Xét Lại Vụ Đánh Cuộc Của Pascal - 1 (dẫn nhập vào văn hóa & tôn giáo thời Phục Hưng)

 

Trần Trọng Sỹ

http://sachhiem.net/TTS/VH/TranTrongSy_vh7.php

18-Jul-2019

... Đầu thế kỷ thứ 17 thì ảnh hưởng của La Mã đang rất kinh khiếp, khi Pascal vừa được 10 tuổi cũng là lúc Galilée bị đưa ra tòa án dị giáo (Galilée ra tòa năm 1633 – Pascal sinh năm 1623), Âu châu tràn ngập bóng thống trị của Giáo hoàng. Không theo Kytô là tự sát, đó là điều mà bất kỳ người dân nào trên lục địa phải biết nếu còn muốn giữ hơi thở.

Blaise Pascal (1623-1662)

Học giả Trần Tiên Long đã có một bài viết có hiệu ứng Thôi Hiệu về đề tài này (Tôi không theo Pascal). Nếu không có bài của anh Trần Tiên Long, tôi chắc chắn không đặt nhiều chú ý đến vụ đánh bạc tâm linh của Pascal. Đưa lại đề tài này, tôi xin chân thành cám ơn tác giả TTL đã có sự thách thức rất ngoạn mục và sắc bén trước các luận cứ của Pascal, dù cách nay đã hơn 300 năm, vẫn được Nhà Thờ sử dụng như là một tiền đồn để bảo vệ cho thứ đức tin mà ngày nay, với một lịch sử tàn ác và đẫm máu, gần như toàn bộ trí thức nhân loại đều phải công nhận độc căn rất di hại của nó. Không có các tôn giáo độc thần, thế giới này đã/đang/sẽ tiết kiệm được ít nhất 2/3 xương máu và tài lực vì chiến tranh./

Gồm các mục:

Kỳ I:

- I - Phân Loại Phạm Trù Tư Tưởng Của Pascal
- II – Chủ Nghĩa Hoài Nghi

A - Hoài nghi về Thượng Đế và thế giới do ngài tạo dựng

(xem tiếp Kỳ 2 =>)

B – Hoài nghi Thánh Kinh và cách sống của giáo sĩ

C - Hoài nghi về quyền thống trị của Giáo Hội.

C.1 phong trào Nhân Bản Phục Hưng.

C.2 Giả tạo chiếu vua để cướp nước

C.3 Phân định, chia tách giáo quyền và thế quyền, hình thành chủ nghĩa quốc gia

C.4 Sự tan rã thành nhiều giáo hội Kytô độc lập với Rôma

(Kỳ 3 =>)
- III – Kỷ Nguyên Anh Sáng (Siècle des Lumières – Age of Enlightenment)

(Kỳ 4 =>)
- IV – Biện Chứng Vệ Chúa Của Pascal
- V – Pascal Qua Lăng Kính Của Voltaire
- VI – Lăng Kính Triết Lý Phổ Quát

 

P ascal, triết gia, đồng thời là toán học gia nổi danh người Pháp của thế kỷ thứ XVII, được biết đến với vụ đánh cuộc tâm linh trứ danh «croix ou pile» (tức là chơi xấp ngửa với đồng xu, ngày nay trò đánh cuộc này không còn được gọi là croix ou pile mà là pile ou face). Ông cho rằng, thà tin vào thiên chúa, dù không có thực, vẫn tốt hơn tin không có thiên chúa. Argument của ông rất đơn giản, như một kẻ đánh bạc sành sõi, ông đặt tiếng bạc vào bên thắng hoặc huề, chứ không bao giờ muốn thua thiệt, ông nói:

«Nào hãy phân tích điểm này, nói đi: có thiên chúa hay không? Nhưng ta sẽ nghiêng về phía nào? Lý trí chả giúp định đoạt được gì cả: có một sự hoang mang vô tận đang chia cắt ta. Một trò chơi đang diễn ra, bên hai đầu của khoảng cách vô tận này, cái sẽ đến là xấp hay ngửa. Bạn sẽ đặt vào cái gì? Bằng lý trí, bạn chẳng thể chọn cái nào cả; bằng lý trí, bạn cũng không thể bỏ cái nào cả.

«— Examinons donc ce point, et disons: «Dieu est, ou il nest pas.» Mais de quel côté pencherons-nous? La raison ny peut rien déterminer: il y a un chaos infini qui nous sépare. Il se joue un jeu, à lextrémité de cette distance infinie, où il arrivera croix ou pile. Que gagerez-vous? Par raison, vous ne pouvez faire ni lun ni lautre; par raison, vous ne pouvez défaire nul des deux.» (Blaise Pasacl, Pensées).

