ●   Bản rời

Việt Nam, Văn Hóa Và Hội Nhập

Trần Trọng Sỹ

http://sachhiem.net/TTS/VH/TranTrongSy_vh1.php

23-Jun-2014

LTS: Bài viết sau đây bao gồm nhiều khía cạnh chính trị của vấn đề hội nhập mà văn hóa là những cánh cửa không có ổ khóa, để cho kẻ trộm lẻn vào lấy của ta làm của họ, biến đổi hoặc sơn phết và đem trở vào như một món quà tặng cho chủ nhà. Buồn thay, nước sơn đó có quá nhiều chất chì sẽ làm hại cho sức khỏe người dùng trong thời gian ngắn. Nói ít mong bạn đọc hiểu nhiều qua bài bình luận sau đây.

Nhân đây, BBT muốn bày tỏ thái độ tôn trọng sự khác biệt trong quan niệm hay ý kiến cá nhân đối với một vài nhân vật, nếu những ý kiến đó không ảnh hưởng đến những giá trị then chốt đối với chủ trương của trang nhà. Xin kính mời (SH)

Cơ thể con người thường từ chối các dị vật không được ghi nhận trong nội hàm của nó, ngay cả một bào thai.

Cũng thế, dân tộc cũng dị ứng với những gì làm nó bị tổn thương, Thiên Chúa giáo là điển hình của sự dị ứng này

Trần Trọng Sỹ

Có lẽ khó viết nhất là viết về VN, với tâm trạng của một người  không Bắc Nam, không ý thức hệ chính trị.

Tôi từng có cùng cảm nhận với ông Bùi Tín, khi ông đến nói chuyện ở HK về nhà nước CS, về ý thức đấu tranh, về tình yêu tổ quốc dân tộc. Ông đề nghị biên giới của cuộc đấu tranh không phải chỉ giới hạn từ vĩ tuyến 17 trở xuống, mà còn cho cả đồng bào miền Bắc phía bên trên vĩ tuyến. Đối với BT, khi CS gây đau thương cho đất nước, đau thương ấy ở cả hai miền, mà theo ông, đôi khi miền Bắc còn chịu đựng nhiều hơn miền Nam, đứng trên quan điểm của một người chống cộng.

Suy nghĩ ấy khiến tôi kính trọng BT. Một cụ già tuổi đã khá cao, nếu vẫn trung thành với đảng CS không chừng ông đã lên đến đại tướng và giàu sang phú quý nhất nhì quốc gia, chứ đâu phải lê thân đấu tranh cho hạnh phúc của dân Việt trong cái nghèo thanh bạch giữa trời lạnh giá buốt quanh năm. Khi những nhân vật quyền cao chức trọng từ VN qua HK, họ được bảo vệ, che chở, và thậm chí còn được những người của phía VNCH cũ nghinh đón bằng nghi thức trang trọng nhất, được phỏng vấn một cách kính nễ nhất; thì với BT, ông luôn bị những người cầm cờ vàng thóa mạ, bị vặn hỏi những câu những điều mà nếu phải thỏa mãn cho họ thì ông phải tự đánh mất lấy nhân cách của chính mình. Nhưng ông luôn tỏ ra có phong độ, bản lĩnh, bình tĩnh, và miệt mài. Tôi biết dư luận người khen ông thì ít, kẻ chê ông thì nhiều, và gần như ông thường cô đơn đứng giữa hai lằn đạn. Riêng cá nhân tôi, vẫn có một cái nhìn thiện cảm về ông, cảm nhận được nơi ông một thứ tình yêu tổ quốc bên kia lằn ranh quốc cộng, nhất là lúc con người biết xem vinh hoa phú quý chỉ như hạt sương đầu cỏ.

Đã gần 40 năm thống nhất đất nước, một số người 'quốc gia' vẫn chưa muốn hội nhập, vẫn ao ước lịch sử đi giật lùi, trả lại cho họ miền Nam không Cộng Sản và Thiên Chúa giáo.

Gồm các mục:

- 1. Bà mụ đỡ đẻ cho nền Đệ Nhất Cộng Hòa

- 2. Ngụy Biện: Mỹ Giết NĐD Vì Ông Không Cho Mỹ Đưa Quân Vào VN

- 3. Bất chấp diễn biến lịch sử, già mồm đổ lỗi cho Phật Giáo

- 4. Đạo Thiên Chúa ở phương Tây làm dân Âu Châu khổ,

- 4.a. Không có Thượng Đế trong sinh hoạt chính trị Trung Hoa

- 4.b. Nghèo đói, dốt nát, đầu trộm đuôi cướp là thành phần được các giáo sĩ Gia Tô nhắm đến

- 5. Giáo quyền và thế quyền

- 5.a Các nước kém văn minh vẫn còn lệ thuộc vào Vatican

- 5.b. Ngô Đình Diệm đáng lẽ phải ý thức được tính cách nguy hiểm của giáo quyền.

- 5.c. Mô hình giáo quyền và thế quyền phân lập của Huntington ở Âu Mỹ.

- 6. Máu mạch của dân tộc

- -- Phật tử sẵn sàng bắn vào tượng Phật nếu kẻ thù đem tượng Phật làm bình phong

- 7. Ăn trộm tư tưởng của Samuel P. Huntington

- -- Không đồng ý với tác giả Samuel P. Hungtinton về ý tưởng chủ quan

- -- Không thể dựa vào mô hình xã hội Âu Châu mà lý luận về Á Châu.

- 8. Có cây bút tầm vóc nào lại thiếu tự trọng như vậy?

Thực vậy, phương Nam muốn co cụm lại riêng một góc trời nhiều thuận lợi, tạo cho mình một đặc trưng đằng sau các giá trị tự do, dân chủ, ý thức hệ VNCH nhưng kỳ thực là một quốc gia Công giáo với một biên cương, một mốc giới rõ rệt cùng với sự giàu có giả tạo sống nhờ viện trợ Hoa Kỳ. Trước 1975, người Nam chỉ yêu đất nước phương Nam, và hình như, nếu Bắc quân không vào Nam để giải phóng, thì chỉ chừng hơn 100 năm nữa, sẽ có hai dân tộc của văn hóa Văn Lang dần dần trở thành hai nước khác biệt.

Hiệp định Genève chia hai đất nước và chờ đợi tổng tuyển cử để thống nhất hai miền bằng phương pháp hòa bình, nhưng Ngô Đình Diệm đã truất phế Bảo Đại và quyết định không tôn trọng hiệp định, huỷ bỏ tổng tuyển cử.

Hoa Kỳ đứng sau lưng ủng hộ cho NĐD trong việc vi phạm hiệp định này.

So hai miền Nam Bắc vào bấy giờ, có thể nói Ngô Đình Diệm may mắn gấp bội Hồ Chí Minh.

Miền Nam mưa thuận gió hòa với vựa lúa đồng bằng Tây Nam Bộ luôn dư gạo ăn, so với khí hậu và đồng bằng Bắc phần ít phù sa, khí hậu khắc nghiệt, và đã được khai thác từ hằng nghìn năm trước.

Dân Nam thuần lương chất phát dễ cai trị với bất kỳ chính quyền nào, kể cả chính quyền thuộc địa. Dân Bắc, vì là đất nghìn năm văn vật, cần có cả vài bồ chữ mới có thể lên lớp họ.

NĐD nắm trong tay hòn ngọc viễn đông, nhưng ông không biết giữ gìn và làm tăng giá trị của nó. Ông có quá nhiều ưu thế để chiến thắng, nhưng đã nhường phần chủ động cho HCM.

Thay vì làm tổng thống của cả miền Nam, ông đã chọn làm tổng thống của người Công giáo.

Chỉ một li khác biệt, NĐD đã đưa miền Nam vào những cơn lốc hỗn loạn nội bộ mà cho đến nay vẫn chưa kết thúc.

Hiệp định Genève đã khiến một số lượng khổng lồ người di cư vào Nam.

GM Lê hữu Từ và GM Phạm Ngọc Chi 1950

GM. Lê Hữu Từ (trái) và Phạm Ngọc Chi (phải) - năm 1950

Người Bắc di cư vào Nam đa phần là Công giáo, nhất là hai giáo xứ Bùi Chu và Phát Diệm. Hai linh mục Phạm Ngọc Chi và Lê Hữu Từ đã đem binh đoàn cả chục nghìn thanh niên của ông chạy vào Nam, và được NĐD trọng dụng, mời làm cố vấn và ưu tiên cho hai ông cùng với giáo dân nhiều ruộng đất, nhiều tài sản mà Pháp để lại. Có thể nói trong thời Diệm, cha cố quyền hành còn hơn cả các quan chức nhà nước, nhất là giám mục Ngô Đình Thục.

Điều này làm sai hết quốc pháp của Ngô triều, và gây ảnh tai hại đến ngày nay.

▪ 1. Bà mụ đỡ đẻ cho nền Đệ Nhất Cộng Hòa

Người CG vẫn hoài vọng nhà Ngô tha thiết, cho rằng ông Diệm là cha đẻ của VNCH.

Sự thực người khai sinh ra miền Nam là Hoa Kỳ. Bà mụ  đỡ đẻ cho nền Đệ Nhất Cộng Hòa là Hồng Y Spellman, một tu sĩ Công giáo người Mỹ giàu không thua các tỉ phú, có thế lực rất lớn trong giới chính khách lưỡng viện. Nhà Ngô gặp vị hồng y này còn hơn gặp đức Thánh Cha.

Nếu không có Hồng Y Spellman, HK khó có cơ hội ủng hộ ông Diệm. VN có thể đã thống nhất khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ qua cuộc trưng cầu dân ý được ký kết trong hiệp định Genève.

Thư khố của Hoa Kỳ, The Kennedy Commitment and Programs 1961, xác nhận sự khai sinh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa:

"We must note that South Vietnam, (unlike any of the other countries in Southeast Asia) was essentially the creation of the United States. (Chúng ta phải nhớ rằng, miền Nam, không giống như bất kỳ quốc gia nào khác ở Đông Nam Á, thực ra chỉ là do Hoa Kỳ tạo dựng)

Cũng nên có vài dòng về vị tổng thống được CG hâm mộ và đang muốn làm ông sống lại như Chúa đã sống lại và bay lên Trời (chuyện rất khó tin, nhưng có thực nếu tròng chiếc Thánh giá vào cổ).

Theo lời kể của Trần Văn Đôn, NĐD có thể vì miếng ăn không ngon mà nổi giận hất tung cả mâm cơm. Ông à người quan liêu hống hách gọi tất cả các tướng là thằng trừ Lê Văn Tị. Khi thoát qua cơn đảo chánh ông cầm một xấp giấy bạc 500 đồng VNCH mà tung ra để ăn mừng, các tướng dưới quyền tranh nhau nhặt, và lấy đó làm vui:

"Ai đã từng xem tranh ảnh nhà Ngô đăng trên tờ Paris Match, các anh em xiêm thêu, gấm áo, rực rỡ, xuê xoang, vây quanh ông Diệm, đều ý thức được đến nơi sự phân cách giữa Nhà nước họ Ngô và quần chúng miền Nam. Nhất là bức ảnh chụp sau ngày được giải cứu khỏi cuộc binh biến 1960: ông Tổng thống xun xoe đứng trên bực cao, tay cầm một xấp giấy bạc 500, thả lòa xòa xuống thấp, một lũ quần thần tay chân, bộ trưởng có, tướng tá có, chen nhau khom lưng nhặt từng tờ, như một món tiền thưởng công, để chia nỗi mừng thoát nạn của chủ, của thầy mình. Ai ở Pháp có thể tìm xem bức ảnh này ở các thư viện, ở tuần báo Match. Hoặc ông Ngô Đình Luyện còn giữ làm kỷ niệm chăng." (Vân Xưa, "Đầu Hàng")

Ông có nhiều cá tính nổi bật hơn Nguyễn Văn Thiệu. Ông dám làm dám chịu, ít nhất là không hèn hạ cầu xin được an thân ra nước ngoài sinh sống khi bị kêu gọi đầu hàng.

▪ 2. Ngụy Biện: Mỹ Giết NĐD Vì Ông Không Cho Mỹ Đưa Quân Vào VN?

Nhiều người CG thổi phồng tinh thần chống Mỹ của ông nên Mỹ đã lật đổ ông. Đây là một vớt vát của nhóm Cần Lao sống đến ngày nay trong cơm no cật ấm nhờ làm chùm gửi ở đất Mỹ, nhưng vì muốn tôn vinh lãnh tụ Ngô Đình Diệm, cũng không ngần ngại hạ bệ Mỹ để mưu cầu quyền lực, lập lại một quốc gia Thiên Chúa giáo tại VN.

Lịch sử đã chứng minh ngược lại, NĐD luôn mong muốn có sự hiện diện của quân đội HK tại VN, nhưng trước hết tổng thống Keneny chưa bao giờ chấp nhận điều này. Thứ nữa, tướng Edward Lansdale, bực thầy, đồng thời là bạn của ông, luôn khuyên NĐD không nên làm như người Pháp, vì như vậy sẽ khiến Ngô triều có hình ảnh không tốt. Xin trích lại một tác giả CG, ông Đinh Từ Thức, dù rất bênh vực NĐD, nhưng vẫn viết khá trung thực về đề tài này, như trong bài '50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: xét lại nguyên nhân và hậu quả', http://damau.org/archives/29801:

Trong cuốn Edward Lansdale, the Unquiet American xuất bản năm 1988, tác giả Cecil B. Currey đã kể lại cuộc gặp gỡ giữa anh em Tổng Thống Diệm và Tướng Edward Lansdale tại Dinh Độc Lập ngày 18 tháng 10, 1961:

Nhiều năm sau, Lansdale tiết lộ: “Tôi chưa bao giờ nói với ai điều này. Diệm xác nhận rằng ông đã yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ gửi quân chiến đấu Mỹ tới Việt Nam. Lansdale buồn rầu nhìn bạn mình. “Phải chăng ông đã đạt tới tình trạng khiến ông sẽ phải cần đến họ để sống còn?” Ông Nhu có mặt, và giống như chuyến trước của Lansdale, bắt đầu trả lời thay cho anh mình. Lansdale chặn ông ta. “Tôi hỏi anh ông những câu đó, không hỏi ông!” Cả hai người Việt ngồi yên lặng một lúc. Rồi ông Diệm trả lời. “Ông muốn nói rằng tôi không nên yêu cầu gửi quân? Lansdale hỏi một câu khác. “Ông có cần họ không?” Ông Diệm không trả lời ngay và cuối cùng nói “Thật ra, không cần”. Lansdale dịu giọng góp ý “Nên giữ như thế”. Sau này ông nói, “Tôi chống lại việc mang quân chiến đấu tới. Tôi đã nhìn thấy người Pháp làm và phác họa rằng chứng ta cũng sẽ làm như họ thôi – ngay cả với ý hướng tốt”. (tr. 238)

Ông Đinh Từ Thức còn viết thêm:

Về phía Hoa Kỳ, ngay từ thời lập quốc, những lời nói việc làm quan trọng liên hệ tới chính quyền thường được ghi chép và lưu trữ. Nếu quả thật chính quyền Mỹ đã có ý định, hay chính thức đòi lập căn cứ quân sự, hay đưa quân vào trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam, điều này chắc chắn phải được ghi lại trong những tài liệu công khai hay bí mật. Trong nửa thế kỷ qua, về mối liên hệ giữa Mỹ và Việt Nam, những người trong cuộc đã viết hồi ký, hoặc trả lời phỏng vấn về vai trò của mình, cũng như những tài liệu mật hay tối mật, phần lớn đã được giải mật, không thấy tài liệu nào nói tới ý định hay đòi hỏi của Mỹ muốn lập căn cứ quân sự thường trực tại Việt Nam.

Tuy nhiên, có chứng cớ từ năm 1961, đã có nhiều đề nghị — từ cả giới quân sự và chính trị — đem quân Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam. Nhưng điều quan trọng là, tất cả những đề nghị này, đều đã bị Tổng Thống John Kennedy bác bỏ.

Cũng theo tác giả CG này, chỉ người Việt bàn tán với nhau rằng, NĐD chống lại việc Mỹ muốn đem quân vào VN chứ không hề có tài liệu hay văn kiện chính thức nào chứng minh được Ngô Tổng Thống anh minh không muốn có sự hiện diện của Mỹ trên đất Việt:

Trước cuộc đảo chính mấy tháng, có một linh mục thuộc Dòng Jesuit Hoa Kỳ đã bí mật sang Anh gặp ông Luyện, muốn ông báo cho ông Diệm biết là sớm muộn gì Mỹ cũng giúp cho cuộc đảo chánh lật ông Diệm. Khi ông Luyện hỏi có thể làm cách nào để tránh được không, vị Linh Mục này khuyên ông Diệm:

“Nên nhượng bộ chính phủ Hoa Kỳ, đồng ý tất cả những gì người Mỹ muốn qua Đại Sứ Hoa Kỳ. (Theo ông Luyện thì người Mỹ muốn Việt Nam nhường cảng Cam Ranh cho người Mỹ trong một thời gian, như Phi Luật Tân nhường cảng Subic, và để cho người Mỹ một thời gian vào Việt Nam)”.

