Việt Nam Quốc Sử Hùng Ca

 

Cầu Móng NTTTLA

Link http://sachhiem.net/VANHOC/CauMong_02.php

 14-Feb-2018

LTS: Đây là bài trường thi dài 1760 câu, chia làm 7 phần. Ở phần cuối còn có thêm các Phụ Lục để bổ túc những chi tiết quan trọng mà tác giả muốn ghi lại cùng thi tập này. Mỗi phần đều có giọng đọc của chính tác giả để phục vụ sở thích khác biệt của thính giả. Nếu bạn đọc có ý kiến xin cứ liên lạc với tòa soạn để chuyển đến tác giả. Cám ơn các bạn đã đọc hoặc lắng nghe. (SH)

- Phần I -

Họ Hồng Bàng và 18 đời Hùng Vương. Nước Xích Quỷ, Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt

(128 câu)

Mở nghe tác giả đọc thơ Phần I

1.

Bản hùng ca Rồng Tiên mở cõi
Lạc Long Quân dòng dõi Hồng Bàng 
Rời xa Bách Việt họ hàng 
Tìm đường dựng nướcVăn Lang Lạc Hồng

2.

Cháu ba đời Thần Nông tiên chủ
Vua Đế Minh tuần thú Nam phương
Vụ Tiên, Ngũ Lỉnh nương nương
Sinh con Lộc Tục đế vương nối dòng

3.

Nhường  Đế Nghi non sông phương Bắc
Giữ công bằng phép tắc triều cương 
Lễ nghi phong cách nhún nhường 
Phận em, Lộc Tục làm vương Nam triều

4.

Kinh Dương Vương quốc hiệu Xích Quỷ
Cùng Long Nữ tri kỷ kết hôn
Sinh con Sùng Lãm tinh khôn   
Lạc Long vương hiệu bảo tồn quốc uy

5.

Nước Xích Quỷ biên thùy ba mặt
Đất Hồ Nam trấn Bắc biên cương
Hồ Tôn biên giới Nam phương 
Mặt Tây Ba Thục rộng đường an bang.

6.

Lạc Long Quân chẳng màng nghiệp đế
Về phương Nam lập kế lâu dài
Âu Cơ con gái  Đế Lai
Rồng Tiên xây tổ dựng đài vinh quang .

7.

Năm ngàn năm kinh bang lập quốc 
Nước Việt Nam một gốc trời Đông
Tổ tiên nòi giống Lạc Hồng
Âu Cơ Tiên Mẹ, Lạc Long Cha Rồng

8.

Hồng sử Việt, Lạc Long mở lối
Cùng Âu Cơ tơ mối duyên đào
 Khai hoa bọc trứng đồng bào
Trăm con hùng tráng anh hào khôi ngô

9.

Con trưởng thành, dựng đô lập nước
Kế lâu dài thệ ước núi sông :
"Lạc Long ta vốn là Rồng
Âu Cơ Tiên Nữ, phải đồng cách xa".

10.

Năm mươi con theo cha xuống biển
Năm mươi con, mẹ tiến lên non
Giúp nhau những lúc héo hon
Hùng Vương con trưởng, cha con dựng nhà

11.

Nước Văn Lang sơn hà một khối (1)
 Mười tám đời tiếp nối Hùng Vương
 Phong Châu đô phủ miếu đường
 Sông Hồng dựng nghiệp biên cương vẫy vùng

12.

Mười lăm bộ vua Hùng lập chính
 Quan Lạc Tướng quyền bính trị an
 Lạc Hầu giúp nước văn quan
 Mỵ Nương con gái, Quang Lang nối dòng.

13.

Văn hóa Việt trống đồng Ngọc Lũ
 Ruộng thủy triều nước phủ đồng xanh
 Thiên Vương Phù Đổng hùng anh
Vó câu ngựa sắt tan tành giặc Ân .

14.

Bánh dầy bánh chưng dâng thệ ước
Nghĩa vuông tròn đạo nước tổ tông
Trung trinh hiếu nghĩa trọn lòng
Dân gian cần mẫn nghề nông ruộng vàng.

15.

Nước Âu Việt lân bang thao lược
Xua quân binh chiếm nước vua Hùng
Thục Phán sát nhập toàn vùng
Lập nước Âu Lạc hợp chung giống nòi.

16.

An Dương Vương lập ngôi bá chủ
Cổ Loa thành đô phủ Phong Khê
Chín vòng trôn ốc vững bề
Kim Qui thần nõ ê hề giặc tan.

17.

Tần Thủy Hoàng hung tàn bạo chúa
Cử Đồ Thư vây bủa Nam phương
Âu Lạc anh dũng quật cường
Đồ Thư đại bại cùng đường mạng vong.

18.

Tướng Triệu Đà bất đồng Tần quốc
Chức huyện lệnh quản đốc Long Xuyên
Mưu đồ lập quốc tư riêng
Quyết chiếm Âu Lạc cương biên rộng bề.

19.

Núi Tiên Du não nề trận chiến
An Dương Vương quyền biến đẩy lui
Nhâm Ngao đường thủy bước lùi
Triệu Đà thảm bại ngậm ngùi hận sâu.

20.

Thua binh lực, cau trầu sính lễ
Xin giảng hòa dụng kế điệp viên
Trọng Thủy phò mã kết duyên
Mỵ Châu công chúa chung thuyền tào khang.

21.

Đổi nõ thần mưu gian Trọng Thủy
Hại nước nhà vận bĩ Mỵ Châu
Triệu Đà giục giã vó câu
Loa thành sụp đổ bể dâu sóng tràn.

22.