Đó là cách lí luận của Pacal để chứng minh được sự thất bại của lý trí, ông nói tiếp:

«Vâng, nhưng chúng ta phải đánh cuộc; dù muốn dù không bạn cũng phải lựa chọn. Vậy thì bạn chọn đằng nào? Xem nào, đã bị bắt buộc phải lựa chọn, ta hãy tìm xem cái nào ít đáng chú ý hơn cho các bạn.(...) Lý trí của bạn cũng chẳng hề bị thương tổn hơn khi phải lựa chọn giữa cái này và cái kia. Vậy thì đã nhẹ được một đầu. Nhưng hạnh phúc của bạn là gì? Hãy cân đo được mất, mà lựa chọn thập giá tượng trưng Thiên Chúa (thời của Pascal, trên đồng bạc có một mặt hình Croix, tiếng pháp nghĩa là thánh giá - xem minh họa). Suy tính cả hai trường hợp: nếu bạn thắng, bạn được tất cả; còn nếu thua, bạn chẳng mất mát gì. Vậy thì hãy nhập cuộc không nên do dự.» 

[«- Oui, mais il faut parier; cela nest pas volontaire, vous êtes embarqué. Lequel prendrez-vous donc? Voyons. Puisquil faut choisir, voyons ce qui vous intéresse le moins. (...). Votre raison nest pas plus blessée, en choisissant lun que lautre, puisquil faut nécessairement choisir. Voilà un point vidé. Mais votre béatitude? Pesons le gain et la perte, en prenant croix que Dieu est. Estimons ces deux cas: si vous gagnez, vous gagnez tout; si vous perdez, vous ne perdez rien. Gagez donc quil est, sans hésiter.» (Blaise Pasacl, Pensées).]

Pascal được giới trẻ VN biết nhiều qua câu nói trứ danh «Bên này dãy Pyrénées là chân lý, bên kia là tà thuyết» (vérité en deçà des Pyrénées erreur au delà – What holds true on one side of the Pyrenées may be false on the other) hơn là vụ đánh cuộc vừa đề cập.

Blaise Pascal sinh năm 1623 tại Auvergne, Clermont, Pháp quốc, là triết gia Kitô giáo (Jansénite), là nhà toán học. Vào năm 16 tuổi, khi môn hình học phức tạp về xạ ảnh (géométrie Projective) có từ thời đại Hy Lạp của Pappus dAlexandrie thế kỷ thứ IV, được phát triển 12 thế kỷ sau tại Pháp với Girard Desargues (1591) nhưng gần như chả ai hiểu, thì Pascal đã góp phần vào môn hình học này với định lý Pascal mà ai học toán có lẽ đều biết.

Ngoài môn hình học, Pascal còn được xem gần như là cha đẻ của ngành toán xác xuất (probabilité) rất cần thiết cho ngành thương mãi và tài chánh hiện đại. Có lẽ do vậy mà một trong những danh gia về xác xuất thống kê nổi tiếng như Hacking Ian, trong cuốn Emergence of probability xuất bản năm 1975 đã tán dương Pascal như là tổ tiên sáng lập học thuyết chính xác hiện đại. (Pascal stand centuries ahead on game theory and the technical analysis of the rational choice – the fouding ancestor of  modern decision theory).

Dĩ nhiên là chúng ta không thể phủ nhận các giá trị triết học hoặc các công trình khoa học về xác xuất thống kê do Pascal đề xướng.

I - PHÂN LOẠI PHẠM TRÙ TƯ TƯỞNG CỦA PASCAL

Tuy nhiên, ta thử phân tích xem, khái niệm Thượng Đế mà Pascal đưa ra đánh cuộc là khái niệm triết học hay khái niệm thần học tôn giáo?

Tác giả Trần Tiên Long nhận xét rất chuẩn khi phân cách hai phạm trù rất lưỡng lập của cùng một từ God: Có một sự khác biệt căn bản giữa hai phạm trù Thượng đế và Thiên chúa, mặc dù cả hai đều được dịch từ một danh từ “God”. Từ Thượng đế thường được dùng trong các bộ môn khoa học, trong khi từ Thiên chúa được dùng trong tôn giáo.

Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng thường dùng từ God, nhưng theo như tôi hiểu, God theo ý nghĩa của ngài chỉ cho Phật tánh. Vậy trên một bình diện nào đó, thượng đế đại diện cho lý tính bao trùm vũ trụ, hoặc ít nhất, là một danh từ chung, một khái niệm đạo đức không viết hoa.