Ông Luyện đã cấp tốc từ London về Sài Gòn gặp anh mình, Đại Tá Duệ kể tiếp:

Tổng Thống Diệm nói sẽ nghiên cứu kỹ việc này và bảo ông Luyện sang gặp ông Nhu để bàn thêm. Ông Luyện gặp ông Nhu và ông Nhu có vẻ chú ý và cũng đồng ý nhưng ông lo rằng người Mỹ đòi mang quân vào và xử dụng Cam Ranh thì khó đựơc tổng thống chấp thuận. Ông cũng lo rằng nếu ngừơi Mỹ mang quân vào thì Nga và Tầu sẽ giúp miền Bắc nhiều hơn và có thể cũng đem quân vào nữa. Như vậy, Việt Nam sẽ là bãi chiến trường đẫm máu.

Đó là tất cả những gì tôi được biết từ phía người Việt về chuyện người Mỹ muốn mang quân chiến đấu vào Việt Nam và muốn xử dụng cảng Cam Ranh, tất cả đều do những lời kể lại gián tiếp, không được chứng minh bằng tuyên bố hay văn kiện chính thức.

Bất chấp sự thực này, nhóm Cần Lao CG vẫn tiếp tục thổi phồng những điều mà NĐD không có như: chống Mỹ, gia đình gia phong (đã gia phong sao bỏ đạo của tổ tiên?), Ngô Đình Nhu luôn theo mệnh lệnh huynh trưởng, quyền huynh thế phụ (lời của Cao Xuân Vỹ, CG mà lại cần đến các giá trị đạo đức của Nho giáo sao?) để che dấu cái tội NĐD làm tổng thống mà lại phải làm vui lòng NĐ Thục, dâng đất nước VN cho mẹ Maria.

Một tài liệu khác của tác giả Ngô Đắc Triết, trong bài Tổng thống Diệm và quân đội Mỹ, http://sachhiem.net/LICHSU/N/NgoDacTriet.php

đưa ra những bằng chứng của Mỹ, cho thấy rõ ràng không những NĐD muốn Mỹ đưa quân vào VN, mà còn muốn cầu viện cả quân đội Đài Loan:

Mới nhất là bản tin ngày 23 tháng 12, 1997 của Associated Press trích từ hồ sơ dày hơn 800 trang của văn phòng Tổng tham mưu Liên quân Mỹ (Joint Chiefs of Staff) tiết lộ “Tổng thống Diệm đã dấu diếm những báo cáo chiến trường cho thấy cuộc chiến đã diễn tiến một cách bất lợi cho Nam VN” (“Diem had been hiding reports from the field that showed the war was going badly for the South Vietnamese”). Mặt khác, “vài tuần trước khi bị ám sát, TT Kennedy đã muốn các lãnh đạo quân sự lập cho ông một kế hoạch rút quân Mỹ khỏi VN sau cuộc bầu cử 1964” (“weeks before his assasination President Kennedy wanted his military leaders to draw up contigency plans for a U.S. withdrawal from Vietnam after the 1964 presidential election.”).

Bên kia những tiết lộ rõ rệt này về ý đồ của người Mỹ thì “Hồ sơ Mật của Ngũ Giác Đài”(“The Pentagon Papers”, Ed. Bantam Books Inc., 1971) lại cho thấy chính ông Diệm đã có ý đồ... xin thêm quân tác chiến Mỹ và Tàu vào VN, từ năm 1961!

“Điện văn của Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi bộ Ngoại Giao ngày 13 tháng 10, 1961 về những yêu cầu của ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Quốc Phòng của Nam VN...

Trong buổi họp ngày 13/10/1961 Thuần đã yêu cầu :

1. Gửi thêm các phi đoàn khu trục AD6...

2. Gửi phi công dân sự Mỹ...

3.  Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân VNCH. Một phần quân số này sẽ đóng gần vĩ tuyến 17 để quân VNCH được rảnh tay chống quân du kích ở miền cao nguyên ...

4. Xin được biết phản ứng của Mỹ đối với đề nghị (của ông Diệm) xin Trung Hoa Quốc gia gửi một sư đoàn quân tác chiến vào khu vực hành quân ở vùng Tây Nam ....

Sử gia Vũ Ngự Chiêu cũng viết trong cuốn Các Vua Cuối Nhà Nguyễn (Thiên Mệnh Đại Pháp) 1884-1945 – Tập 3 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr 1038, như sau:

Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đình Diệm ít nữa cho tới ngày  7/11/1961, không những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước bạn, mà còn tuyên bố đại đa số dân miền Nam tán thành (welcome) việc này. Như thế, những lời tuyên bố chống Mỹ vào năm 1963 của vợ chồng Ngô Đình Nhu chỉ nhằm vào các cố vấn quân sự Mỹ sau khi  Ngô Đình Nhu đã bí mật gặp nhiều đại diện Cộng Sản… 

Từ tài liệu này của Vũ Ngự Chiêu, nếu kết hợp với bài phỏng vấn Dương Văn Hiếu của Lâm Lễ Trinh, người luôn sát cánh với nhóm CL trong bài "Cuối cùng Dương Văn Hiếu lên tiếng," ta thấy ngay Ngô Đình Nhu muốn giăng bẩy HK, làm như muốn hiệp thương với miền Bắc, để bắt bí HK đem quân vào VN như họ muốn, nhưng trước mặt báo chí hoặc cấp dưới, NĐD luôn giả vờ chống đối sự hiện diện của Mỹ, vì dư biết tổng thống Kennedy không bao giờ chấp nhận. Nên nhớ Dương Văn Hiếu nguyên là trưởng đoàn Công Tác Đặc biệt Miền Trung thời Đệ Nhứt Cộng Hoà Việt Nam:

Lâm Lễ Trinh: Ông nghĩ sao về tin ông Nhu có qua Paris điều đình với De Gaulle về chuyện trung lập hoá Việt Nam và gặp Xứ ủy Miền Nam, Ủy viên Bộ chính trị Bắc Việt Phạm Hùng tại rừng Tánh Linh, Long Khánh, để thương thuyết?

Dương Văn Hiếu: Tôi có nghe những tin ấy. Cá nhân tôi nghĩ chỉ đó là tin đồn. Một người quốc gia quyết liệt như Tổng Thống Diệm không thể bắt tay với Cộng Sản bất luận dưới hình thức nào vì Hiến pháp VN công khai phủ nhận Xã hội Chủ nghĩa và đặc biệt, vì Cộng Sản đã giết dã man anh và cháu của Tổng Thống. Đòn hiệp thương Nam-Bắc do ông Cố vấn Nhu tung ra có thể là một cách bắt bí Hoa kỳ. Không ngờ CIA đã biết rỏ nội vụ. Ông Nhu đã chui vảo cái bẩy do chính ông giăng ra.

Nếu thêm vào các tài liệu này một khẳng định của sử gia, nhà phê bình chính trị Mỹ Theodore Draper nữa thì ta có quá nhiều tài liệu đánh tan cái ảo tưởng cuả nhóm CG cho rằng Mỹ giết NĐD vì ông không cho Mỹ đưa quân vào VN:

In his first months in office, Kennedy had to make up his mind whether Diem had failed and, if so, what to do about it. As Schlesinger tells the story, his advisers lined up in two camps, the “political” and the “military.” Those who put a political effort in Vietnam as the first consideration saw no hope short of a “change of leadership” in Saigon, which meant dropping Diem in favor of some other South Vietnamese leader. Among those explicitly urging this course were John Kenneth Galbraith, then ambassador to India, and implicitly W. Averell Harriman, appointed Assistant Secretary of State for the Far East in 1961, and the writer Theodore H. White. Schlesinger refers to a “Harriman group” in the State Department which questioned subordinating the political to the military. Vice President Johnson went to Saigon in May 1961 and advised in favor of more Vietnamese troop-training by American forces but against the commitment of American troops in combat. He seems to have occupied a middle ground, defined by Schlesinger as “the reorientation of the military effort along with programs of political and economic reform.” (trích từ tập san Commentary, The American crisis: Vietnam, Cuba & the Dominican republic)

[Trong những tháng đầu tiên tại vị tổng thống, Kennedy phải quyết định xem Diệm có thất bại hay không, và nếu có thì phải làm gì. Theo Schlesinger kể chuyện, các cố vấn của ông (tổng thống) chia thành hai nhóm, nhóm chủ trương giải pháp "chính trị" và nhóm theo giải pháp "quân sự". Người đặt kỳ vọng vào một nỗ lực chính trị tại VN như là ưu tiên hàng đầu đã nhìn thấy trong thời gian ngắn không thể có sự "thay đổi lãnh đạo" tại Sài Gòn, nghĩa là hất ông Diệm xuống và ủng hộ một lãnh tụ khác của miền Nam. Trong số những người công khai ủng hộ giải pháp này có John Kenneth Galbraith, lúc đó là đại sứ Mỹ ở Ấn Độ; và người ngầm ủng hộ là W. Averell Harriman, được bổ nhiệm Phụ Tá Ngoại trưởng đặc trách về Viễn Đông năm 1961, và nhà văn Theodore H. White. Schlesinger, được coi như là "nhóm Harriman" trong Bộ Ngoại giao. Họ đặt vấn đề có nên xem giải pháp quân sự ưu tiên hơn giải pháp chính trị. Phó Tổng thống Johnson đến Sài Gòn vào tháng 5 năm 1961 đã mong muốn đào tạo quân đội VN bằng lực lượng Mỹ, nhưng chống lại sự hứa hẹn mang quân đội chiến đấu Mỹ vào. Ông dường như theo giải pháp trung dung, mà theo định nghĩa của Schlesinger là "tái định hướng các nỗ lực quân sự song song với các chương trình cải cách chính trị và kinh tế.]

Tóm lại, NĐD chẳng phải là anh hùng, lại thiếu thông minh, tựa như đứa trẻ chơi dao không biết rằng dao giết người được thì cũng giết mình được.

Ông theo chủ thuyết Cần Lao Nhân Vị, trong đó Cần Lao là để đối nghịch với Lao Động, và Nhân Vị là để đối lập với Dân Chủ của Bắc Việt. Đây là triết lý nửa Tây nửa Tàu của Ngô Đình Nhu mang hơi hướng trí thức Tây Emmanuel Mounier, đứng giữa chủ nghĩa tự do tư bản và Cộng Sản, nôm na là humaniste, đòi hỏi một chỗ đứng được tôn trọng cho con người. Humaniste trở thành nhân vị, và cần lao nhân vị chống lại cả hai đối cực cá nhân tiêu thụ (tư bản) cũng như cá nhân sản xuất (Cộng Sản). Triết lý chỉ là trang trí hoa hòe, đảng CL chưa hề tôn trọng sự lựa chọn êm ả cho người dân như lý thuyết của nó, ngược lại, đời sống dưới Ngô triều chủ trương ám sát, bắt bớ, tiêu diệt đối lập, đàn áp các tôn giáo khác với CG. Bản chất công an trị của thời Đệ Nhất Cộng Hòa được sử gia Theodor Draper (The American Crisis: Vietnam, Cuba & the Dominican Republic) viết như sau:

If he had cracked down only on the Communists, he would not have had to worry too much. The Communists, however, made up only a small part of those caught in Diem's dragnet. By 1956, Diem was well on his way to creating a police state which silenced, exiled, imprisoned or put to death all rivals and critics indiscriminately. His repression atomized and pulverized the Vietnamese society which he had just succeeded in giving some semblance of unity. The Communists picked up allies as quickly as he made enemies. An able and sensitive observer, Robert Shaplen, says that the popularity of Diem's regime “began to wane seriously” as early as 1957 (sđd)

[Nếu ông Diệm chỉ bố ráp cọng sản, ông đã không cần phải lo âu nhiều. Thật ra, người CS chỉ là một số nhỏ trong số những người bi Diệm giăng lưới bắt. Vào năm 1956, Diêm đã vững vàng trên con đường tạo ra một quốc gia công an trị, bịt miệng, lưu đày và cầm tù hoặc giết chết một cách bừa bãi những kẻ chống lại hoặc chỉ trích ông. Sự trấn áp của ông đã nghiền nát xã hội VN mà ông vừa thành công tạo được cái bề ngoài có vẻ hiệp nhất. Người CS lập tức kết nạp thành đồng minh của họ những ai bị ông Diệm biến thành kẻ thù. Robert Shaplen, một quan sát viên tài năng và nhạy bén, nói rằng lòng dân đối với Chế độ Diệm đã bắt đầu phai nhạt trầm trọng ngay từ năm 1957.]

Núp dưới chiêu bài cần lao nhân vị, đường lối và chính sách của NĐD không mang dấu ấn Công giáo, mặc dù ông ưu tiên mọi việc cho Công giáo như cấp đất, cấp viện trợ xã hội của HK, ưu tiên đào tạo công chức Công giáo, và cho Công giáo nắm giữ hầu hết giáo dục VN. Theo trích dẫn của sử gia Nguyễn Mạnh Quang phía dưới, linh mục và cha cố còn có thể điều binh khiển tướng, uy quyền chỉ sau gia đình của tổng thống!

Cho nên, khen NĐD là lãnh tụ anh minh, người hùng dân tộc, e rằng lịch sử sẽ không chịu. Nếu đứng trên đại cuộc mà nhìn lại lịch sử, 20 năm của miền Nam chỉ làm chậm bước tiến trên con đường  thống nhất và phát triển dân tộc, vì chính ông đã từ chối cuộc tổng tuyển cử theo hiệp định Genève làm tiền lệ cho các cuộc đàm phán không nghiêm chỉnh của nền Đệ Nhị Cộng Hòa tại Ba Lê. Hai mươi năm phân hai đất nước đã tạo ra một lằn ranh ý hệ quốc cộng ăn sâu vào lòng người dân hai miền mà mãi đến nay vẫn chưa phai mờ, chỉ cần có dịp là lại đổ máu.

▪ 3. Bất chấp diễn biến lịch sử, già mồm đổ lỗi cho Phật Giáo

Sau chính biến 1963, một số đông giáo dân Công giáo nhất định cho rằng do lỗi của Phật giáo mà NĐD đã bị đảo chánh và chưởi rủa các tướng lĩnh, nhất là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, và Đỗ Mậu là bọn phản chủ, phản thầy, phản chúa. Họ bất chấp những bằng cớ lịch sử mang tính khách quan cho thấy PG không thể lật đổ chính quyền, mà chỉ tranh đấu để tự vệ.

Những năm 1974 và 1975, lúc mà cuộc chiến ngày càng khốc liệt ngoài biên cương và NVT đang bị rối tung vì chánh sách của HK sắp từ bỏ VN, thì CG đã cùng với giáo hoàng Paul 6 xúm vào đánh phá VNCH trên truyền thông quốc tế, và ở quốc nội thì biểu tình như cơm bữa do các linh mục cổ xúy. PG trái lại hoàn toàn im lặng, dù vẫn ký tên chống tham nhũng. Chỉ tội cho đạo Phật là không già mồm, ít phương tiện đại chúng; lại không biết vu cáo dựng đứng thổi phồng những sự kiện tuy bên lề, nhưng có giá trị lợi dụng cao; Phật tử lại không được dạy cách vệ đạo mà PG thì không có giáo quyền đối với giáo dân nên nó hoàn toàn không có sức mạnh tấn công. Lâu lâu có vài trí thức lên tiếng bào chữa một cách rải rác cho PG, cũng chẳng phải do PG trả tiền hay mời gọi. Tóm lại PG hoàn toàn vô tổ chức, vô tự vệ, không như bên CG có chỉ thị, có học tập, có chủ trương từ Vatican. Khi CG muốn, bất chấp điều này đúng hay sai, miễn rằng nó phải được thực hiện, cho đến khi giáo hoàng ra lệnh ngưng. Việc truyền giáo tại các quốc gia châu Á đang là chính sách của các giáo hoàng, nên việc dựng lại nhà Ngô tại VN là một cách để giáo dân tuân lệnh Vatican, dù có phải theo thuyết tôn quân của Khổng giáo, cho nên họ nguyền rủa các tướng tá đã phản bội.

Qua việc cố gắng làm sống lại Ngô triều, số tín đồ Công giáo ấy muốn bảo các tướng lãnh rằng quân xử thần tử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu. Tội giết vua vào thời phong kiến phải tru di cửu tộc. Xin mở một dấu ngoặc ở đây về tư tuởng Nho giáo vừa nói trên, đó là tinh thần Hán nho chứ không phải Khổng nho, lại được đời đời các triều vua Trung Hoa, vì muốn giữ vững ngai vàng, cố tình gán vào miệng Khổng Tử mà không ai dám nói.

Đã hơn 50 năm rồi, NĐD vẫn là linh hồn của nhóm Cần Lao. Họ vẫn muốn tái lập một VNCH theo kiểu Diệm. Họ bài xích Khổng Tử nhưng lại muốn thực thi quân quân thần thần trong chế độ phong kiến Hán nho Công giáo. Tư tưởng Khổng Mạnh bị họ hạ sát ván, mục đích là muốn xí chỗ của đạo Khổng ở Á Châu. Bề ngoài CG hạ bệ Khổng Tử, nhưng trong cốt lõi, CG muốn thay giáo hoàng hay linh mục vào chỗ của vua. Họ nguyền rủa tam cương, nhưng trơ tráo thay câu bổn phận với vua (quân vi thần cương) thành bổn phận với giáo hoàng điều mà ngay đối vói các Nho gia cũng đã hoàn toàn lỗi thời.