Núi Mộ Dạ Nghệ An nghẽn lối
Lông ngỗng trắng dẫn mối đường xa
Kim Qui thần nõ hiện ra :
"Giặc sau lưng ngựa hoàng gia chỉ đường".

23.

An Dương Vương yên cương ngựa yếu
Vung gươm vàng kết liễu đời con
Mỵ Châu dạ yếu lòng son
Tào khang trọn đạo, héo hon tình nhà.

24.

Trọng Thủy đến xót xa lệ máu
An táng nàng áo não tình riêng
Loa thành giếng nước oan khiên
Trầm mình tuẫn tiết đoàn viên suối vàng.

25.

An Dương Vương lỡ làng vận nước
Cậy nõ thần lỡ bước vó câu
Tiếc nhà, hận nước đêm thâu
Quốc kêu tức tưởi dạ sầu Thục bang.

26.

Tướng Triệu Đà lập đàn xưng đế (2)
Triệu Vũ Vương quốc thể đền đài
Phiên Ngung đô phủ triều ngai
Nam Việt tên nước ra oai dựng cờ.

27.

Đất Lưỡng Quảng thời cơ lập chí
Cùng Cửu Chân, Giao Chỉ mây ngàn
Trời Nam một cõi giang san
Đợi thời xây đắp mộng vàng Bắc phương.

28.

Cõi Hoa Bắc yên cương vó ngựa
Vận nhà Tần nghiêng ngửa diệt vong
Vó câu Hán Sở tranh hùng
Lưu Bang chiến thắng vẫy vùng cung thương.

29.

Hán Cao Tổ triều cương vững thế
Cử Lục Giả lập kế tấn phong
Vũ Vương Nam Việt thuận lòng
Giữ yên bờ cõi, ra công dựng nhà.

30.

Dòng con cháu xa hoa lười biếng
Hán Võ Đế xuất chiến tiến công
Lữ Gia tướng yếu bại vong
Nam Việt mất nước, non sông rã rời.

31.

Nòi Bách Việt vận thời khô hạn
Miền Hoa Nam dân Hán tràn lan
Mân Việt, Đông Việt tiêu tan
Hòa cùng Hán tộc lỡ làng nước non.

32.

Dòng Lạc Việt héo hon vận số
Cùng Nam Việt khốn khổ vong nô
Nam Việt mất hẳn cơ đồ
Chỉ còn Lạc Việt thế cô đợi thời.

(đón đọc Phần II)

      

Chú thích:

(1)- Nước Văn Lang sơn hà một khối

Nước Văn Lang được thành lập dưới đời vua Hùng Vương thứ nhất khoảng năm 2879 (trước Tây lịch) bao gồm địa giới miền Bắc cho tới Nghệ An, Hà Tỉnh ngày nay. Kinh đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên) . Đầu tiên là  nước Xích Quỉ rộng lớn miền Nam Trung Hoa từ sông Dương Tử đến nước Hồ Tôn  (Chiêm Thành). Ở thế kỷ thứ 30 (3000 năm trước Tây lịch), dân Hán tộc định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà . Còn lưu vực sông Dương Tử, bờ phía Bắc có dân Miêu và Man, bờ phía Nam vùng Động Đình và Phiên Dương có dân Việt ở rải rác đến núi Ngũ Lĩnh.Theo truyền thuyết, cháu ba đời của vua Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái là Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục (tức Kinh Dương Vương). Đế Minh muốn cho nối ngôi, nhưng Vua cố nhường ngôi cho anh là Đế Nghi. Đế Minh lập Đế Nghi cai quản phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỉ. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ sinh ra Sùng Lãm nối ngôi vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là nàng Âu Cơ sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng). Một hôm vua bảo với Âu Cơ : "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống đồng bằng, phong cho con trưởng là Hùng Vương nối ngôi vua thành lập nước Văn Lang với 18 đời vua Hùng... Về sau, qua nhiều triều đại, nhiều lần đổi tên nước cho đến ngày nay là Việt Nam.

 

(2) Tướng Triệu Đà lập đàn xưng đế  -Triệu Vũ Vương quốc thể đền đài -  Phiên Ngung đô phủ triều ngai-  Nam Việt tên nước ra oai dựng cờ

Nước Nam Việt bao gồm hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và nước Âu Lạc (tức miền Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay). Cư dân đa phần là nòi Bách Việt như Lạc Việt, Âu Việt, Nam Việt...còn dân Hán tộc vẫn ở phương Bắc chưa di cư tới. Cho nên nhiều sử gia vẫn ghi chép Nam Việt cũng là nước Việt Nam thời cổ mặc dù Triệu Đà là tướng nhà Tần. Tuy nhiên ông lại tự lập quốc gia riêng không lệ thuộc Tần. Sau này nhà Hán chiêu dụ, ông chỉ chịu thụ phong, không sát nhập vào Hán, vẫn là một quốc gia riêng độc lập. Cũng vậy Lê Quý Ly tổ nhiều đời là người Tàu họ Hồ. Khi lên ngôi vua ông đổi lại họ Hồ. Các sử gia vẫn ghi chép ông là một trong những vị vua yêu nước của Việt Nam chống lại người Tàu, mặc dù ông đã thất bại vì một số quan lại tuy tổ tiên là gốc Việt chính thống, nhưng phản quốc làm tay sai cho người Tàu...

 

Nguồn hình ảnh:

- https://nghiencuulichsu.com/2016/10/16/giai-ma-truyen-ho-hong-bang/

- https://www.tindachieu.org/2017/10/xich-quy-ten-nuoc-dau-tien-cua-nguoi-viet-lon-gap-10-lan-ngay-nay-mang-y-nghia-gi.html;

 

Trang Văn Học