Nếu Pascal cuộc vào thượng đế như một giá trị tâm linh nội tại trong mỗi con người, nói cách khác là trói buộc con người vào những giá trị đạo đức, thì không có gì để bàn cãi. Tuy nhiên sự lựa chọn tâm linh luôn luôn và tất yếu phải phát xuất từ sự tự nguyện, còn cái mà Pascal đưa ra là một lựa chọn chính trị hay tôn giáo, một cưỡng bức, một thái độ dứt khoát giữa xấp ngửa, phải trái, hữu vô lưỡng lập rất kém xa tư duy đa cực của ngay cả các triết gia thời thượng cổ Hy Lạp như Thales Miletus chứ đừng nói là của tư tưởng trên ngưỡng cửa đi vào Kỷ Nguyên Ánh Sáng. Những biện luận của Pascal «Oui, mais il faut parier; cela nest pas volontaire, vous êtes embarqué» là các mệnh đề mà ai cũng thấy rất rõ, vào thời ấy, ông khuyên mọi người nên khôn ngoan lựa chọn đức tin vào Thiên Chúa để giữ mạng sống.

Thực vậy, đầu thế kỷ thứ 17 thì ảnh hưởng của La Mã đang rất kinh khiếp, khi Pascal vừa được 10 tuổi cũng là lúc Galilée bị đưa ra tòa án dị giáo (Galilée ra tòa năm 1633 – Pascal sinh năm 1623), Âu châu tràn ngập bóng thống trị của Giáo hoàng. Không theo Kytô là tự sát, đó là điều mà bất kỳ người dân nào trên lục địa phải biết nếu còn muốn giữ hơi thở.

Người ta đánh giá sự lựa chọn của Pascal là rational choice (lựa chọn của lý trí) là rất chính xác đứng trên phương diện chính trị xã hội. Nó cũng tương tự như con chiên lựa chọn bước ngang chiếc thánh giá để cầu sinh khi bị quan quân triều Nguyễn đưa ra tra xét trước khi xử tội.

Nếu tôi được sinh ra thời của Pascal, và Pascal tái sinh vào thời đại của tôi; tôi nghĩ rằng, Pascal sẽ nói điều tôi đang nói, cũng như tôi không dại gì tự đưa mình lên giàn hỏa mà tuôn ra những lời dị giáo vào thời Công giáo độc bá và thống trị Âu châu, nhưng thay vì nịnh bợ Thiên Chúa, ở cương vị triết gia, tôi sẽ giữ thái độ im lặng và quan sát.

Pascal viết: Bằng lý trí, bạn chẳng thể chọn cái nào cả; bằng lý trí, bạn cũng không thể bỏ cái nào cả. (Par raison, vous ne pouvez faire ni lun ni lautre; par raison, vous ne pouvez défaire nul des deux). Sau đó ông đưa ra quan điểm cho rằng chúng ta bắt buộc phải lựa chọn tin vào Thiên Chúa (en prenant croix que Dieu est), dù có sai, vẫn chẳng hề mất mát. Điều này là một nghịch lý của luận lý. Mệnh đề trước ông phủ nhận vai trò của lý trí, thì ngay mệnh đề sau ông đã dùng lý trí để phân tích sự lợi hại.

Trong triết lý Đông Phương, khi các nhà hiền triết gặp phải trường hợp không biết lựa chọn làm sao, họ bói một quẻ Dịch, và theo ý của quẻ bát quái mà làm, hoàn toàn dẹp bỏ sự cân nhắc của lý trí, vì đơn giản là, nếu đã có thể sử dụng lý trí, thì đâu cần bói quẻ Dịch.

Nhà hiền triết Á Đông tối kỵ việc tự lường gạt mình và lừa gạt người.

Pascal vừa nói lý trí không thể làm gì được, rồi ngay lập tức lại dùng lý trí để lựa chọn giữa hai điều, mà trong nội hàm của Pascal, đã ám chỉ rằng có một cái đúng, đó là tin vào Chúa.

Để hiểu được tính vòng vo trong luận lý của Pascal, ta thử đưa ra vài cột mốc quan trọng như sau:

A- Đánh lừa lý trí, đưa nó đứng trước một tình huống bất khả tri: Thượng Đế thực có hay phi thực? Không ai xác minh hay trả lời được điều này, ngay cả cho đến ngày nay. Tuy nhiên, trên lập trường của nhà phân tích duy lý, thì vì chưa ai thấy Thượng Đế ra sao, nên sẽ có 3 câu trả lời như sau:

=>  Không biết.