Tất cả những cái đó, CG rất giống với Hán Nho, nhưng họ lại luôn phỉ báng Hán Nho không tiếc lời. Ngược lại các ý tưởng đột phá tân kỳ của Mạnh Tử, còn quyết liệt hơn cả cách mạng 1789, chói chang hơn thế kỷ ánh sáng, thì tai họ điếc, mắt họ mù, cho rằng không có giá trị châu Á và chả ai muốn bàn đến như:

- “Thần thí kỳ quân, Khả hồ ?
- Tặc nhân giả, vị chi tặc ; tặc nghĩa giả, vị chi tàn ;
tàn tặc chi nhân. Vị chi nhất phu ;
văn tru nhất phu Trụ hỉ, vị văn thí quân giả »

Tạm dịch: "Bầy tôi có thể giết vua sao?” Mạnh Tử trả lời, “Kẻ làm hại điều nhân, gọi là tặc; làm hại điều nghĩa, gọi là tàn. Kẻ tàn và tặc, chỉ gọi là một thằng thôi. Ta nghe chuyện chém đầu một thằng tên Trụ chứ không nghe chuyện thí vua.”

NĐD làm tổng thống miền Nam, quyền sinh sát không thua một ông vua phong kiến. Ngay cả quốc hội cũng chỉ là bù nhìn. Ông phải chịu hoàn toàn trách nhiệm lãnh đạo con thuyền quốc gia. Vinh thì lịch sử khen tặng, ghi tên ông vào thanh sử; nhục cũng do chính ông tạo ra, vì ông là thủ lãnh một đảng phái, đứng đầu một đất nước, tổng tư lệnh một quân đội. Nếu ông bị ám sát chứ chưa nói là bị đảo chính hay cách mạng, là do ông không biết sử dụng đứng người đứng việc. Còn nếu bị đảo chính, là do ông tạo ác quá mức chịu đựng của dân, mới khiến có chính sự đảo điên, thời cuộc thay đổi.

Phật giáo không thể lật đổ ông Diệm với hai bàn tay không. Chính ông tự quật ngã lấy ông. Cho nên, không thể đổ lỗi cho bất kỳ ai về sự sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Hãy để cho linh hồn của NĐD ngủ yên. Ông cũng nên có những khoảng không gian và thời gian yên lặng, để nhìn về mình, để biết rằng giết người thì dễ, bị người giết mới khó. Gây nhân ắt gặt quả, đó là luật của vũ trụ chứ chẳng có Thượng Đế nào sau lưng ông, che chở ông, sai khiến ông. Tôi gọi người anh hùng hay vĩ nhân, là kẻ dám chống lại bạo lực với chân lý và hai bàn tay không, chứ chẳng bao giờ là kẻ có quá nhiều súng đạn và đầy quyền uy mà lại chết vì chính bạo lực của mình. Ai gọi ông là vĩ nhân, là quyền của họ, nhưng chắc chắn kẻ đó không phải và không thể là lịch sử. Văn hóa dân tộc sẽ không bao giờ ghi nhận NĐD vào gia phả của nó.

▪ 4. Đạo Thiên Chúa ở phương Tây làm dân Âu Châu khổ

Cũng nên giới thiệu đôi nét về hoàn cảnh xã hội Âu châu và VN vào lúc các giáo sỹ sang VN truyền giáo.

Công giáo phát khởi ở VN từ những dân ít học và nghèo đói, nên cái mặc cảm thua kém bao nhiêu đời dồn nén được dịp bùng vỡ khi Pháp chiếm VN. Điều này cũng khó trách họ, vì nhà Nguyễn, hay cả triều đình Pháp trước thời cách mạng kỹ nghệ cũng đều luôn có giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, chưa kể ở Pháp ngoài quý tộc còn có thêm tăng lữ, ác hơn cả quý tộc. Cuộc cách mạng 1789 xảy ra chỉ sau khi giám mục Bá Đa Lộc đem hoàng tử Cảnh sang cầu viện Louis 16 có vài năm. Cuộc cách mạng ấy được Liên Minh Thánh, tức là các quốc gia Thiên Chúa giáo, với sự tham gia của toàn thể quý tộc và tăng lữ Âu Châu, dẫn đầu là Nga hoàng, trong đó có Phổ, Áo, Anh; tất cả đều chống lại vô thần, chống lại kỷ nguyên Ánh Sáng, tức là chống lại giai cấp bị áp bức, các nhà trí thức, tư tưởng văn minh tiến bộ. Họ sợ sự lan tràn của cuộc cách mạng Pháp ra khắp thế giới. Điều này chứng tỏ rằng bóc lột ở đâu cũng có chứ không phải riêng nhà Nguyễn. Đạo CG không đứng về phía kẻ bị bóc lột tại VN, mà là lợi dụng tầng lớp bị bóc lột tại VN.

Thiên Chúa giáo ở Âu Châu là của dân bourgeoise (trưởng giả), nhưng sang Á châu thì họ liên kết với tầng lớp thấp nhất trong xã hội, đây hoàn toàn là một lựa chọn chính trị chứ không xuất phát từ lòng nhân ái. Cho đến bây giờ, người Công giáo Pháp vẫn luôn bên cạnh các đảng hữu và cực hữu, đạo gộc chỉ còn ở các người già nua thuộc từng lớp quý tộc còn sót lại. Mối keo sơn này không chỉ riêng ở Pháp, mà là một thực tế của cả châu Âu.

Đạo Thiên Chúa ở phương Tây làm dân Âu Châu khổ. Sang VN họ nham hiểm đứng bên cạnh dân nghèo, tạo cơ hội cho đám dân này thành giàu sang. Thật trớ trêu, bên này dãy Pyrénées là chân lý, bên kia là tà thuyết (Vérité en deçà des Pyrénées, erreur au-delà, Blaise Pascal). Đang lúc dân nghèo Âu châu thù tăng lữ thấu xương, thì dân nghèo VN tân tòng lại tôn xưng họ như thánh sống.

Trong xã hội phong kiến, giáo dục chỉ dành cho dân nhà giàu. Chủ trương cưỡng bức giáo dục là tư tưởng vô thần mới mẻ với cuộc cách mạng Pháp, khá phổ biến sau cách mạng kỹ nghệ 1848, nhưng chỉ thực sự được đẩy mạnh với luật Ferry năm 1882 tại Pháp, tuy nhiên cũng chỉ bắt buộc và miễn phí đối với trẻ em dưới 13 tuổi. Cưỡng bách giáo dục đến 16 tuổi mới được tổng thống Charle de Gaule Pháp ký năm 1936.

Ngay ở Pháp vào những năm 80 tôi vẫn còn gặp chính người Pháp da trắng không biết viết, mặc dù Pháp ngữ là tiếng mẹ đẻ, chứ đừng nói ba má tôi là dân nghèo làm ruộng ở VN thì học chữ để làm gì ?

Những nhắc nhở trên cho thấy rằng cưỡng bức giáo dục ở Âu Châu được khởi xướng bởi cách mạng vô thần chứ không phải là do văn hoá Tây phương nói chung chung như nhiều người vẫn lầm tưởng. Mọi đứa học trò ở Pháp đều có thể cho biết rằng trước kỷ nguyên ánh sáng, Âu Châu, hay cả thế giới, đều sống trong màn đêm suốt hơn 17 thế kỷ.

Cả Tây lẫn Đông phương, vua chúa và quý tộc chỉ luôn muốn thống trị, và để thống trị một cách vững chắc thì phải ngu dân hóa. Tuy vậy Khổng giáo vẫn len lỏi vào làng xóm đề truyền bá học thuật. Đích thân Khổng Tử cũng đã lê gót khắp TQ để dạy học trò. Hình ảnh các cụ đồ nho nghèo đói dạy cho trẻ con đọc sách dưới bóng tre làng ở miền Bắc là bằng chứng. Ở Âu Châu, các tu sĩ không len lỏi truyền bá học thuật như ở Á Đông, người có học hầu hết đều là quý tộc hoặc tăng lữ.

Người nghèo vào thời Đắc Lộ hay Bá Đa Lộc đều chả ai biết tư tưởng trung quân ái quốc là gì, chỉ cái bụng là ông trời, cái bụng kêu giết ai họ lăn xả vào giết ngay. Buộc tội phản quốc lên đầu họ, e rằng có phần oan. Việc trung với vua, với nước là việc của những ai đọc sách thánh hiền, của người làm quan. Được làm vua, thua làm giặc, ai đuổi hươu giỏi người ấy được gọi là thiên tử. Tất cả những tư tưởng ấy là tư tưởng châu Á, tư tưởng này không có ở Âu châu.

Charles VII of France

Vua Charles VII của Pháp được Giáo Hoàng đội vương miệng năm 1429 ở Thánh Đường Reims. Tranh vẽ của E. Lenepveu (1889), link http://www.answers.com/topic/coronation

Ở Âu châu chỉ quý tộc được giáo hoàng xức dầu và công nhận là vua mới được lên ngôi. Không bao giờ có chuyện Lê Lợi hay Nguyễn Huệ áo vải cờ đào, ngay cả Lưu Bang hay Chu Nguyên Chương cũng không thể.

▪ 4.a. Không có Thượng Đế trong sinh hoạt chính trị Trung Hoa

Voltaire, khi biết được việc chỉ có César mà không có Thượng Đế trong sinh hoạt chính trị Trung Hoa, đã thực sự kinh ngạc và hoan nghênh, bởi lẽ nơi ông sinh ra và lớn lên, quý tộc vĩnh viễn là quý tộc, không thể có cái lý thay ngôi đổi chủ của kẻ có chính nghĩa:

Plusieurs fois, Voltaire revient sur ce retournement du faible en fort et du fort en faible ! Il semble lui aussi revendiquer l’honneur d’être changé par la Chine. Dans l’article De la Chine du Dictionnaire philosophique, Voltaire précise :

« La Chine est la seule constitution qui ait fait adopter ses lois à ses vainqueurs » (Voltaire et La Chine, Charles COUTEL,Université d’Artois, Arras)

Tạm dịch:

Voltaire đã đề cập lại nhiều lần về việc đảo ngược tình thế từ yếu sang mạnh và từ mạnh sang yếu! Hình như ông cũng nhận luôn lấy danh dự được thay đổi bởi (tư tưởng)Trung Hoa. Trong bài Về Trung Hoa của tác phẩm Từ Điển Triết Học, Voltaire xác nhận rằng:

«Trung Hoa là nơi duy nhất có văn hiến thích ứng với luật của kẻ thắng.» (Voltaire và Trung Hoa, tác giả Charles COUTEL, Đại học Artois, Arras).

Qua lời lẽ của Voltaire, ta thấy rằng ở Âu châu, người bình dân đứng lên hô hào và khởi nghĩa để chống cường bạo lật đổ một triều đại là không có. Không thể có hiện tượng kẻ mạnh sẽ thắng và kẻ thua bị đào thải, chỉ có giáo hội luôn là kẻ mạnh cấu kết với qúy tộc; xức dầu cho quý tộc làm vua, tuân theo mệnh lệnh của giáo hoàng; cùng nhau ăn trên ngồi trước trên sức lao động của dân nghèo.

▪ 4.b. Nghèo đói, dốt nát, đầu trộm đuôi cướp là thành phần được các giáo sĩ Gia Tô nhắm đến

Khi người Âu sang Á để truyền giáo thì họ làm ngược lại, nghĩa là họ giả nhân giả nghĩa đứng bên cạnh dân nghèo. Điều này cho thấy bản chất của tăng lữ Âu châu không phải là tôn giáo, mà là thủ đoạn của chính trị thực dân.

Cho nên người nghèo theo chân các giáo sĩ ngoại quốc hoàn toàn không biết âm mưu xảo quyệt của sứ mạng truyền giáo, vốn lại vô học, nên khi theo Pháp và đánh lại được triều đình, đối với họ, trước hết là giải tỏa mặc cảm thấp hèn, sau đó tâm lý trả thù giai cấp được thỏa mãn. Thành phần thấp kém ngày xưa không biết chữ Hán, khi được các giáo sĩ dạy 'quốc ngữ' thì cũng chính họ lại trở thành 'trí thức' tiên phong của loại văn tự này tại VN. Dĩ nhiên là họ có thể nắm những vai trò cao hơn trong guồng máy thực dân, họ trả được mối thù đối với trí thức cũ, y chang như dân ba mươi đeo băng đỏ tố cáo hàng xóm người này là Ngụy người kia là phản động, người nọ là CIA để trả thù ngày xưa bị xem thường.

Nghèo đói, dốt nát, đầu trộm đuôi cướp là thành phần được các giáo sĩ Gia Tô nhắm đến, như giáo sư Nguyễn văn Trung nhận định như sau:

“....Theo Lanessan, các vị thừa sai Công giáo thường nhắm quần-chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cắp để giảng đạo. Nói cách khác, người Công giáo thường thuộc thành phần những giai cấp thấp hèn nhất trong xã-hội. Những người này thường được tập họp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn thể dân tộc. Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo, giao thiệp với người Lương có thể quay lại những phong tục lễ nghi ngoại-đạo. Cũng vì lý do sợ đó mà họ đã tạo ra chữ quốc ngữ chủ-đích là để cho giáo dân khi biết đọc chữ quốc ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại nếu để cho họ học chữ Nho, sợ họ có thể thông cảm lại với tư tưởng ngoại giáo. Thành ra việc sáng lập chữ Quốc ngữ phải chăng nhằm một mục đích “ngu-dân” ly khai với văn-hoá dân tộc? … .” (xem Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp ở VN - Thực Chất Và Huyền Thoại - Nguyễn Văn Trung)

Thời đại nào sản sinh con người đó. Trong trăm năm đô hộ, Pháp đã đào tạo các tay sai ngưòi Việt để họ cai trị người Việt. Người Việt, nhờ trở thành giáo dân mà có cơ hội đổi đời, từ bần cùng vô học đến lên xe xuống ngựa giàu có sung túc, đối với họ, Thiên chúa đúng là vị thần toàn năng đầy phép màu và quyền lực, cùng với người Pháp, đã đảo ngược mọi giá trị. Thử hỏi, mấy ai từ chối được những quyến rũ cám dỗ như vậy?

Và thế là, căn bệnh phân biệt tôn giáo bắt đầu nảy mầm ở  một xứ sở chưa bao giờ có giáo quyền, chưa bao giờ cần phải phân định giáo quyền và thế quyền lưỡng lập, chưa bao giờ có thù hận giữa các khối dân tộc; thì từ nay, sự có mặt của đạo Thiên Chúa La Mã ở VN sẽ  khiến cho nhà cầm quyền cần quan tâm đến, và người lãnh đạo phải nhớ rằng, họ đang đứng trước một nhóm người có hai quốc tịch, khi thuận chiều thì họ cùng đứng chung với dân tộc, nhưng khi trái với yêu sách của họ thì họ sẽ giương cao thánh giá lên để đòi hỏi, đấu tranh và bạo loạn.

Nếu nhà cầm quyền VN trấn áp thì sẽ mang tiếng đàn áp tôn giáo, vì họ có người đại diện ở Vatican. Nếu không đàn áp thì chỉ còn cách giao chính quyền cho các giám mục, và dĩ nhiên đây là mục tiêu tối hậu mà giáo triều La Mã mong muốn, Thánh Cha sẽ xức dầu cho vị tân tổng thống VN, dĩ nhiên là con chiên, và nước VN lại sẽ được làm lễ dâng hiến cho Thánh mẫu Maria. Tóm lại khi cần mặt trận ngoại giao, Vatican núp dưới bóng một quốc gia, khi cần ra lệnh và hành động, Vatican đưa chiếc Thánh giá lên cao và hạ lệnh cho con chiên làm thiêu thân với phần thưởng là cái hộ chiếu được đóng dấu vào nước Chúa.

Trong thần thoại Hy Lạp, các Lernaean Hydra là một con thú ở dưới nước, với cơ thể của một con rồng / rắn

Có thể ví đạo CG với hình ảnh con rắn Lernaean Hydra trong thần thoại Hy Lạp. Cũng rất trùng hợp với hình ảnh của Liên Minh Công giáo Pháp (được sử Pháp ví như con rắn Lernaean Hydra) với sự yểm trợ của giáo hoàng Sixtus 5, vua Tây Ban Nha Phiplip 2, và dòng tu Jesuit (dòng Tên) muốn lật đổ Henry 3, làm loạn cả nước Pháp từ những năm 1570 mãi đến 1593 (23 năm cực loạn) mới được bình định dưới thời vua Henry 4.

Procession de la Ligue 1590 Carnavalet

Chiến tranh tôn giáo Pháp - tranh vẽ cuộc diễn binh của Liên Minh Công giáo năm 1590, viện bảo tàng Carnavalet

▪ 5. Giáo quyền và thế quyền

Trước khi Tây phương xâm lược viễn Đông, sự so sánh thế quyền và giáo quyền hoàn toàn vắng mặt. Chiến tranh ở đây chỉ đơn thuần là giữa các quốc gia, hoặc khi một chế độ suy yếu thì phải theo luật tiến hoá nhường chỗ cho một chế độ mới. Ý niệm lưỡng quyền là của Âu Châu, và ý niệm này ăn sâu trong lòng các tu sĩ Công giáo, , họ luôn muốn Jésus là vua của tất cả các vua, đất đai là của Thiên Chúa, ngay cả đất mà cha ông VN đã đổ máu để gìn giữ, theo như Thánh kinh.

Hãy phân biệt rõ ràng, tuy cùng thờ Chúa Giêsu, nhưng Phản thệ hay Chính Thống giáo không có một giáo hội có giáo quyền như La Mã Vatican, nên Huntington cho rằng trong các quốc gia theo Chính Thống giáo, thượng đế là kẻ phục vụ ngoan ngoãn của César. Đạo Phản Thệ rất mạnh ở khu vực Bắc Âu và Bắc Mỹ, độc lập với khối văn hóa Công giáo La Mã, họ không có giáo hoàng chung nhưng thế lực của họ luôn được các vị vua tôn trọng. Huntington gọi đây là 'những giáo hội' độc lập với thế quyền. «Au cours de l'histoire de l'Occident, l'Église, puis plusieurs Églises ont existé indépendamment de l'État. (xin xem trích dẫn kỹ hơn ở sau).

Đi sâu vào phân tích tư tưởng Huntington như vậy nhằm mục đích chứng minh rằng, giáo quyền và khái niệm lưỡng quyền độc lập  hoàn toàn mới mẻ đối với đại đa số dân tộc viễn Đông mà đặc biệt là TQ và VN. Điều Huntington nói cũng chỉ đúng cho xã hội Âu Mỹ luôn bị giáo hội kềm chế áp bức suốt 17 thế kỷ lẫn lộn thế quyền và giáo quyền, và vừa mới được phân định một cách khá rõ ràng từ sau thế chiến.

Từ đó có thể kết luận rằng, khi giáo quyền xuất hiện ở Á Châu, cũng là lúc mà nồi cơm không còn được dành độc quyền cho vua chúa và quý tộc nữa, mà phải biết rằng, chén cơm, từ nay phải chia ba, thêm vào đó phần ăn của Chúa (trong Thánh kinh, Chúa Trời luôn hiện diện khi chia chiến lợi phẩm). Và rằng nếu không phân chia đầy đủ, thì sẽ có xung đột, chiến tranh. Chúng ta thấy tại sao Pháp đã ra đi từ năm 1954, Mỹ từ 1975, mà người Việt vẫn không thể đoàn kết lại thành một khối, đó chính là di căn ung thư độc hại của chủ nghĩa thực dân, là sự xâm nhập của tư tưởng giáo quyền. Các nhà chính trị Á Châu cần quan tâm một cách nghiêm chỉnh vấn đề này.

Ở Âu Mỹ với sự tỉnh thức của trào lưu ánh sáng, các nhà nước, ngay cả Ý, cũng không để ảnh hưởng của giáo quyền lan rộng, bằng chứng là lời nói của giáo hội đã hết uy tín, thậm chí thường là trò cười của trí thức và báo chí. Tôi còn nhớ khi Jean Paul 2 khuyến khích không dùng préservatif (bao cao su), báo chí Pháp đã cười nhạo ông không tiếc lời mà chả thấy con chiên nào hó hé (CG thuộc thiểu số ở Pháp). Thậm chí các trí tức khoa học còn quy án Jean Paul 2 đã đồng lõa với tội ác, hằng triệu sinh mạng trên thế giới bị thống khổ trước khi chết do bệnh AIDS dày vò chỉ vì nghe lời giáo hoàng mà không suy nghĩ.

▪ 5.a Các nước kém văn minh vẫn còn lệ thuộc vào Vatican

Ở các nước kém mở mang như VN, Philippines hay các quốc gia Nam Mỹ độc tài nghèo đói chưa từng kinh nghiệm sự thống trị của giáo hội trải qua gần hai thiên niên kỷ còn mê say lời hứa được về nước Chúa nên sẵn sàng hiến thân vô điều kiện cho mọi mệnh lệnh đến từ tòa Thánh, và thông thường, giáo dân của các quốc gia bị thực dân ít học vẫn thích tin vào thần quyền hơn tin vào trí năng của chính mình.

Đó là lý do tại sao Âu Mỹ đã thoát khỏi sự lạm dụng của tòa Thánh mà các nước kém học lại lệ thuộc vào Vatican một cách máy móc. Thực là nực cười, nhưng hoàn toàn phù hợp với tinh thần dân Chúa khi một vị tướng của quân đội mà lại nghe lệnh một ông linh mục, xin xem trích dẫn sau đây:

Khoảng đầu năm 1975, có lẽ vào cuối tháng 2, đã có dấu hiệu cho thấy Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ giảm kinh viện cho tài khóa 1975-1976 xuống mức tối thỉểu vào khoảng 700 triệu Mỹ Kim, rồi mấy ngày sau đó lại quyết định ngưng luôn khoản tiền này. Xin đọc bản văn ghi trong sách Khi Đồng Minh Tháo Chạy của tác giả Nguyễn Tiến Hưng. 

Tin xấu này làm cho các nhân viên cao cấp trong chính quyền và các tướng tá nắm giữ các chức vụ chỉ huy trong quân đội miền Nam mất hết tinh thần, không còn nghĩ đến chiến đấu nữa và tính đường cuốn gói ra đi. Sự kiện này thể hiện ra trong buổi họp tại Dinh Độc Lập vào ngày 13/3/1975 do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập và chủ tọa. Buổi họp chuẩn bị đào tẩu này được Phó Đế Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ghi lại như sau:

Ngày 13/3/1975, tại dinh Độc Lập tổng thống Thiệu họp với thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, trung tướng Đặng Văn Quang, trung tướng Ngô Quang Trưởng và trung tướng Nguyễn Văn Toàn. Trong buổi họp này tổng thống Thiệu cũng đã nhận định rằng không cách nào với ngân khoản viện trợ Hoa Kỳ bị cắt giảm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có thể giữ được sự vẹn toàn lãnh thổ miền Nam. Tổng Thống Thiệu lấy viết gạch một đường từ Ban Mê Thuột xuống Tuy Hòa và nói đó là ranh giới mới của miền Nam. Tổng Thống Thiệu còn căn dặn tướng Trưởng giữ kín, không tiết lộ cho các tư lịnh Sư Đoàn, các tỉnh trưởng cũng như Hải Quân và Không Quân biết việc bỏ miền Trung.”

Sau cuộc họp lịch sử này, Giám Mục Phạm Ngọc Chi ra lệnh cho Tướng Lâm Quang Thi đến nói với Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lênh Quân Khu I, bỏ ngỏ Đà Nẵng. Sau đó, các tướng dân Chúa  như Tướng Lâm Quang Thi,  Chỉ Huy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đòan I, Tướng Hoàng Văn Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Đòan I, Tướng Nguyễn Đăng Khánh, Tư Lệnh Sư Đòan I Không Quân, Tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh Sư Đòan 25 (trú đóng tại Củ Chi) bỏ trốn nhiệm sở mà quân lính dưới quyền không biết gì hết. ).

Tuy rất đơn giản nhưng ít người chịu để ý tới, đạo Công giáo không phải là một tôn giáo bình thường, mà một tôn giáo do Constantine tôn vinh lên với mưu đồ chính trị bá chủ một vùng rộng lớn, nó mang màu sắc của quyền lực và chính trị kể từ đó, và cũng kể từ đó nó không còn là một tôn giáo đúng nghĩa của hai từ tôn giáo, nó đã biến thể và trở thành một tập đoàn chính trị lớn lao bao trùm khắp Âu Châu và chực chờ thống lãnh khắp hoàn cầu. Nó là một quốc gia siêu quốc gia, và tiềm năng xâm lăng của nó nguy hiểm hơn bất kỳ một đế quốc nào trong lịch sử. Đế quốc La Mã hùng mạnh nhờ nó, suy tàn cũng vì nó. Kẻ lợi dụng qua, người lợi dụng lại, cuối cùng Thiên chúa giáo đã tự biến thể, đã chiến thắng, trở thành một đế quốc mang mặt nạ tôn giáo, đứng trên tất cả các đế quốc trong lịch sử nhân loại, và bành trướng khắp thế giới như hôm nay.

Có thể ví Thiên Chúa giáo lúc bấy giờ như vương triều nhỏ bé Tần vào thời chiến quốc Trung Hoa cổ đại, Constantine như Lã Bất Vi. Họ Lã dâng vợ mình đã mang thai với vua Tần, vua ham nữ sắc đâu có ngờ âm mưu mua vua bán chúa mặc dù dư biết Lã Bất Vi là tay cáo già, và Constantine buôn thần bán thánh dù Thiên chúa giáo cũng dư sức biết mình bị lợi dụng. Nhưng khi Tần Thỉ Hoàng trị vì, ông cũng chẳng coi Lã Bất Vi ra gì, điều ông muốn là giang san to lớn, quyền hành tột đỉnh. Đế quốc La Mã tuy có hùng mạnh một thời như Lã Bất Vi được quan to chức lớn nhưng cuối cùng chính con ông đã giết ông; cũng vậy, sau khi Constantine mất, quyền bính thực sự dần dần rơi vào tay giáo hoàng được ví như nhà Tần thống nhất Trung Hoa.

Họ Lã hay Constantine, Nhà Tần hay đạo Thiên chúa đều lợi dụng nhau, đều vì quyền lợi thế tục mà rêu rao nhân ái chính nghĩa phúc âm, giương cao ngọn cờ thống trị, cho nên, khuôn mặt trơ trẽn của các đế quốc khát máu rất giống nhau: Công giáo, nhà Tần, và Tập Cận Bình đều y chang về thủ đoạn: khi là con cừu, khi là con cáo, và cuối cùng khi là con cọp thì chỉ có gươm dáo và súng đạn, là cái lý của luật rừng. Lịch sử phát triển và vinh quang của họ được viết toàn bằng máu không có gì lạ; nếu có lạ, thì  ngày đó người người theo vì sợ và vì được cơm ăn áo mặc, điều khó hiểu là bây giờ còn có gì phải sợ, cũng chẳng được cơm cháo gì; sao vẫn có hằng triệu người răm rắp tuân theo giáo lệnh bảo chết không dám sống thế kia?

Ngay cả vợ con của Charlie Nguyễn, thà mất cha mất chồng chứ chắng dám mảy may làm Chúa phật ý sợ mất dấu thiên đường. Hiện thực này cho thấy rằng, trở thành dân Chúa, thì gia đình cha mẹ chồng vợ đều không gì bằng Chúa, nói chi tổ tiên dân tộc? Đây là trường hợp điển hình nhất, không cần truy cập qua bằng chứng sách vở hay lịch sử.

Sau khi có dấu hiệu bang giao giữa Vatican và VN, giám mục Ngô Quang Kiệt đã dám bắt đầu thách thức với nhà nước CS trong việc hô hào giáo dân đòi lại những bất động sản đã bị quốc hữu hoá. Nhà nước không dám đàn áp cuộc nổi loạn này, đã nhờ Vatican can thiệp. Ngô Quang Kiệt chỉ rút lui khi lệnh đến từ Vatican, hoàn toàn xem thường luật pháp VN. Q

ua vụ nổi loạn này ta thấy nhà nước có phần đã suy yếu so với lúc chủ tịch Hồ Chí Minh hay tổng bí thư Lê Duẫn còn tại vị, đồng thời cũng thấy được ảnh hưởng Công giáo VN trên chính trường hình như đang được hồi sinh, dấu hiệu yếu kém này càng rõ hơn khi nhà nước hiện tại, thay Ngô Đình Diệm, tái vinh danh Alexandre De Rhodes, tên gián điệp ngoại hạng đã tạo biết bao thuận lợi văn hóa và quân sự cho thực dân xâm lược.

Quốc gia nào yếu kém thì giáo quyền càng mạnh, giáo quyền mạnh kéo theo thế quyền và nâng thành lực đối trọng, như ở Philippines, các quốc gia Mỹ Châu La Tinh, những nơi mà khi quyết định điều gì, các tổng thống phải cân nhắc, hỏi ý các hồng y, các giám mục trước khi ban hành một đạo luật. Lực dối trọng luôn là dấu hiệu tốt cho dân chủ, nhưng là liều thuốc độc đối với dân chủ nếu nó lọt vào tay tôn giáo trá hình.

Đạo Công giáo VN đã thống trị tại VN như là một đại diện của thế quyền từ thế kỷ thứ 19 sau khi một hiệp ước được ký kết giữa Gáo Hoàng Pie 11 và vua Pháp Napoléon 3 và Pháp tiến đánh VN năm 1858, Pétrus Ký đã viết thư khẩn thiết kêu gọi Pháp đem quân sang VN vào thời kỳ này. Sự tham gia của người Công giáo vào cuộc xâm lăng của thực dân Pháp là điều không chỉ  hiển nhiên, mà là  chẳng cần phải chối cãi. Đó là sự tham gia của dân cùng khốn bất mãn chế độ, đã cải đạo từ nhiều đời hoặc có cảm tình với các giáo sĩ. Đó là sự tham gia của nghèo đói vô minh vào giòng nước giàu có phi nghĩa; hai bên, nhà nước phong kiến và giới nghèo đói ít học, đều là nạn nhân của một thực tại lịch sử.

Như trên đã nói, bất kỳ một sự áp bức nào cũng sẽ bùng nổ. Người nghèo vô học dưới thời nhà Nguyễn phong kiến ở VN theo các giáo sĩ là cách thức để họ đổi đời, chỉ khác một điều là họ vô tình bị các giáo sĩ lợi dụng họ khiến cho họ phản quốc mà họ chưa ý thức được. Vào thời ấy ngay cả ý niệm quốc gia dân tộc cũng còn rất mù mờ. Khi ý thức được mình theo Pháp đánh lại dân tộc mình là lúc giáo dân đã trở thành người trí thức, thì lời thề với Chúa cũng đã ăn sâu vào họ quá nhiều đời. Lúc mà địa vị xã hội đã cao xa hơn những người yêu nước chống Pháp, bảo họ tự nhận là phản quốc, thì trước hết là không cam, sau nữa, ai nỡ lòng bỏ qua được vinh hoa phú quý, rồi cái mặc cảm bị phỉ nhổ là phản quốc đã phản ứng tự nhiên khiến ai cũng xông lên để tự vệ, dù là lý luận hàm hồ. Nói thế không có nghĩa rằng tất cả giáo dân đều thấy cái sai lầm vô minh mang nhiều tính chất lịch sử này. Hình như có một người Công giáo mà tôi không nhớ tên cho rằng, tội phản quốc là một tội phi lý, chẳng thể xác định được thế nào là phản quốc, họ vẫn cho rằng theo Pháp là đúng, là học hỏi văn minh, là được khai hóa.

▪ 5.b. Ngô Đình Diệm đáng lẽ phải ý thức được tính cách nguy hiểm của giáo quyền.

Trên đây là sự cưỡng bức văn hoá Thiên chúa vào VN, bây giờ trở laị đề tài NĐD

Ngô Đình Diệm là người duy nhất của lịch sử có thể hóa giải được xung đột tôn giáo lương đạo, vì ông là người tổng thống duy nhất theo Thiên chúa mà lại thấm nhuần (?) Nho học. Đáng lẽ ông phải ý thức được tính cách nguy hiểm của giáo quyền đối với bất kỳ một quốc gia nào mà nền tảng dân chủ và dân trí chưa được vững mạnh, ông nên cùng với anh ông, giám mục Ngô Đình Thục, vận động để giáo hội lìa xa tòa Thánh, giảm bớt tính cách kiêu binh của các cha cố, tìm cách nhẹ nhàng nhưng đầy niềm tin đưa CG vào với dân tộc.

CG chỉ có thể mang màu sắc dân tộc khi mà Chúa trời hay Chúa ba ngôi không còn là do các tu sĩ làm đại diện nữa, thay vào đó chính là sức mạnh nội tại của đức tin, của đạo đức. Chỉ như vậy, họ vẫn thực hành được tín ngưỡng mà không bắt buộc phải có mặt của những người tự cho là đại diện của Chúa, thì sẽ không ai xúi giục họ lìa bỏ dân tộc để phục vụ một thế lực chính trị phi dân tộc.

Cho nên, giáo quyền cần được loại trừ khỏi CG để tôn giáo này có thể cùng với các tôn giáo khác hòa quyện vào sự chia sẻ một "tương lai chung" cuả đất nước, tôi xin mượn cụm từ khá hay mà Nguyễn Gia Kiểng hay sử dụng, cụm từ này trong Pháp ngữ là "l'avevir commun" cũng thường được Alain Peyrefitte sử dụng trong hầu hết sách của ông.

Sự lựa chọn nhỏ bé của NĐD quả thực đáng tiếc.

Đáng tiếc cho cả ông và cho cả tôn giáo của ông mà ông rất muốn nó phát huy mạnh mẽ ở VN.