=>  Không có Thượng Đế.

=>  Thượng Đế chỉ là sản phẩm của tưởng tượng.

Nếu con người không bị ảnh hưởng bởi các tác nhân bên ngoài chi phối, hắn ta sẽ rơi vào 1 trong 3 trường hợp trên, không thể có trường hợp thứ 4 là Thượng Đế thực có, vì đơn giản nếu ngài thực có, thì vụ đánh cuộc của Pascal đã không còn cần thiết. Trước khi Giêsu bị đưa đi hành hình, đã lăn ra đất khóc lóc van xin Thượng Đế đến cứu, ngài cũng chả xuất hiện, hoặc những lời ngài nói khi kiểm chứng lại hoàn toàn phi thực - không thể có một nhân vật thực sự quyền năng, toàn hảo, lại chỉ đưa ra những chuyện kể mơ hồ không ăn khớp với thực tại. Người ta đã tìm thấy trái đất hình cầu và quay chung quanh mặt trời trong khi những điều được dạy trong thánh kinh thì hoàn toàn trái ngược.

Vậy nếu trí năng độc lập không bị các ngoại cảnh chi phối, nó chỉ có thể chấp nhận điều thứ 3: Thượng Đế chỉ là sản phẩm tưởng tượng của nhân loại, ít ra cho đến khi có một chứng minh bất khả phủ bác điều ngược lại.

B- Cái lợi của Pascal khi đưa dắt lý trí vào ngõ cụt là khiến cho người ta thay vì tin rằng không có Thượng Đế, hoặc Thượng Đế chỉ là một khái niệm, sẽ đi xa khỏi trung tâm quyền lực của Thiên Chúa do Giáo Hội tạo dựng, ông muốn người ta rơi vào trường hợp thứ nhất của phần A => không biết.

Một người không biết dễ nói chuyện, dễ thuyết phục hơn là một người biết một cái gì, cho dù biết sai, chứ chưa nói rằng vào thời bấy giờ, sự phủ định Thượng Đế là một động thái chính đáng và cần thiết cho bước nhảy vọt của nhân loại. Ngay tại thời điểm này, Pascal đã dí con dao vào lý trí của nhân loại, mưu toan dắt nó trở lại với niềm hân hoan được chăn dắt. Tôi cho thái độ này là ý định muốn kéo dài Đêm Trường Trung Cổ.

C- Giết chết lý trí trước sự lựa chọn tâm linh, nhưng khơi dậy lý trí khi phải lựa chọn tôn giáo. Bây giờ ta mới vỡ lẽ vì sao nên phân biệt ý nghĩa khi sử dụng từ Thượng Đế và từ Thiên Chúa. Nếu dịch nôm na vụ đánh cuộc của Pascal, ta nên nói thế này, bạn có thể không biết Thượng Đế là ai, nhưng Thiên Chúa thì bạn nên biết, vì theo Ngài có thể không có lợi gì, nhưng vô hại, ngược lại không theo ngài, cuộc đời bạn có thể bị nguy hiểm. Thà tin là có còn hơn tin là không, y như người Á Đông vái tứ phương để cầu chữa bệnh.

Chúng ta phải hiểu rằng, ý của Pascal là cho dù bạn không tin có một Thượng Đế triết học hay tâm linh, thì hãy tin rằng có một ông Thượng Đế tôn giáo hay tín ngưỡng, vì tôn giáo này đang nắm ưu thế, chống lại nó bạn chỉ thiệt thân mà thôi.

Có lẽ Pascal thực lòng muốn giúp đời tránh khỏi cặp mắt nghiêm khắc của tòa án dị giáo.

cầu Pont de Neuilly

Nhưng cũng có lẽ vì ông là một người khá nhát gan, dù là danh gia đương thời về nhiều lãnh vực từ địa vị, học thức, đến kinh tế, nhưng từ nhỏ ông đã bị bệnh bại liệt phải đi bằng nạn, lớn lên có lần té xe ngựa trên cầu Pont de Neuilly suýt chết, ông kinh sợ mà ngất đi chứ hoàn toàn không hề bị tổn thuơng. Thái độ của ông đa phần để lấy lòng giáo hội vì tính ngoan đạo và nhút nhát. Ông là người có tinh thần khá bất ổn với tâm tính không mấy bình thường. Người ta ít thấy ông cười nói nhưng ngược lại rất kiêu căng và dễ cáu giận.