Cho ông, vì ông sẽ trở nên là một vị anh quân sáng suốt, người dìu dắt con thuyền quốc gia ra khỏi vũng lầy của lịch sử, từ phong kiến và thực dân nô lệ thành tự do dân chủ đúng nghĩa, như bài hát suy tôn mà học sinh phải hát lúc ông còn cầm quyền. Ông chỉ cần suy nghĩ như một người VN, làm cái gì cũng vì dân tộc VN, được thiên mệnh của nhà Nho khi ngồi ở ngôi cửu ngũ, chứ chẳng cần tư tưởng của Emmanuel Mounier hay Chantal Delsol gì cả, miễn là thương dân như con đẻ, thì tự nhiên sẽ quốc phú binh cường. Công giáo không chống ông, vì ông là giáo dân. Phật giáo sẽ tôn trọng ông vì ông chủ trương một nhà nước thế tục bình đẳng tôn giáo. Ông lo cho dân thì sẽ ít bất công xã hội, CS sẽ ít cơ hội để nắm kiểm soát vùng thôn quê đi đến chiến thắng. Ông không bị lật đổ thì tình hình chính trị miền Nam không thể đi vào ngõ cụt. Khi ông già đi, với bao nhiêu xây dựng mà ông làm cho dân tộc, sẽ có người nối tiếp truyền thống của ông mà tiến tới, sẽ có linh mục hay giám mục đến chùa uống trà đánh cờ với sư cụ trong mối tương kính đầy chân tình.

Cho tôn giáo ông, vì CG sẽ nhờ oai đức của ông, không cần những hành vi thiếu đạo đức, ám muội; mà đường đường chính chính, cùng với dân tộc, trong đó có các tôn giáo bạn, xây dựng miền Nam, làm cho miền Nam hơn xa miền Bắc; rồi đi đến giải phóng miền Bắc bằng các phương thức hòa bình. Chỉ bấy nhiêu, đơn giản vô cùng, CG có thể đã có dân số không thua Phật giáo, không có cái mặc cảm bán nước hay thiểu số yếu kém.

Chỉ một mình NĐD có cái may mắn lịch sử ấy.

Nhưng lịch sử không thể tái diễn để cụ có thể tái sinh và làm cho hòn ngọc viễn đông được bóng láng sáng chói hơn.

Sau khi NĐD bi lật đổ, miền Nam ngày càng hổn loạn, gần như vô chính phủ. Nói thế không có nghĩa là NĐD giỏi hơn các nhà nước sau này, mà chỉ vì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫn còn nằm trong tình trạng kiện toàn lực lượng nép kín (tiềm long vật dụng). Sử gia Theodor Draper viết:

The Communist version agrees that Diem had the Communists at bay in 1955-59. The Australian Communist journalist, Wilfred G. Burchett, was told that the Communist line in the South until the end of 1959 was exclusively for “a legal, political, non-violent form of struggle.” (sđd) [Cộng sản thừa nhận rằng Diệm đã làm cho Cộng sản bó tay từ năm 1955 đến 1959. Một ký giả CS Úc, ông Wilfred G. Burchett, được biết rằng mãi cho đến cuối năm 1959, hàng ngũ CS ở miền Nam chỉ là một cuộc đấu tranh "hợp pháp, chính trị, và bất bạo động"]

Phật giáo sau 1963, đã có một vị thế chính trị tuy không có giáo quyền, nhưng lại có ảnh hưởng trên thế quyền. Ảnh hưởng này đã làm PG đi sai con đường nguyên thủy của nó vào năm 1966, chẳng những không làm PG thêm mạnh như một số các giáo phẩm nghĩ, mà còn đào sâu chia rẽ và hận thù dân tộc. May mắn thay, PG đã kịp thời dừng lại từ sau Tổng công kích Mậu Thân.

Trên diễn đàn chính trị từ 1968 chỉ còn Công giáo với những phong trào đánh sau lưng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tháng 12-1969, Giám Mục Phạm Ngọc Chi, phó chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam, qua Hoa Kỳ, đã tuyên bố với báo chí Mỹ: “Miền Nam đồng tình với chính sách ‘Việt Nam hóa chiến tranh’ của tổng thống Nixon.”, sau khi giáo Hoàng Phao Lồ 6 kêu gọi hòa bình ở VN.

Năm 1972, Ki Tô hữu quốc tế nhóm họp tại Canada Québec lên án Mỹ trong chiến tranh VN.

Các linh mục Phan Khắc Từ,  tuyên úy của quân đội; Nguyễn Viết Khai; Trương Bá Cần, tuyên úy của quân đội, đều lần luợt lên án chiến tranh và chống Mỹ từ 1971 đến 1973 và Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình, bất chấp lập trường bốn không của Nguyễn Văn Thiệu, vẫn công khai kêu gọi bắt tay với miền Bắc. 

Bên Phật giáo chỉ duy nhất có Thích Trí Quang đưa ra chiêu bài hòa bình hòa hợp và hòa giải dân tộc nhưng các giáo phẩm cao cấp khác của Phật giáo khác như Thiện Minh, Huyền Quang không chấp nhận.

Cho nên có thể nói rằng, càng gần với ngày miền Nam sụp đổ thì CG càng đấu tranh chống chính quyền một cách mãnh liệt đã tạo cho miền Nam một bầu không khí vô chính phủ, và báo chí Mỹ đã cho dân Mỹ và quốc hội Mỹ thấy một không khí thua trận tại VN, nhất là phong trào chống tham nhũng của LM Trần Hữu Thanh, Đinh Bình Định cầm đầu. Họ viết thư yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu từ chức, họ biểu tình hằng tuần và phát động phong trào Công giáo chống tham nhũng rầm rộ ở Sài Gòn. Các hành động rất ăn khớp với nhau giữa HK, Vatican, CGVN và CS Hà Nội không thể không làm cho người trí thức hay kẻ viết sử đặt ra nghi vấn là đã có thỏa ước giữa Vatican, Hoa Kỳ, và Hà Nội đưa miền Nam vào chỗ bị xóa tên, với những yêu sách theo quyền lợi của các bên trong giao ước? Giáo hoàng Paul 6 không tiếp tổng thống NVT, lại chịu tiếp kiến Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, chẳng phải là một dấu hỏi lớn? Sao chả thấy trí thức CG nào chưởi giáo hoàng thỏa hiệp với CS mà lúc nào cũng đem sư sãi ra thóa mạ? CS đã nhân cơ hội, nhà chiến lược quân sự nào mà chịu bỏ qua một cơ hội vàng, đã đẩy mạnh chiến tranh VN, họ đã chiến thắng một cách quá dễ dàng gần như không ngờ trước.

▪ 5.c. Mô hình giáo quyền và thế quyền phân lập của Huntington ở Âu Mỹ.

Như trên đã trình bày, Thiên chúa giáo  là văn hóa được áp đặt vào VN dưới thời Pháp thuộc. Khi NĐD chấp chánh, nó được vinh danh là "công giáo", nhưng nó không bao giờ thỏa mãn địa vị ấy, nó chỉ muốn độc tôn. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu (NVT), vì đã mất địa vị ưu liệt như thời NĐD, nên nó luôn phá đám, và khi cảm thấy nguy hiểm, nó sẵn sàng bán con chiên (NVT) để thỏa hiệp với bất kỳ kẻ mạnh nào cho mưu đồ thống trị, nhưng nó đã thất bại, vì kẻ mà nó muốn thỏa hiệp biết đi guốc trong lòng của nó, đó là CS.

Văn hóa chính của Thiên Chúa Giáo là cầm quyền, là làm vua của vua, là tóm thâu cả trái đất. Khi chưa được địa vị ấy, nó là thế lực của kẻ chia chén cơm với vua chúa và quý tộc, trở nên là một lực lượng chính trị, dù ít giáo dân so với các tôn giáo khác, nhưng nhờ có giáo quyền mà nhà nước nào cũng phải tính phần của nó khi chia cơm.

Mô hình của Âu Mỹ mà Huntington gọi là giáo quyền và thế quyền phân lập, César và Thượng Đế độc lập với nhau không thể áp dụng ở Đông Á. Ki Tô giáo ngoài Âu Mỹ là Ki Tô giáo của Âu Châu trước thế kỷ 18, nơi đó César phải quỳ xuống xin thượng đế xức dầu và ban kiếm báu để lên ngôi. Người Ki Tô giáo da màu đang đeo đuổi cái mà bực thầy da trắng của họ đã từ bỏ, nghĩa là vẫn chủ trương khai hóa dân nghèo, vẫn cho rằng thiên đường chỉ có cho ai theo Chúa, vẫn phải gieo trồng đức tin của Chúa Trời khiến cho ai ai cũng phải từ bỏ tâm linh và truyền thống của mình để theo Chúa, mà thực tế là theo giáo hội.

Lý Chánh Trung, một trí thức Công giáo phải chua xót viết rằng:

"Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (La Mã) đã trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "Tà Thần", đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu sửa sai.

...Ngày nay mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo dưới các Vua triều Nguyễn là mộ hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các vị Vua ấy, và cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn" (Tôn Giáo và Dân Tộc, Lý Chánh Trung)

CG Việt Nam hiện tại chưa nắm được thế quyền như họ mong muốn, nhưng họ đang bằng mọi giá tranh đấu cho được cái phần đó. Trong nước hay ngoài nước, các lực lượng CG đều tích cực chống cộng, đặc biệt là từ khi giáo hoàng J. Paul 2 trở thành hình ảnh lãnh tụ lật đổ nhà nước Cộng Sản Ba Lan. Càng chống cộng, dù chưa đạt được mục đích, vẫn tạo được áp lực đối với nhà cầm quyền, khiến chính quyền phải e dè, phải nể nang. Sự e dè nể nang này là lực đối trọng, đã là phần nào của thế quyền chính trị. Công giáo không thể chấp nhận chỉ đơn thuần tự do hành đạo như các tôn giáo mà không tham dự chính sự, vì bản chất thực sự của CG là một tập đoàn chính trị.

CSVN chèn ép PG (qua vụ phái thiền Làng Mai) có phần nặng hơn chèn ép CG, có lẽ vì vẫn e sợ thế lực của giáo hoàng, cũng có lẽ vì họ biết rằng, CG có thể thỏa hiệp với bất kỳ nhà nước nào, miễn là nhà nước ấy cùng họ đi chung một mục đích: hưởng thụ quyền lực và giàu sang trên sự ngu dốt của dân đen, đó cũng là  hình ảnh của giáo hoàng và tăng lữ trước cách mạng Âu Châu. Tuy nhiên, nhà nước cần lưu ý rằng, thỏa hiệp với Công giáo là tự sát. Tôi cố ý dùng từ chèn ép, vì CSVN chưa bao giờ đàn áp tôn giáo như Ngô Đình Diệm đã làm.

Nhưng tại sao ta vẫn thấy nhan nhãn những hô hào về hạnh phúc thế gian do sách Phúc Âm rao truyền ?

Công tâm mà nói, vẫn có rất nhiều những người tốt bụng theo Ki Tô giáo. Nhưng thực tế những người Ki Tô này đã được chinh phục bởi Kỷ Nguyên Ánh Sáng. Họ không bỏ đạo, nhưng cũng không hoàn toàn ủng hộ giáo hoàng. Họ như là những tôi trung với vua vào thời kỳ cuối cùng của thời đại, là Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản dù biết Nguyễn triều không còn trụ được bao lâu. Thành phần này đã tạo cho Công giáo bộ mặt văn minh, nhân ái.

Ngoài ra cần phải tô đậm sự khác biệt giữa Công giáo Âu Mỹ hoàn toàn khác biệt với Công giáo VN, và CGVN vẫn khác xa CG của các quốc gia khác trên thế giới như CG Nhật Bản, CG Đài Loan, thậm chí CG Nam Mỹ. Tôi có thể tìm thấy rất nhiều người Nam Mỹ thưởng thức tư tưởng hòa bình từ bi của đạo Phật, thậm chí ăn chay trường và tu thiền, nhưng tìm một người Công giáo VN không kỳ thị PG thì gần như rất khó, cho nên có thể nói bảo hoàng hơn vua là dân Chúa VN mà ít sợ sai lầm.

Tuần báo “Gia đình Ki Tô giáo” (Famille Chrétienne) của Pháp số 1894 ra ngày thứ bảy 03.5.2014 viết về các hoạt động từ thiện của hiệp hội từ thiện Công giáo với cái tít thật lớn:

Associations caritatives catholiques : pas de charité sans le Christ (Không có Chúa Ki Tô không có từ thiện)

«Pour nous chrétiens, Dieu Lui-même est la fontaine de la charité, et une charité qui n’est pas seulement de la philanthropie, mais le don de soi, jusqu’au sacrifice de sa propre vie », lance le cardinal Robert Sarah

Hồng y Robert Sarah khuyến khích “Đối với chúng ta những người Ki Tô giáo, Thượng Đế ngài chính là suối nguồn của lòng từ thiện, một lòng từ không phải chỉ là đức bác ái, mà là sự bố thí từ bên trong mình, đến có thể hy sinh cả mạng sống”.

Đọc lịch sử ta thấy giáo hội lúc còn son trẻ đầy quyền lực và giàu sang thì không cần nhiều son phấn, thậm chí có lúc còn ăn mặc rất sộc sệch trước giáo dân hay công chúng (hình ảnh vô đạo đức).

Trái lại, bây giờ giáo hội đã thành bà già, cần tô son trét phấn (hy sinh mạng sống cho lòng từ ái); nhưng càng tô càng trét, cái nhan sắc về chiều của giáo hội vẫn không hơn. Tôi chưa bao giờ thấy trong lịch sử La Mã có sự bố thí và hy sinh đến cả mạng sống cho tha nhân (xem bài "" Trần Tiên Long dịch; và mục "3. Hãnh Diện Vì Ca-tô Rô-maGiáo Là Đạo Bác Ái" trong bài " của GS Trần Chung Ngọc.) Ngược lại đọc tiền thân đức Phật Thích Ca luôn là hiến thân làm thịt nuôi chúng sanh.

Thực thế, nếu Thiên Chúa mà nhân ái bao dung như họ đang rao giảng thì đã không có cuộc cách mạng 1789. Các triết gia như Voltaire, Diderot, Russell, Nietzche văn hào như Vitor Hugo, Léon Tolstoy đã không ngần ngại xem đạo Thiên Chúa như là một thứ mê tín dị đoan ngu xuẩn, thậm chí Voltaire còn tự hào mình là 'vô thần'; vì vô thần, theo Voltaire là không bị bùa mê cháo lú của giáo hội làm mất trí óc. Người có ánh sáng, hay vô thần, vào thời đại của Voltaire ở Âu châu còn hiếm hơn kim cương màu hồng nhạt trên thế giới. Tôi không trích dẫn những lên án của các danh nhân trên ra đây, vì giáo sư Trần Chung Ngọc, Charlie Nguyễn, và rất nhiều trí thức VN khác đã trích dẫn (). Hơn nữa, nếu muốn tìm hiểu và  biết truy cập Internet là có thể tìm đọc về lịch sử các giáo hoàng, về kinh thánh, về cách nhìn của trí thức tây phương đối với thần học Thiên Chúa.

Thực ra nếu đạo Thiên Chúa không trở nên là công cụ của hoàng đế Constantine và sau này là của 17 thế kỷ các đời giáo hoàng, có lẽ nó không bá đạo như hình ảnh mà ta thấy theo sách vở và lịch sử. Và thêm một có lẽ nữa, rằng nếu Ngô Đình Diệm không xem Chúa quan trọng hơn tổ quốc, không nghe lời Ngô Đình Thục, không ưu tiên cho Công giáo, và cai trị VN như một vị tổng thống thực sự thế tục (laïque) như hiến pháp quy định, thì người Mỹ đã không khinh thường ông, và chắc chắn Ngô triều đã không yểu mệnh; Công giáo có thể đã có một địa vị ưu việt tại VN mà không chừng còn lấn át Phật giáo về dân số, không cần bắt cải đạo qua hôn nhân, hoặc bắt con đỏ phải làm lễ rửa tội khi mới sinh ra.

CG mà không tuyên truyền về phép lạ, không cho ăn bánh vẽ, không bêu xấu Phật giáo ngay trong kinh nguyện dành cho giáo dân, không ưa thích quyền bính thế tục, không có ý đồ tiêu diệt các tôn giáo khác, đó không phải là CG nữa.

CG cần thay đổi để hội nhập vào VN chứ không nên tìm cách thống trị ở VN. Có lẽ đó là phương cách mà các giáo sĩ tây phương lý ra đã phải làm từ thế kỷ thứ 16, 17 cùng lúc với kỷ nguyên Ánh Sáng lóe rạng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ.

▪ 6. Máu mạch của dân tộc

Vậy thì cái gì đã trở thành máu mạch của dân tộc?

Văn hóa nào đã hội nhập và trở thành văn hóa VN ?

Đó là ba nền văn hóa Phật, Khổng, Lão.

Phật, Khổng và Lão giáo đã chung sống ở Việt Nam rất sớm, chỉ khoảng hơn một thế kỷ sau công nguyên. Theo GS Nguyễn Lang thì Mâu Tử là một người Trung Hoa di cư sang Giao Châu, gặp Phật pháp tại đây và, từ một người có học vấn uyên bác về Nho và Đạo, sau khi nghiên cứu Phật học, ông bị lôi cuốn đã trở thành tu sĩ Phật giáo. Ông sáng tác cuốn sách nổi tiếng Lý hoặc Luận, là tác phẩm đầu tiên về Phật học bằng Hán văn. Như Vậy Mâu Tử là đại diện cho cả tam giáo tại VN.

Lý hoặc Luận phản bác lại các công kích của Nho gia vào đạo Phật, và sau này trở thành một tác phẩm then chốt cho việc nghiên cứu vừa mang tính triết học lại vừa đậm nét lịch sử. Sách này thường được những học giả lớn của thế giới quan tâm như Henri Maspéro, Paul Pelliot, Fukui Kojien, Mastsumoto Bunzaburo, Thích Nhất Hạnh, Trần Văn Giáp, Lê Mạnh Thát.

Dấu ấn của tam giáo trong Mâu tử được ghi lại ngay trong bài tựa Lý Hoặc Luận :"Từ đó, dốc chí vào đạo Phật, gồm ngẫm Lão tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làm rượu ngon, xem Ngũ kinh làm đàn sáo. - Ư thị duệ chí ư Phật đạo, kiêm nghiên Lão Tử ngũ thiên văn, hàm huyền diệu vi tửu tương, ngoạn ngũ kinh vi cầm hoàng."

Tại sao phản biện lại Nho giáo lại bảo là tam giáo đồng nguyên? Dĩ nhiên khi Nho gia tấn công, họ cũng tấn công một cách minh bạch vì dù sao Phật giáo không phải là sản phẩm của TQ. Ở Tây phương việc các triết gia phê bình nhau cũng rất bình thường, họ công khai tranh luận, nhưng tranh luận triết học và khoa học không bao giờ có thể cho phép sử dụng các biện pháp ám muội; đồng thời khi tranh luận, cần dẫn chứng tài liệu, có bằng cứ xác thực, có luận cứ rõ ràng và không được nói khống.

Vua Trần Thái Tông cũng chủ trương tam giáo đồng nguyên, Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, vua viết:

Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,
Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm
.

(Chưa ngộ thì chia có ba tôn giáo, đắc rồi chỉ ngộ có một tâm)

Cho nên tam giáo đồng nguyên là sự hài hòa của ba tôn giáo tại VN đã từ rất lâu và đã trở thành một phần tử không thể chia cách của VN. Nhưng sau khi thực dân Pháp đến VN, Lão giáo và Khổng giáo đã dần dần lu mờ mà chỉ còn Phật giáo.

Nói về VN mà không nói về hai thời đại Lý Trần thì không khác nói về HK mà không nhắc đến Washington, Jefferson; hoặc nói về khoa học mà không đề cập đến tên của Einstein.

Nhà Lý lập nghiệp với ông 'thầy chùa con' Lý Công Uẩn, con nuôi của hai thiền sư Lý Khánh Vân và Vạn Hạnh, nên dĩ nhiên đạo Phật gần như là quốc giáo. Chỉ cần thấy Lý Công Uẩn đặt tên cho con trai Lý Phật Mã 李佛瑪 sau này là Lý Thái Tông (Mã ở đây không phải là ngựa của Phật, mà là viên ngọc mã não Phật ban cho vua) thì đủ biết vua sùng đạo đến mức độ nào, nhưng cai trị đất nước đều là người Nho giáo vì ai cũng biết Phật giáo dựng nước, cứu nước, nhưng chưa bao giờ tham chính cai trị đất nước. Sau Lý đến Trần, cũng hưng thịnh không kém. Nhà Trần đã sản xuất ra vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo mà ngày nay cả thế giới đều nghiêng mình kính phục, vì đã là một trong những chiến lược gia hiếm hoi đánh tan được vó ngựa Mông Cổ. Nhà Trần còn có vị vua Trần Nhân Tông, được đời tôn xưng là Phật Hoàng, người đã lập ra phái thiền tông Trúc Lâm Yên Tử.

Vậy thì, từ năm 1009 đầu đời Lý đến 1400 cuối đời Trần, gần 400 năm Phật giáo hưng thịnh, mà tuyệt nhiên không hề có lúc nào đạo Phật ỷ vào ưu thế để đè nén Khổng Giáo hay Lão Giáo. Phật giáo còn xem Khổng Tử là thánh nhân, trong Sơ Đẳng Phật Học giáo khoa thư, không hề phản bác Nho học hoặc chê bai Khổng tử, ngược lại xem Khổng Tử là Thánh, như sau :

佛者,佛 陀之省稱。是覺悟自心,救度衆生,達到圓满, 者之德號。如中国之尊稱孔子為聖人一樣 ,有歷史,有事實。而其智慧能力尤大,所以尊稱為佛。

Phật giả, Phật đà chi tỉnh xưng. Thị giác ngộ tự tâm, cứu độ chúng sinh, đạt đáo viên mãn giả chi đức hiệu. Như Trung Quốc chi tôn xưng Khổng Tử vi Thánh nhân nhất dạng, hữu lịch sử, hữu sự thực. Nhi kỳ trí huệ năng lực vưu đại, sở dĩ tôn xưng vi Phật.

Dịch của ngài Thích Hành Trụ: Phật, tiếng gọi tắt của hai chữ “Phật đà”, tức là đức hiệu của bậc đã Giác ngộ nơi tự tâm và cứu độ mọi loài đạt đến quả viên mãn. Cùng một cách như dân tộc Trung Hoa tôn xưng đức Khổng Tử là bực Thánh nhân, có lịch sử, có sự thật. Song trí huệ và năng lực của Phật quá lớn, cho nên được tôn xưng là Phật.

Gọi là sơ đẳng giáo khoa, có nghĩa là sách dạy cho các chú tiểu, hoặc người mới vào đạo. Sách hoàn toàn không nhồi nhét những tư tưởng chống Khổng Tử là tà đạo này hay dị giáo này nọ. Cho nên chẳng lạ gì khi vào văn miếu, các sư các hòa thượng đều cung kính vái chào thánh tượng của đức Vạn Thế Sư Biểu, mà chắc chắn họ không làm như vậy đối với Giêsu.

Mỗi lần tôi vào giáo đường, lúc nào tôi cũng tôn trọng Chúa mặc dù không làm dấu Thánh giá. Tôi tôn trọng Chúa vì có nhiều người theo ngài; tôn trọng ngài là tôn trọng sự khác biệt văn hóa giữa tôi và người khác chứ hoàn toàn không vì triết lý, lịch sử cũng như niềm tin mạc khải.

Ba vị thánh phương Đông đều là nhân vật lịch sử, không mơ hồ mù mờ, có sách vở để lại, không râu này chắp cằm nọ, giáo lý nhất quán, dù có khác tông khác phái, vẫn chứng minh cùng một nguồn tuệ giác. Đạo Phật có tam tạng kinh, luật, luận; Khổng giáo có Tứ thư, Ngũ Kinh chưa kể Trình Di, Chu Hy... Lão giáo có hai kinh điển mà ngày nay, từ tây sang đông ai đọc cũng khâm phục, là Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh.

Ba tôn giáo này đã cùng với dân tộc VN sống hằng nghìn năm suy thịnh; theo ngôn ngữ nhân gian là, có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, cùng nằm gai nếm mật với thăng trầm lịch sử, cùng chia ngọt xẻ ngọt bùi với phong vân tuế nguyệt; cho nên nói đến VN mà không nói đến ba tôn giáo này chẳng khác nói về Pháp mà không nói đến cách mạng 1789.

▪ -- Phật tử sẵn sàng bắn vào tượng Phật nếu kẻ thù đem tượng Phật làm bình phong

Đã từng có bôi nhọ trên web với ý đồ đồng hóa tượng một vị Phật hay Bồ Tát với Tàu Khựa https://www.youtube.com/watch?v=XgJFaqX6kw8. Bức hình đầu tiên chống TQ, là hình một vị bồ  tát Phật giáo, dĩ nhiên, họ muốn đồng hóa TQ với PG, rằng PG là kẻ thù của dân tộc. Họ gian mà không ngoan, đưa tấm hình này bảo dân VN thù hận TQ thì quá ngây thơ, chỉ có tác dụng phản tuyên truyền.

Người CG không bước qua Thánh giá, nhưng Phật tử sẵn sàng bắn vào tượng Phật nếu kẻ thù đem tượng Phật làm bình phong để xâm lược mà hoàn toàn không sợ đắc tội với đức Như Lai, đó là chỗ khác biệt của PG, nhất là PGVN, đã hòa nhập vào giòng chảy của dân tộc.

Cũng đã từng có sách viết bôi nhọ và hạ bệ Nho giáo, chẳng hạn nói Khổng Tử thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ là dạy con người chỉ tin vào các tư tưởng cổ hủ, không biết sáng tạo, trong khi chính kẻ cầm bút chê người  kém sáng tạo lại hết sức thản nhiên ăn trộm tư tưởng của Samuel P. Huntington (Le choc des civilisations) để viết về giá trị châu Á và tự cho là mình sáng tạo, nói những gì chưa ai nói.

▪ 7. Ăn trộm tư tưởng của Samuel P. Huntington

Trong bài viết Các giá trị châu Á? của cuốn  Tổ quốc ăn năn (), Nguyễn Gia Kiểng (NGK) viết:

«Về điểm này phải nói rằng sự phân biệt giữa tôn giáo và chính trị, giữa Thiên Chúa và Ceasar, quả là một đặc tính của tư tưởng phương tây. Tại các nước châu Á, Thượng Đế và Vua liên hệ rất mật thiết với nhau, khi không phải là một. Tại Trung Quốc, dưới ảnh hưởng Khổng Giáo, vua là thượng đế; tại các nước Hồi Giáo như Pakistan và Bangladesh, thượng đế là vua, còn tại Ấn Độ và hai nước theo Phật Giáo là Thái Lan và Miến Điện, thượng đế chỉ là phụ tá ngoan ngoãn của vua.»

Trong sách của Le choc des civilisations dịch từ tiếng Anh The clash of civilizations and the remaking of world order (Simon & Schuster xuất bản năm 1996) mà tôi đọc bằng tiếng Pháp do nhà xuất bản Editions Odile Jacob, trang 72, xuất bản năm 2001, Hungtinton viết như sau

«Au cours de l'histoire de l'Occident, l'Église, puis plusieurs Églises ont existé indépendamment de l'État. Dieu et César, l'Église et l'État, le pouvoir spirituel et le pouvoir temporel: voilà une forme de dualisme typique de la culture occidentale. Religion et politique sont distinguées aussi nettement dans la civilisation Hindou seulement. Dans l'Islam, Dieu est César ; en Chine et au Japon, César est Dieu ; dans le monde orthodoxe, Dieu est au service de César.»

Đa số các bạn trẻ ngày nay ít người học tiếng Pháp, thì có thể tra cứu nguyên tác trên bản tiếng Anh. Nhưng tôi cũng xin tạm dịch ra dưới đây cho những ai muốn biết rõ ngay sự việc :

«Trong chiều dài lịch sử của Tây phương, Giáo hội, rồi thì nhiều Giáo hội đã có mặt một cách độc lập đối với nhà nước. Thượng Đế và César, Giáo hội và Nhà nước, giáo quyền và thế quyền: đây là hình thức lưỡng nguyên rất đặc trưng của văn hóa tây phương. Chỉ trong Ấn giáo tôn giáo và chính trị cũng được phân biệt rõ rệt . Còn trong Hồi giáo, Thượng Đế là César (vua); Tại Trung Hoa hay Nhật Bản, César là Thượng Đế; trong các quốc gia Chính Thống giáo, Thượng đế là kẻ phục vụ cho César.»

Đọc hai đoạn văn trên, chắc chắn một trong hai người đã ăn cắp tư tưởng của nhau, vì không ai đưa ra xuất xứ sách vở của ai cả. Nhưng có lẽ Huntington, ngay cả tiếng Việt còn chưa đọc được, làm sao ông có thể đi săn tìm để đọc một tác giả nhỏ bé VN ?

Xin nói rõ, khi trích dẫn, những chữ viết hoa là do bản dịch viết hoa, nên tôi tôn trọng khi trích lẫn khi dịch, tôi chỉ viết hoa từ Chính Thống giáo mà bản Pháp văn không viết hoa. Ngoài ra, Lê Việt Thường đã tố cáo Nguyễn Gia Kiểng qua bài viếttrên Sachhiem.net về sự cóp nhặt tư tưởng của A. Peyrefitte trong cuốn Le Mal Français, ai muốn đọc thêm xin tìm trên trang mạng đã ghi. Ngoài ra, nếu muốn biết thêm về NGK, có thể đọc thêm tác giả Vũ Quang Huy, link: http://sachhiem.net/VANHOC/VuHuyQuang.php

Nói đến NGK và Tổ Quốc Ăn Năn, một người bạn 'thông luận' có kể cho tôi một mẫu chuyện nhỏ mà theo anh là chút kỷ niệm mà anh cho là đẹp giữa anh và ông ấy. Khi đọc bài Vượt lên trên ngày 30 tháng Tư, phải thú thực là anh rất mến NGK, anh thấy ông phóng khoáng có cái nhìn bất nhị của đạo Phật, dù ông là người Công giáo. Cũng theo anh ta, tinh thần vuợt qua khỏi cái Dualisme chính tà đen trắng chỉ có trong tư tưởng Phật giáo, chứ trong kinh Thánh, dù có tư tưởng nhân bản yêu thương, cũng luôn phân biệt chính tà; hay ngược lại là thường nguyền rủa, ganh tị, trừng phạt và phép lạ. Nếu giáo lý Thiên Chúa mà có tinh thần vượt lên trên nhị nguyên thì làm sao mà Giáo Hoàng lại hạ lệnh truy sát các nữ phù thủy một cách dã man chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại và kéo dài 300 năm (1450-1750). Bạn nào muốn biết rõ hãy xem Búa Phù Thủy, một tác phẩm bằng la tinh của hai linh mục Heinrich Kramer và Linh-mục James Prenger đã được Trần Quý Nhu dịch ra tiếng Việt http://community.vietfun.com/showthread.php?t=590827.

▪ -- Không đồng ý với tác giả Samuel P. Hungtinton về ý tưởng chủ quan

Ngoài ra tôi xin mở một dấu ngoặc nhỏ ở đây để không đồng ý với tác giả Samuel P. Hungtinton về ý tưởng chủ quan rằng chính trị và tôn giáo là hai lĩnh vực độc lập trong giá trị phương tây.

- Vậy Constantine đưa Công giáo lên làm quốc giáo với mục đích gì?
- Và suốt từ thế kỷ thứ 3 đến cách mạng Pháp 1789 các vua hay giáo hoàng cai trị Âu châu?
- Người giết Giordano Bruno và cầm tù Galilée là ai và vì sao họ phải làm như vậy?
Và họ nhờ giáo quyền hay thế quyền mà có thể bỏ tù hay giết người?
- Tại sao tôn giáo lại có thế hành xử quyền thế tục mà dám nói là hai quyền được phân biệt rõ?

http://beforeitsnews.com/spirit/2014/06/%E2%98%85was-jesus-mother-from-the-pleiadians%E2%98%85talmud-jmmanuel-ancient-scrolls%E2%98%85-what-organized-religion-does-not-want-you-to-know-ancient-pleiadian-contact-the-billy-2487664.html

Lò thiêu công cộng ở những nơi bị xử là "tà đạo". Ảnh http://beforeitsnews.com

Giả thiết nếu Giordano Bruno và Galilée cũng như Copernic sinh ra ở Nhật, TQ, VN hay Thái Lan họ có bị đối xử như vậy không ? Nếu Huntington cho đó là tây phương ngày xưa, còn tây phương bây giờ thì Thượng Đế và Giáo hội hoàn toàn độc lập. Xin hỏi ông,

- Vatican là một tôn giáo hay một quốc gia?
- Các quốc gia khi tiếp đón giáo hoàng với tư cách gì ?

Vậy mà ông dám thản nhiên viết rằng quyền lực tâm linh và quyền lực thế tục là hai phạm trù được phân biệt rõ ràng không trộn lẫn.

- Hồng Y Spellman vận động và can thiệp đưa NĐD về nước là thế quyền hay giáo quyền? (xem Who Rules? [Ai đang thống trị])

Nếu ông ăn trộm tư tưởng của NGK thì ông quá quá vụng về, học trò thường tỏ ra thông minh hơn thầy, đằng này ông lập lại không sai một ý! (Xin lỗi đây chỉ là một giả thiết, nhưng giả thiết NGK ăn cắp Huntington thuyết phục hơn)

Có thể nói ở Âu châu mà các vua chúa chỉ là bề tôi của giáo hoàng trong suốt gần 17 thế kỷ. J. Paul 2 ra lệnh không sử dụng bao cao su trong khi toàn thể các quốc gia văn minh đều khuyến khích, cổ xúy sử dụng nó để chống lại bệnh AIDS. Nếu J. Paul 2 chỉ có giáo quyền, ông nên im lặng trước quyết định của các chính phủ, đằng này ông cũng dùng quyền giáo hoàng để can thiệp vào chuyện sử dụng bao cao su, cho thấy ngay giáo quyền và thế quyền đã dẫm chân lên nhau một cách trắng trợn. Cũng may rằng các chính phủ Âu châu đã bắt đầu quyết định những gì cần làm bất chấp các Thánh Cha có vừa ý hay không.

Từ khá lâu, thế quyền đã thực sự trở về với nhà nước thế tục, nhưng muốn rằng chính trị và tôn giáo độc lập thì chỉ khi nào các Thánh cha đã hoàn toàn mất ảnh hưởng đối với quần chúng.

▪ -- Không thể dựa vào mô hình xã hội Âu Châu mà lý luận về Á Châu.