Bản chất kiêu ngạo, nhưng nhát gan nói trên được giáo dưỡng, lớn lên trong truyền thống trưởng giả và đặc trưng Ca-tô-lít, ông đặt thể diện của chính ông và nền văn hóa mà ông hấp thụ lên hàng đầu. Với tư cách triết gia, ông không thể chỉ nôm na thẳng thừng rằng phải tin Chúa, không có lựa chọn nào khác, và cho dù có hoài nghi thì cũng nên để sự hoài nghi ấy sang một bên, Chúa đang trùm phủ bằng quyền lực quân sự, tôn giáo, xã hội, y tế, giáo dục, chính trị và kinh tế tại Âu châu, không đặt niềm tin vào Chúa thì có thể đặt vào cái gì khác?

Một người trí thức không thể nói phúc cho ai không thấy mà tin, cần phải có một vùng đệm luận lý để người ta thấy rằng niềm tin của họ không hề thiếu sự tham dự của phán đoán. Đến đây ta thấy ngay tính mập mờ của Pascal khi cho rằng trí năng không ích lợi gì để quyết định Chúa thực hữu hay phi hữu, nhưng trí năng lại rất hữu dụng khi lựa chọn giữa lợi và hại.

Thủ đoạn dập tắt, bẻ lái hoặc pha loãng mục tiêu của lý trí chẳng mới mẻ gì trong lịch sử nhân loại.

Tùy theo thời đại mà người ta thay đổi kỷ xảo để đạt mục đích, nhưng mục tiêu vẫn là dũa bớt mũi nhọn của đối thủ.

Từ nghìn xưa, nếu đối thủ mạnh, phương thức hay nhất là vờ thua để cầu hoà, lung lạc, làm tê liệt, sau đó bất thần quật ngược.

Nếu đối thủ ngang tay, hãy đưa đối thủ vào cuộc đối thoại trên chính diện, nhưng trên hậu diện lại ra đòn ngầm đánh lén vào những chỗ chí hiểm.

Nếu đối thủ yếu và kém đoàn kết, hãy đánh không thương xót và không cho ngóc đầu, nhổ cỏ tận gốc rẽ.

Những đòn thế này rất thường được giới chính trị sử dụng để qua mặt quần chúng nhằm tránh đối đầu trực diện. Chẳng hạn ông Macron, tổng thống Pháp, khi bị phong trào Áo Vàng (Les Gilets Jaunes) nổi lên đòi ông từ chức và tái lập thuế di sản đánh trên nhà giàu ISF (impôt de solidarité sur la fortune) được thiết lập từ năm 1989. Lúc đầu, ông chỉ hứa không tăng giá nhiên liệu trong 6 tháng, vốn là nguyên nhân khiến sinh hoạt tăng cao gây căm phẫn, lời hứa này không thỏa mãn được khí thế đấu tranh, dân chúng vẫn tiếp tục biểu tình, ông lại hứa không tăng giá nhiên liệu đến vô hạn định và cho thêm 100€ tiền phụ trội (prime) mỗi tháng lên lương tối thiểu – nên nhớ, prime là một hình thức thưởng thêm, không phải lương được chính thức gia tăng. Sau đó ông còn gian manh đưa ra một phương thức, gọi là débat national (hội thảo quốc gia) mà ông tự hào là inédit, đánh bóng sự lắng nghe ý dân, mạ vàng triều đại của mình là dân chủ chưa từng có để dẫn dư luận ra khỏi tầm ống kính đang quay về phía phong trào Áo Vàng. Michel Onfray, triết gia Pháp, đánh giá cuộc hội nghị Diên Hồng của Macron là buồn cười, vì trước khi đến hội nghị, Macron tuyên bố sẽ không thay đổi bất kỳ điều gì trong các chánh sách của nhà nước, vậy thì mục đích cuộc hội nghị ấy để làm gì? Monique Pinçon-Charlot, nhà nữ xã hội học nổi danh của Pháp gọi Emamnuel Macron là Le président des ultra-riches (tổng thống của giới trọc phú – vì trước đó Nicolas Sarkozy đã được mệnh danh là tổng thống của giới giàu có, nhưng so với Macron còn kém xa). Nếu lời hứa 100€ và cuộc hội nghị làm giảm khi thế đấu tranh của Áo Vàng, thì ông đã lời to, vì giá nhiên liệu, đặc biệt là giá dầu gasoil vốn rẻ hơn giá xăng, đã được gia tăng từ cả năm trước lên ngang hàng và đang vượt qua giá xăng, đã bù lấp được khoản thiếu hụt gây ra do việc hủy bỏ ISF, nay nhà nước chỉ hứa không tăng nữa theo dự trù, thì mỗi năm Macron đã phụ thu thêm hằng tỉ Euros trên  dầu gasoil rồi, còn việc cho prime 100€ thì sẽ từ từ tính sau, sàng lọc thật nghiêm khắc, và nếu có  xấu tệ đi chăng nữa thì tiền thuế của dân sẽ đền bù cho sai lầm chính trị của tổng thống Pháp, riêng Macron vẫn không tái lập thuế ISF mà ông đã xóa đi ngay khi nhậm chức, và ông vẫn duy trì sự tăng thuế trên hưu bổng của người già (Contribution sociale généralisée). Nói chung, Maron là tổng thống muốn canh tân nước Pháp, nhưng thay vì tìm cách nào đó thông minh hơn như tổng thống Donald Trump của Hoa Kỳ, ông đã dồn gánh vác kinh tế của nước Pháp lên vai dân nghèo và người già yếu, như con beo khi chụp mồi, nó chụp ngay con nít hay phụ nữ thay vì vồ đàn ông khỏe mạnh sẽ khó khăn hơn mà chưa chắc thành công; cũng vậy, dân nghèo và người già yếu đã về hưu là những con mồi béo bổ dễ ngoạm lấy. Macron có sự thông minh của con beo mà các đời tổng thống trước không có. Những lời hứa của Macron sau nhiều tháng bị nhân dân phản đối là cách ru ngủ, chích thuốc tê làm cùn lụt ý chí sắc nhọn của bất kỳ cuộc nổi dậy nào, từ cách mạng tâm linh, đến cách mạng xã hội.