Người Tây phương khi viết về Á châu, họ dựa vào mô hình xã hội Âu Châu mà lý luận. Chẳng hạn Trời của người châu Á không phải là Thượng đế của người phương Tây. Trời châu Á là ông trời phiếm thần giống với tư tưởng Panthéisme hơn là tôn giáo, nên mới kêu trời mưa, trời nắng, trời đánh, thiên lương, thiên chức, thiên khiếu... khác với Thượng đế (TĐ) của Ki Tô giáo là một 'con người' như trong sách Sáng Thế Ký diễn tả, theo đó TĐ là con người rất giống chúng ta, vì ngài sinh chúng ta mô phỏng theo chính ngài; nhưng ngài rất cá biệt, đầy quyền năng, sinh và làm chủ vũ trụ, chứ ngài không phải là vũ trụ, ngài là một vô thể đầy ngã tính. Cũng như J. Paul 2, ông không thể nào hình dung được làm sao có thể cứu rỗi nếu không có TĐ, nên ông ngây thơ phê bình PG là tôn giáo vô thần thì không thể có cứu rỗi.

Tựa như con cá dưới nước, nó không thể hình dung được ngoài nước làm sao mà có thể di chuyển. Huntington cũng mắc vào khuyết điểm này, không hề có giáo quyền hay thế quyền cho Phật giáo hoặc Khổng giáo, nên sự phân biệt chính trị độc lập với thượng đế là vô nghĩa dối với Á châu. Khổng Tử là bề tôi của nhiều nước trong thời xuân thu, ông chỉ thuần túy là một nhà xã hội học, chính trị học và là triết gia nên gán ông vào một tôn giáo có thần thánh phép tắc là chuyện buồn cười, hãy xem ông như Socrate, Platon của Hy Lạp thì mọi thù hằn chưởi mắng ông sẽ giảm bớt rất nhiều.

Ở Á châu, không có giáo hội, nên không thể so sánh gì với Âu Mỹ cả. Có ai cảm thấy rằng giáo hội PGVN hoặc cao hơn nữa, người được mệnh danh là Phật sống Tây Tạng đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể ra lệnh để tín đồ làm một cái gì đó không? Tương tự, hội Khổng học cũng hoàn toàn vô quyền. Đã vô quyền thì không cần học đòi Tây phương, về hai cơ chế hoàn toàn độc lập, tựa như con rắn hai đầu. Suốt lịch sử Châu Á, chưa có tôn giáo nào đánh vua hoặc đánh nhau, nên việc phân biệt Cécar với thượng đế là chuyên lông rùa sừng thỏ. Ở Châu Á, chỉ có César đánh nhau với César mà thôi, và PG phụng sự cho chúng sanh chứ chả phụng sự cho bất kỳ César hay thượng đế hay ma quỷ thần thánh nào cả.

Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật, đó là câu nói mà Phật tử nào cũng biết, là tôn chỉ của đạo Phật.

Khi NGK viết bài Các giá trị châu Á?, ông tỏ ra hãnh diện về những cắp nhặt cho rằng chỉ văn minh tây phương mới có sự phân biệt giữa tôn giáo và chính trị, giữa César và thượng đế. Một là ông thiếu căn bản cách vật trí tri mới hãnh diện về sự phân biệt kh ông gì liên hệ đến văn hóa Á đông, hai là ông cố tình lập lận cho rằng ai cũng ngu cả, chỉ cần đem Tây ra thì bọn mũi tẹt ai cũng sẽ cúi đầu. Tôi xin phân tích như sau:

●   Thiếu căn bản cách vật trí tri: người Âu Mỹ vì ngộp thở hơn 17 thế kỷ dưới cả César lẫn Thượng đế, mà có khi họ không biết lệnh tàn sát, lệnh bóc lột đến từ đâu? Từ vua hay từ giáo hoàng? Ngay cả các tôn giáo thờ Thiên Chúa không có giáo hội cũng có thể huy động lực lượng Thánh chiến, sinh linh đồ thán từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, các vua chúa bất lực trước ảnh hưởng của tôn giáo, và người dân, hơn ai hết họ biết ngay cả vua cũng phải theo lệnh giáo hoàng hoặc lãnh tụ nhân danh Chúa, nên chính trị và tôn giáo trộn lẫn vào nhau như sình và phân, cái nào cũng nhơ nhớp và hôi thúi, tách cái này ra khỏi cái kia không được, vì cả hai đều quyện vào nhau mà lợi dụng lẫn nhau, nên dân Âu Châu, và ngay cả Mỹ châu trước khi giành được độc lập, phải sống chui rúc lầm than vì nghèo đói, bệnh tật và chiến tranh, thua cả dân châu Á cùng thời.

Người Âu Mỹ lúc tách rời được hai lãnh vực này ra khỏi nhau, như người Ả Rập hãnh diện tách rời thầy thuốc (médecine) và người bán thuốc (pharmacie), đúng là một cuộc cách mạng, một sự đổi đời to lớn. Nhưng dân Á Châu chưa bao giờ có giáo quyền, chưa bao giờ cần phân biệt tôn giáo và chính trị, chỉ có sình mà chưa bao giờ có phân, hai thứ này chưa bao giờ lẫn vào nhau, chưa có lãnh tụ tôn giáo ra lệnh tàn sát, thánh chiến, thì cần gì phải đem văn minh Ây Mỹ về mà hãnh diện áp đặt lên văn hóa VN?

Hãy đưa ra một thí dụ ở Hoa Kỳ, họ cần tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị, vì họ là nạn nhân, chẳng hạn khi bộ giáo dục bắt dạy về thuyết tiến hoá, thì nhà trường của các vùng ảnh hưởng nặng Thiên Chúa giáo không chịu dạy, hoặc thậm chí còn dạy thuyết Chúa sáng tạo ra vũ trụ, bốc đất hà hơi chế ra loài người vào thế kỷ 21! (xin xem Địa Cầu 6,000 Năm Tuổi ) Hoa Kỳ hay Âu Mỹ cần tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị, nên mới có những đạo luật Separation of church and state và có khi còn được gọi là wall of separation between church and state.

●   Lập luận gian ngoa là vì, tại sao VN hay các quốc gia cần phân biệt tôn giáo với chính trị theo mô hình tây phương, điều mà các quốc gia này không có mà tuyệt đối không cần phải có?  Lịch sử các dân tộc Châu Á chưa bao giờ có giáo quyền, hay ảnh hưởng mà giáo quyền có thể khiến các nhà lãnh đạo phải chú ý như ở Âu Mỹ. Phật giáo hay Khổng giáo, vì không mang hơi hướng thần quyền như Thiên Chúa giáo, cho rằng luật Chúa cao hơn luật thế gian, mà chỉ chủ trương làm cho xã hội yên trị thái bình. Phật giáo hay Khổng giáo đơn thuần là những đơn vị công dân trong một nước, nếu được kính trọng là nhờ họ có đạo đức, hữu xạ tự nhiên hương, chẳng phải vì hiến pháp cho họ một đạc quyền tách biệt. Trong lịch sử ta thấy duy nhất ở Trung Hoa có giặc Khăn Vàng làm loạn, cầm đầu bởi Trương Giác, lợi dụng Lão giáo kêu gọi dân chúng nổi lên chống nhà Hán, nhưng mục đích thì vẫn là César mượn thượng đế đế mưu cầu quyền lực, rồi sau đó sẽ cho thượng đế về vườn. Ở Châu Á không có tòa thánh đại diện cho Thượng Đế, tạo ra thêm một tập đoàn chính trị mà quyền lực không kém gì vua. Một ông thiên tử dân đã ngộp lắm rồi, thêm một ông con Thượng đế nữa chỉ gây ra mầm loạn.

Tóm lại, Văn minh Á Châu không có Thượng đế, mà có César là đại diện của quyền lực tối cao.

Sự gian ngoa của NGK về vấn đề này rất thâm. Có thể trước kia thì khó giải thích, nay có sự gian xảo của TQ về biển Đông, đem hai hành động này sáp lại, ta thất ngay NGK đem cái không có mà tạo ra được sự cần tranh cãi, như TQ cứ cho rằng biển Đông là của TQ dù trước đó chưa bao giờ có. Khi vấn đề từ không biến thành có là TQ đã giành được phần nào thắng lợi. Cũng vậy, các ông lãnh tụ kém kinh nghiệm dù không tôn vinh luật Chuá, hoặc một ông ngu ngơ luôn nghĩ Tây Mỹ luôn giỏi luôn cao hơn da vàng, đọc bài của NGK, cho rằng là văn minh, là nhân bản, bèn đem mô hình Tây phương ra áp dụng vào VN, thừa nhận tôn giáo và chính trị độc lập, tôi lập lại, độc lập (independent), từ mà cả Huntington và NGK đều dùng; là lọt tròng NGK. Khi tôn giáo được bình đẳng độc lập với chính quyền, thì có khác nào trao kiếm báu cho tôn giáo ấy muốn làm sao thì làm đối với giáo dân? Nhà nước đã thừa nhận họ độc lập, thì lấy quyền gì chế tài họ?

Mà cho dù có chế tài được thì cũng như Hoa Kỳ thôi, mãi đến thế kỷ 21 mà con dân Chúa HK vẫn học kinh Sáng Thế Ký vẫn chống lại thuyết tiến hóa trong trường học, phải ra tòa kiện cáo tùm lum. Tóm lại, nếu thiết lập một tòa khâm sứ cho Công giáo là đã xem như họ độc lập, giáo dân sẽ nghe lời tòa này; họ là dân chúa, theo nước chúa, được nhà nước VN thừa nhận! Khi có tòa khâm sứ, là bất bình đẳng với các tôn giáo khác, vì không có tôn giáo nào được có đại diện như con thú hai đầu: vừa là một quốc gia, vừa là quyền uy cao tột đại diện của Thượng đế. Dựa vào tòa khâm sứ, CG có quyền vận động, yêu sách kiểm soát cái này, ảnh hưởng cái kia, đưa nhiều giáo dân vào quốc hội, quyền nắm giữ các bộ.... và nhà nước hoàn toàn vô quyền với CG, vì đã chấp nhận rằng, tôn giáo và chính trị  tách rời và độc lập hoặc thừa nhận tòa khâm sứ như là biều tượng của giáo quyền La Mã.

Tôi đề nghị nhà nước VN, khi bang giao với Vatican, chỉ thừa nhận họ thiết lập tòa đại sứ như một quốc gia, không công nhận giáo quyền của họ. NGK viết những ý tưởng này trước xa khi VN và Vatican hoàn toàn chưa có liên hệ..

Phải nói sự thâm độc này, Nguyễn Thanh Giang hoặc các trí thức Phật tử theo nhóm Thông Luận khó bề thấy được, vì họ luôn vỗ tay tán dương lãnh tụ NGK; hoặc nếu có phê bình, như NTG phê bình, cũng chẳng khác người tình làm nũng đánh yêu cho vui, chỉ tổ làm NGK cao ngạo càng cao ngạo. Từ quan điểm này, người yêu nước dứt khoát nên tránh xa NGK và bè nhóm, dù nhóm này luôn nêu cao khẩu hiệu dân chủ đa nguyên để chống CS, mà lại có thủ lãnh luôn cao giọng hủy diệt văn hóa Á Châu và văn hóa dân tộc, bôi nhọ Khổng giáo, hạ bệ Quang Trung, đánh đổ Đinh Tiên Hoàng, ném đá Phật giáo, nhổ nước miếng vào các giá trị VN; lại tán dương Công giáo hiền lành bị giết oan, muốn biến VN thành một quốc gia thuần văn minh Âu Mỹ, đứng hơn là văn minh La Mã, để dễ bề đưa VN trở lại thời kỳ  NĐD.

Trái lại với CSVN, khi còn bao cấp thì không nói; nhưng từ lúc đã thay đổi chánh sách kinh tế và chính trị, đã từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản, có tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, ngay cả tự do biểu tình chống nhà nước mà điển hình nhất là gần đây tổng giám giám mục Ngô Quang Kiệt đã làm ở Hà Nội; thì nhà nước VN đã hòa nhập vào lòng dân tộc, đã chứng tỏ được quá trình đấu tranh chống ngoại xâm mà Công giáo lại là tên lính tiên phong nòng cốt của lực lượng ngoại xâm đó. Người VN không mang Thánh giá nên ý thức rõ điều này, đừng để đến khi hối hận thì đã quá muộn, vì bản chất cuả CG La Mã, một khi nắm được thế mạnh, nó sẽ trăm nghìn lần tàn ác hơn bất kỳ một thế lực chính trị thế tục nào khác. Nó biết thủ tiêu, biết di oan giá họa, biết tổ chức đâm thuê chém mướn, biết gài người vào nhà nước khi chưa nắm quyền, biết bắt cóc tra tấn hăm dọa dù đã có chính quyền như thời NĐD, biết tất cả các thủ đoạn chính trị bá đạo thế gian, vì bản chất của CG là một tập đoàn chính trị chứ không phải là một tôn giáo của tâm linh cứu rỗi (xem trích dẫn của Theodor Draper ở trên).

Hãy nghiên cứu về các cha cố ác đức CG qua các bài viết của sử gia Nguyễn Mạnh Quang giáo sư Trần Chung Ngọc, đặc biệt Charlie Nguyễn, hoặc Trần Tiên Long, các trí thức Công giáo trên sachhiem.net.

Nếu ai không muốn đọc sách sử thì cứ nhìn qua sinh hoạt người Việt ở Hoa Kỳ, trong một quốc gia tự do và pháp quyền, nhưng nhóm quá khích CG vẫn có lực lượng đen như nhóm Việt Dũng, nhóm Liên Thành... luôn làm áp lực trên cộng đồng, muốn hù ai dọa ai họ đều làm được. Người Việt ở Mỹ rất sợ họ, sự hiện diện của họ luôn núp sau cờ vàng, luôn nhân danh chống cộng để thực hiện những âm mưu phi dân tộc, có lối hành xử bá đạo nham hiểm để đè bẹp người lương yếu đuối hoặc các con Chúa dễ tin. Hãy xem video khi Bùi Tín nói chuyện ở HK, người chống cộng cực đoan gần như muốn ăn tươi nuốt sống BT, nhóm Liên Thành đến hùng hổ chỉ mặt BT thách thức, hăm doạ, và khi cuộc nói chuyện của BT chấm dứt, phải có cảnh sát đến để đưa BT ra về. Tình hình an ninh của người Việt ở Mỹ thực sự bi đát, ngay cả khi Tim Rebeaud sang Mỹ để làm từ thiện cũng bị hăm dọa, nhưng các nhóm này lại luôn vỗ ngực xưng tự do dân chủ. Chưa nắm quyền ở VN mà họ đã lộ ra nanh vuốt, thử hỏi một khi quyền sinh sát vào tay họ, thì dân VN làm sao mà sống? Hãy tưởng tượng những tay quản trò gian ác này mà chiến thắng, về VN thay đảng CS nắm quyền thì dân tộc sẽ điêu linh như thế nào? Nhất là đang thời kỳ nhà nước đã mở cửa, đã có tự do và một phần dân chủ. Đất nước đang cần toàn dân đoàn kết trước chủ nghĩa bành trướng và xâm lăng hung bạo của TQ. Nếu đảng CSVN mà sụp đổ thì đất nước này sẽ lập tức lọt vào tay của TQ, vì nhóm chánh trị nghiệp dư cá nhân chủ nghĩa và giáo phiệt chủ nghĩa sẽ biến nền chính trị VN thành vô kỷ luật, vô chính phủ, thập nhị sứ quân; và không chừng, nếu Vatican bắt tay với TQ; một nhà nước Công giáo lại ra đời ở VN lệ thuộc vừa cho TQ lẫn La Mã.

Trên đây là văn hóa César độc lập với Thượng đế theo mô hình mà NGK đem ra để dụ dỗ những trí thức nhẹ dạ người Việt. Sự thực ở châu Á không cần có mô hình tôn giáo độc lập và đứng hàng ngang với quốc gia như mô hình Âu Mỹ trải qua sau 18 thế kỷ đau khổ giữa tình trạng không biết đâu là César đâu là Thượng đế. Chúng ta, người Á Châu không có những tệ nạn xã hội hay chính trị như những quốc gia độc thần giáo, nơi mà lãnh tụ tôn giáo luôn làm cho dân tộc điêu đứng. Chỉ riêng các cuộc đánh nhau giữa César này với César nọ đã làm dân tộc phải trả biết bao máu xương, nay thêm sự tranh giành giữa César với Thượng đế nữa thì không biết dân tộc nghèo đói đáng thương của ta có kham nổi không? Cho nên, không việc gì phải đưa ra chính sách có một giáo hội nào đó được đứng ngang hàng và độc lập với nhà nước. Để làm gì ? Tu hành cần gì quyền lực? Giáo lý nhà Phật tuyệt đối không cần bất kỳ một loại quyền bính nào. Mục đích gì khi muốn du nhập món hàng tồi tệ này vào VN?

▪ 8. Có cây bút tầm vóc nào lại thiếu tự trọng như vậy?

Trở lại với tư tưởng bất nhị vượt lên trên chính tà trắng đen của Đạo Phật mà NGK vay mượn để hô hào người yêu nước cả bên quốc lẫn bên cộng cùng với ông tập kết trong một tập hợp giả danh là đa nguyên (đã đa nguyên sao còn đánh phá các giá trị văn hóa khác với mình?). PG là tôn giáo duy nhất thuyết minh về luân hồi sinh tử trong lục đạo. Muốn thoát ra luân hồi phải diệt ngã rốt ráo (vô ngã tức niết bàn); diệt ngã mới có thể xóa bỏ chủ khách, và tùy theo mức độ vượt lên trên chính tà, thường đoạn, sinh diệt, nhất dị, lai khứ mà con người có ít hay nhiều hạnh phúc trong đời sống. Có thể nói do ngã chấp mà có pháp chấp, có ngã có pháp mói có đối đãi, hoàn toàn khoa học và không tí ti mê tín. Cứ quan sát lấy chính mình, khi ít ngã thì cũng ít bị đụng chạm, ít sân hận, ít bị tổn thương và thường làm chủ lấy mình.

Đây chính là trung tâm của triết học Tính Không và Bát Nhã, hai hệ thống lớn của Phật giáo đại thừa, được ngài Nagarjuna (Long Thụ) khai triển một cách sâu sắc qua tác phẩm Trung Quán Luận với bài kệ vào đề mà tôi nghĩ ai cũng biết không cần dịch ra:

Anirodham anutpàdam anucchedam asàsvatam

Anekàrtham anànàrtham anàgamam anirgamam

不生亦不滅

不常亦不斷

不一亦不異

不來亦不出

Bất sinh diệc bất diệt

Bất thường diệc bất đoạn

Bất nhất diệc bất dị

bất lai diệc bất xuất

Người bạn thành viên Thông Luận mà tôi đã nói trên cho biết đã có lần nói với NGK về ngài Long Thụ, NGK trả lời: «Tôi không biết Nagarjuna là ai, mà cũng đếch cần biết hắn là ai.».

Ngài Long Thọ ở Nagajurnakonda

Dù NGK tỏ vẻ khinh bỉ Nagarjuna, nhưng chắc chắn tư tưởng vượt lên trên ngày 30 tháng 4 là của Phật giáo mà mà NGK đã đọc ít nhiều qua sách vở đạo Phật, dù trong lòng con chiên không muốn hấp thụ, nhưng các tư tưởng ấy vẫn cứ vào, rồi nẫy mầm trong ông, đến nỗi ông cũng chẳng biết. Có lần NGK than với anh ấy: «Tôi không hiểu tại sao người ta gọi tôi là đại đức Thích Gia Kiểng, trụ trì chùa Thông Luận». Lúc ấy vào khoảng năm 91 hay 92, bài viết Vượt lên trên ngày 30 tháng 4 làm phẫn nộ cộng đồng người Việt tại Pháp. Người Việt nuốt không trôi bất kỳ tư tưởng nào cho phép thương thuyết hay bắt tay với CS, họ đã từng gán ghép CS với PG, họ gọi thầy tu là 'mấy thằng trọc ăn cơm quốc gia thờ ma CS'. NGK chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc, là chọc gan người Việt hải ngoại lúc bấy giờ, ngay cả cộng đồng CG hải ngoại.

Năm 1966 Phật giáo đã từng dùng tư tưởng này, chỉ hơi khác là hòa giải trước, hòa hợp sau. Trước hay sau không khác trong ý nghĩa triết lý, nó chỉ mang tính lịch sử thời cuộc. Trước 1975 thì cần hòa giải trước, vì lúc đó đang chia đôi đất nước, sau đó mới có thể hòa hợp lại 2 miền.

Sau 1975, đất nước đã là một, vậy việc cần làm là thực sự hòa hợp, giải bỏ hận thù. NGK được gọi là trụ trì chùa Thông Luận vì ông lấy ba yếu tố Phật giáo: bốn chữ hòa hợp hòa giải hay hòa giải hòa hợp, và tinh thần vượt lên trên hai ý hệ quốc cộng của ngày ba mươi tháng tư, chưa nói đến chủ trương bất bạo động không thể được rút tỉa từ những tư tưởng Âu Mỹ hay từ Thánh kinh. Nếu Thánh kinh có tư tưởng bất bạo động thì các giáo sỹ đến VN không những không cần đến quân xâm lược Pháp, mà còn phải chống lại thực dân để bênh vực kẻ yếu. Vẫn chỉ cùng thứ rượu, nhưng NGK đã đem đựng vào chai mới rồi dán nhãn của ông lên và đám anh hùng Lương Sơn Bạc văn hóa (xin lỗi vì ăn cắp quá nhiều!) hết người này đến kẻ kia xưng tụng. Khái Hưng cũng xài chữ Nửa Chừng Xuân của Nguyễn Du, Bùi Giáng cũng xài chữ Cõi Người Ta của Nguyễn Du, nhưng họ mượn chữ hay ý đẹp vì khâm phục người xưa với đầy lòng tôn kính. Ngược lại NGK xài chữ nghĩa tư tưởng của người khác mà tỉnh như ruồi, không cám ơn, còn kịch liệt bài xích, thóa mạ bằng ngôn ngữ phán quan của ông như trong bài Đạo Đức Thánh Hiền, làm như ta đây chả bao giờ thuật lại của ai hay cắp nhặt của ai, tất cả đều mới mẻ, đều là sáng tác. Ông lên án tinh thần thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, như sau:

Trước hết là óc thủ cựu. Tôn chỉ thuật nhi bất tác, chỉ lập lại mà không sáng tạo, đã được các vua chúa áp đặt như một mệnh lệnh tuyệt đối. Với thời gian nó thành một đạo lý và làm tê liệt cả trí não các dân tộc theo văn hóa Trung Hoa, nhất là Trung Quốc và Việt nam. Chúng ta không những không tìm cái mới mà còn thù ghét cái mới (Đạo Lý Thánh Hiền, Tổ Quốc Ăn Năn).

Không có bất kỳ một học giả nào nói đến tôn chỉ 'thuật nhi bất tác' của Nho giáo trừ NGK, ông gán vào Khổng Tử điều gì mà ông cảm thấy có lợi cho mục đích của ông. Chẳng khác nào có người đọc thấy NGK viết một vài lời chê Trần Trọng Kim, người kia bèn viết một bài báo thực dài, trích vài câu của NGK nói về TTK, và kết luận rằng tôn chỉ của NGK là chê bai TTK. Nhưng văn hóa Á Châu bị NGK chê là làm tê liệt cả trí não các dân tộc, còn văn hóa Thiên Chúa giáo ở Âu châu trước kỷ nguyên ánh sáng, kỷ nguyên khởi đầu của sự thoát ly ra khỏi văn hóa Thiên chúa, được gọi là thời kỳ đen tối kéo dài cả hơn 1700 năm chẳng có một phát minh sáng tạo nào, mà thiển nghĩ nhà trí thức uyên bác như ông phải biết, nhưng chưa bao giờ nghe ông phê bình. Còn câu 'Chúng ta không những không tìm cái mới mà còn thù ghét cái mới' thì nên dành cho chính đạo CG luôn thù ghét và không chấp nhận khoa học của ông, từ thuyết tiến hóa đến thuyết bigbang kinh qua những giết chóc dành cho Galilée và Bruno Giordano với sự khám phá ra thái dương hệ theo hệ thống Copernic.

Nhà thiên văn Giordano Bruno bị Giáo Hội La Mã thiêu sống ở thế kỷ 16 về tội "tà đạo"

Ông ăn cắp đầy dẫy tư tưởng của Alain Peyrefitte, của Samuel P. Huntington chép vào sách của mình mà dám phê bình câu 'thuật nhi bất tác' của Khổng Tử. Tôi chưa bao giờ thấy một cây bút có tầm vóc nào lại thiếu kém một tối thiểu tự trọng như vậy.

Nói chung chung NGK chỉ ngắt ở đây một câu, quơ ở kia vài chữ, như người cưỡi ngựa xem hoa, rồi chê bai , hạ bệ không tiếc lời. Ông chê Quang Trung (QT) là hung bạo bạ ai đánh đó, nhưng QT đánh rất nhiều quân xâm lược, nhất là quân Thanh; QT dẹp Trịnh Nguyễn và thống nhất sơn hà; QT đánh cả Tây Dương và Xiêm La. Những người bị QT đánh dẹp đều là những chướng ngại cho sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước. Nhưng NGK bất cần, khi ông cần nói gì, tựa như dưới mắt ông chẳng có ai, ông nói ra như một mệnh lệnh.

Có một lạ lùng mà chẳng nhà phê bình nào đề cập, khi NGK chê QT hung bạo bạ ai cũng đánh, thì NGK cũng hung bạo không kém bạ ai cũng phang, và hầu như tất cả danh sĩ Châu Á chưa ai được NGK xếp vào bảng giá trị. Phật Thích Ca rồi sẽ có ngày được hân hạnh nghe lời bình phẩm của NGK. Khi viết bài Giá Trị châu Á, ông chỉ đưa Singapore, Mã Lai và Miến Điện làm đại diện cho các phê phán của mình, trong khi các nền văn hóa lớn như Trung Hoa, Ấn Độ và Nhật Bản thì lơ đi.

Châu Á đã mở cửa cho bất kỳ nền văn hóa nào, không bế quan toả cảng như NGK vu cáo, trừ việc cấm cây Thánh giá theo quân xâm lược Tây Dương vào Á Đông trong lịch sử. Khi Tây phương chưa sang, PG đã truyền qua các nước Á châu mà không hề bị chống đối. Hồi giáo cũng theo con đường tơ lụa mà đến TQ, dù không bành trướng được nhiều, nhưng không hề bị cấm đạo. Đến khi ánh sáng văn minh Tây Âu truyền sang, thì Á Châu cũng chào đón minh triết Tây phương một cách chân tình cởi mở, nhưng ngược lại họ cương quyết không chấp nhận bị xâm lăng đô hộ.

Vậy NGK chê dân châu Á đầu óc tê liệt đóng kín và thù ghét cái mới với mục đích gì? Có ba  nguyên nhân, một là trả thù cho CG đang bị lên án gắt gao, hai là quăng lựu đạn vừa cay vừa khói đánh lạc hướng các mũi dùi đang chỉa vào CG, ba là hạ bệ hết những nền văn hóa đã hội nhập vào VN; súc sạch bình, chuẩn bị đổ rượu Thánh CG của NGK vào.

So sánh Triết lý Khổng Mạnh với 17 thế kỷ thánh triết của Ki-Tô giáo La Mã ở Âu Châu, Khổng giáo trăm lần nhân bản và văn minh hơn. Khoa học đã có trước rất lâu ở Hy Lạp, khi bị gót chân của văn minh La Mã chà đạp thi khoa học phải đợi mãi đến thế kỷ Ánh sánh mới dần dần khôi phục và phát triển.

Phải đặc biệt công nhận rằng NGK có tài viết và nói. Ông có lối văn lôi cuốn, dù viết về những cái mà ông biết rất ít, điển hình là những đề tài châu Á. Tài hùng biện này làm người ta quên khuấy đi mất những luận cứ trống không của NGK, chỉ với câu thuật nhi bất tác, ông đã khạc nhổ lên cả văn hóa Trung Hoa nói riêng, khối văn hóa Khổng giáo nói chung, chê bai là không sáng tạo, không chịu tiếp thu cái mới. Nếu cuốn sách của ông được dịch sang Anh ngữ, tôi tin rằng người Trung hoa sẽ nổi giận. Ông hoàn toàn không hiểu, hay cố tình không hiểu lời hay ý đẹp qua câu thuật nhi bất tác?

Tài tân trang đồ cổ của ông có cao đến đâu, thì vẫn có người biết xuất xứ món hàng, nhất là hàng châu Á, bằng chứng là đám đông người Việt Paris đã từng gắn cho ông một cái nick rất Phật, mặc dù ông là con chiên ngoan đạo: Thích Gia Kiểng.

Xin mời đọc tác giả Lê Việt Thường tố cáo NGK cóp nhặt tư tưởng của A. Peyrefitte trong bài báo trường Hợp «Tổ Quốc Ăn Năn» của NGK: ().

Thực ra nếu ông mượn tư tưởng châu Á mà không quay lại phỉ nhổ nó, có lẽ bài viết này cũng chẳng đề cập đến ông.

Tóm lại, những gì NGK viết, dù hay dở thế nào, cũng không ra khỏi ba nhận định như sau:

● Nếu thấy chưa thể đánh thẳng, nói thẳng, NGK không ngần ngại lập lờ đánh lận để bài xích lịch sử hay văn hóa Châu Á bằng cách luôn mang cái mặt nạ khách quan, nhưng thực ra là lối đánh du kích, núp dưới bóng vài câu khen lấy lệ; nghĩa là chích say con mồi ngây thơ, rồi bất thình lình, tung 'tuyệt chiêu' sát tử. Hãy xem 'Một mảnh quê hương trên đất Phật' và qua những lời phê bình của GS Trần Chung Ngọc hoặc cuả tác giả Trần Quang Diệu: .

● Đối với kẻ không còn người phản biện như Khổng Tử, NGK không e dè, thẳng tay triệt hạ không tiếc lời, vì biết chắc lớp người Hán Nho còn lại rất ít. Đánh kẻ không tự vệ như Hồi Giáo tàn sát Phật giáo ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 13 thì kẻ tham tàn nào lại biết gờm tay? Trong Tổ Quốc Ăn Năn, hễ có dịp là NGK hạ bệ Khổng Tử không tiếc lời, bất chấp kiến thức của ông về học thuật Á Châu chỉ rất hạn hẹp, cỡ trình độ J. Paul 2 hiểu về Phật giáo hoặc kém hơn.

● Đạo văn. Nếu NGK mà viết được chút gì hay ho thì là ... đạo văn, như đã được minh chứng ở trên.

Cho nên, đối với bài vở của NGK, khách quan nhất là nên chờ kiểm chứng, xem thử có phải là là đồ lượm lặt từ một quyển sách hay một tư tưởng nào đó rồi sơn phết lại hay không, trước khi đem những món mà ông 'vay mượn' ấy chất đầy lên các trang mạng, vì nó chứng tỏ các trang mạng ít chịu khó đọc sách, vô tình làm kẻ 'nối dáo cho giặc'.

Ít ai nghĩ rằng NGK đang muốn thực hiện chủ nghĩa thực dân Công giáo không có mặt các đội quân da trắng.

Ngay đề tựa cuốn sách, 'Tổ Quốc Ăn Năn' cũng được lấy ý từ chữ repentance nationale (ăn năn quốc gia) mà Chúa kêu gọi dân Do Thái phải làm trong Thánh kinh (Matthew 4:17: From that time Jesus began to preach, and to say, Repent: for the kingdom of heaven is at hand - King James Bible), nhưng dân Do Thái không làm theo, nên bị Chúa phạt làm cho cây sung kiêu kỳ không có trái, là hình ảnh của nước Do Thái dám chống lại Chúa. Ý của NGK có lẽ muốn thay lời Chúa của ông, kêu gọi nước VN phải ăn năn sám hối với Đức Chúa Trời, nghĩa là phải bỏ hết các giá trị khác, mà chỉ biết có Thiên Chúa, như được dạy trong kinh thánh, nếu không cũng sẽ bị trừng phạt y như Israel.

Cũng may trí thức Âu Mỹ không đọc được các trang mạng Việt ngữ, nếu không, không chừng NGK còn phải ra tòa vì tội đạo văn.

Trong đời sống bình thường ngoài sách vở và chính trị, theo bạn tôi cho biết, NGK là người đáng kính trọng.

Nếu không có cái di chứng ung thư mà thực dân để lại cùng với văn hóa La Mã, dân tộc đã không có xung đột và xâu xé vừa trầm trọng vừa hiểm độc như hiện nay.

Không biết đến khi nào CG sẽ quên mình là La Mã để hội nhập vào dòng văn hóa VN, làm đứa con ngoan của dân tộc?

Trần Trọng Sỹ

Nguồn: tác giả gửi

________________

Đọc thêm:

- (Vũ Huy Quang)

___________________

Các bài của Trần Trọng Sỹ: link



Các bài của tác giả Trần Trọng Sỹ


▪ Ý Kiến Cho Một Lá Thư Về Việc Một Người Bỏ Phật Theo Chúa - Trần Trọng Sỹ

▪ Công Giáo VN và Thượng Đế Theo Thánh Kinh - P1: Giáo Hoàng Và Thế Giới - Trần Trọng Sỹ

▪ Công Giáo VN và Thượng Đế Theo Thánh Kinh - P2: Nếu toàn dân VN đều là con chiên của Chúa! - Trần Trọng Sỹ

▪ Công Giáo VN và Thượng Đế Theo Thánh Kinh - P3: Thượng Đế và tác phẩm của Ngài - Trần Trọng Sỹ

▪ Có Thực Mới Vực Được Đạo - Trần Trọng Sỹ

▪ Giáo Hoàng Phanxicô và Chủ Nghĩa Cộng Sản - Trần Trọng Sỹ

▪ GS Trần Chung Ngọc - Nhân Ngày Tiểu Tường - Trần Trọng Sỹ

▪ Quốc Ngữ, Nỗi Trăn Trở - Trần Trọng Sỹ

▪ Việt Nam, Văn Hóa Và Hội Nhập - Trần Trọng Sỹ


▪ ▪