Có cái gì giống nhau giữa Emmanuel Macron và Blaise Pascal. Cả hai cùng có truyền thống Ca-tô-lít, cả hai cùng là con nhà khá giả của xã hội Pháp, cả hai đều thông minh xuất chúng từ khi còn rất nhỏ, đậu bằng cấp cao, một bên chuyên về toán học và một bên chuyên về kinh tế và quản trị. Cả hai đều giàu có.

Một chi tiết đáng chú ý với Emmanuel Macron là vào năm 2016, ông ta khai báo giá trị căn nhà của mình ở Touquet là 253.255 € trong khi sự thực giá gần 1.500.000 € và với giá này vợ chồng Macron phải đóng thuế ISF, loại thuế mà vừa nhậm chức là ông lập tức hủy bỏ. Ông ta cũng man khai một căn nhà khác mua ở quận XV tại Paris chỉ có giá trị gia tăng 5% trong khi sự thực lúc khai báo trị giá của nó đã gia tăng 33%. (xem https://fr.wikipedia.org/wiki/Emmanuel_Macron - Allégations de sous-estimation de patrimoine)

Cái khác nhau giữa hai người là Pascal bẩm sinh không khỏe mạnh, và tính nhát gan do ảnh hưởng của cơ thể bạc nhược từ thuở bé, trong khi Macron rất khỏe mạnh (vì là con một bác sĩ y khoa), và thường tỏ ra rất gan dạ.

Là một nhà chính trị, Macron dư biết cốt lõi của nền chính trị anh minh trong bất kỳ thời đại nào thì  sự đoàn kết của toàn khối dân tộc trong hài hòa và bình ổn, tiến cùng tiến, thoái cùng thoái mới là căn bản của trị nước. Nhưng Macron đi ngược lại, đã chia dân Pháp thành hai nhóm, thay vì làm tổng thống của nước Pháp, ông đã thu hẹp vai trò lại để làm tổng thống của một thiểu số cực giàu có và mạnh nhất nước, tựa như Ngô Đình Diệm ngày xưa được cử làm tổng thống của VNCH, nhưng đã tự lựa chọn làm tổng thống của riêng người Công Giáo.

Với đầu óc vốn cực kỳ thông minh, được phò tá bởi những cố vấn, bộ trưởng ưu tú và khoa bảng hàng đầu nước Pháp, cùng với sự cộng tác trung thành của cả đảng République En Marche (đảng chính trị của Macron), thay vì dùng toàn bộ các phương tiện, chất xám, bằng cấp, và tiền bạc ấy để mưu tìm đồng thuận cùng những giải pháp thích hợp hơn cho toàn dân Pháp, Macron đã như một võ sĩ mang đai vàng vô địch đang hò hét và lên đài thách đấu với nhân dân quần chúng nghèo nàn, ít học và già nua của mình, ông chi trả và xua 8 vạn quân mỗi tuần ra trận, sẵn sàng đàn áp đàn bà, người già yếu và những người dân hai bàn tay trắng đi biểu tình đòi được no hơn, ấm hơn. Và nếu có bạo loạn xảy ra, thì bạo loạn ấy, Macron tìm mọi cách, từ chính trị đến báo chí, đổ hết lên đầu lực lượng áo vàng, trong khi có hằng chục áo vàng đã chết, hằng nghìn áo vàng bị thương tích, có kẻ bị mất một mắt, một tay, do ăn đạn của nhân viên công lực được bộ trưởng nội vụ Christophe Castaner máu lạnh điều động. Vào khoảng giữa tháng 3 năm 2019, tại Algérie, xưa kia là cựu thuộc địa của Pháp, người dân thành phố Alger nổi lên chống đối tổng thống Bouteflika, một ông già ngồi xe lăn, độc tài, và rất tham quyền. Trong một thân thể bệnh tật, ông vẫn muốn tái ứng cử tổng thống nhiệm kỳ V. Cuộc biểu tình hai tuần liên tiếp xảy ra trong hòa bình, không có một trái lựu đạn cay được cảnh sát ném ra chứ chưa nói là bắn cả đạn LBD rất nguy hiểm như lực lượng cảnh sát Paris khi họ được lệnh của tổng thống Macron bắn vào dân Pháp, một thứ vũ khí mà ngay Liên Hiệp Quốc cũng đưa lời cảnh cáo đến Paris. Tôi nói đùa với bạn bè người Pháp: Người Algérie tôn trọng dân chủ và tỏ ra nhân văn hơn người Pháp!

Sự thông minh của tổng thống Pháp, hay của Triết gia Pascal là tránh thế trực diện đối đầu với địch thủ, khiến địch thủ giảm bớt ý chí đấu tranh và sự cẩn thận tính toán. Con nhện bắt mồi nhờ màn lưới nhu nhuyến nhưng dai lì chứ không trực diện đối đầu khi con mồi dính vào lưới. Con rắn độc yếu hơn con trâu nhưng có thể giết chết trâu. Những tên cướp lân la làm quen với ta, sau khi làm cho ta lơi lỏng việc đề phòng, bất thần, tên cướp giật đồ bỏ chạy. Tôi từng bị chiêu trò này lường gạt và bị giựt mất tiền bạc, chìa khóa, thẻ tín dụng ngay khi đưa vợ con sang thành phố Barcelona vào một dịp nghỉ hè ở Âu châu.

Thủ đoạn gây mê, tỏ ra vẻ thân thiện cũng được các nhà truyền giáo VN sử dụng để truyền đạo. Họ ra rả hô hào đạo nào cũng tốt, không nên có thái độ kỳ thị tôn giáo. Slogan này tuy đơn giản, lại rất hữu hiệu để tiêu diệt đạo khác, đạo nào cũng tốt, và nhờ thế mà họ lân la đưa cái tốt của mình đè lên cái tốt của đạo khác, họ mang hia đội mão cho Thiên Chúa Giêhôva giống ông Trời của VN, và dần dần ông Trời da to trắng to lớn béo mập đi máy bay, ngồi ôtô đè bẹp mất ông Trời nho nhỏ hiền hậu đi guốc mộc quấn khăn rằng của người Việt, từa tựa như  Pascal đưa Thiên Chúa tín ngưỡng vào chỗ Thượng Đế bản thể luận.

Theo tôi, sự đánh cuộc của Pascal rất phù hợp với duy lợi chủ nghĩa, nó hoàn toàn không nằm trong phạm trù triết học. Triết học, nếu phải đưa ra lựa chọn, nó sẽ lựa chọn cái đúng, cho dù phải chịu hủy diệt, như trường hợp Bruno Giordano, Galileo... Tuy nhiên, từ trước đến nay, khi đề cập đến vụ cá cuộc này, mọi sách báo Kytô giáo đề ca tụng là biện lý triết học (argument philosohique):

Le pari de Pascal est un argument philosophique mis au point par Blaise Pascal, philosophe, mathématicien et physicien français du XVIIe siècle. Largument tente de prouver quune personne rationnelle a tout intérêt à croire en Dieu , que Dieu existe ou non. En effet, si Dieu n’existe pas, le croyant et le non croyant ne perdent rien ou presque. Par contre, si Dieu existe, le croyant gagne le paradis tandis que le non croyant est enfermé en enfer pour léternité.

(Vụ đánh cuộc Pascal là một biện lý triết học được Blaise Pascal, triết gia, toán học gia, vật lý học gia Pháp của thế kỷ XVII đặt ra. Biện lý nhằm chứng minh là một người duy lý có tất cả lợi ích để tin vào Thiên Chúa, cho dù Thiên Chúa có thực hay không. Kết quả là, nếu Thiên Chúa không thực có, người tin hay không tin đều chẳng có gì mất mát hay gần như thế. Ngược lại, nếu Thiên Chúa thực có, thì kẻ tin vào Chúa được vào thiên đàng, trong khi người không tin bị nhốt vào hỏa ngục vĩnh viễn.)

II – CHỦ NGHĨA HOÀI NGHI

Dù Pascal tỏ vẻ vô tư không phe phái khi đưa ra những biện lý cho vụ đánh cuộc mang tên ông, nhưng bàng bạc qua tư tưởng của ông, ta cũng có thể thấy rằng, là một con chiên ngoan đạo, ông đã e dè với chủ nghĩa hoài nghi bắt đầu lộ rõ nét sau khi Hệ Nhật Tâm của Copernic được khám phá và đang bị cấm đoán trong thời đại Phục Hưng, lại rất được bàn tán cùng khắp với các phong trào trí thức Âu châu.

https://ngoclongyd1.violet.vn/entry/show/entry_id/673038

Có thể nói Chủ Nghĩa Hoài nghi là đỉnh cao của Thời Kỳ Phục Hưng.

Trong chỉ hơn một trăm năm trước khi bước sang Kỷ Nguyên Ánh Sáng, nó đã khiến bùng vỡ rất nhiều phát minh khoa học, làm thay đổi bộ mặt của văn học và nghệ thuật, đặc biệt nó đưa triết học bước vào một giai đoạn mới.

Danh sách các tư tưởng gia nòng cốt của thời kỳ này phải được kể là Michel de Montaigne (1533-1592), có thể được xem như cha đẻ của Thuyết Hoài Nghi tại Pháp. Cả đời ông chỉ viết duy nhất một cuốn sách gồm ba tập, cuốn Essais (Những Tiểu Luận). Đó là tác phẩm đầu tiên mà Tây Phương đưa cái TÔI vào ngữ cảnh của những luận đề triết học. Nói đúng hơn, Montaigne không sử dụng ngôn ngữ của triết gia để viết về triết học, mà sử dụng ngôn ngữ một người suy tư và biết cách suy tư, ông đề cao sự quan sát, xem trọng lương tâm của người quan sát và khuyến khích sử dụng lương tri để nắm bắt sự vật (Son but n’est pas d’expliquer, mais de constater, de prendre conscience et de faire prendre conscience, non pas d’une théorie de la conscience, mais de la réalité – Jean François Revel viết về Montaigne, Revel là triết gia Pháp, cha ruột của Mathieu Ricard, vị sư thông dịch viên của Đức Đạt Lai Lạt Ma mỗi khi ngài sang Pháp).

Ngay vào lời nói đầu tác phẩm của mình, Montaigne viết: je suis moy-mesme la matière de mon livre, tôi chính là chất liệu trong sách của tôi; Trong tập III phần 13, ông viết: Je mestudie moy-mesme plus quautre subject, cest ma métaphysique, cest ma physique. Tôi tự nghiên cứu lấy chính tôi hơn bất kỳ một chủ đề nào khác, cái tôi siêu hình và cái tôi vật lý. Ông không nói đến những gì không liên quan đến ông, có lẽ trong đó có ý niệm vể Thượng Đế mà ông tôn thờ suốt đời. Đối với ông, Thượng Đế là một khái niệm đại diện cho đạo đức, là mục tiêu là hoàn mỹ, thánh thiện, hơn là một thần linh như được diễn tả trong thánh kinh.

Ông trải nghiệm cuộc chiến tranh tôn giáo, cuộc thảm sát Tin Lành ngày 24 tháng 8 năm 1572 Saint Barthélémy với số người chết lên đến 3 vạn, đây là một bi kịch chỉ bởi vì người ta đã gán vào Thượng Đế những giá trị mang tính ích kỷ ẩn kín dưới những danh từ hào nhoáng, những giá trị rêu rao, những huênh hoang tưởng tượng của từng xã hội trong từng thời kỳ khác biệt, nên ông cho rằng Thượng Đế là cái gì con người không thể hiểu được, và bất kỳ một giải thích hay một giá trị nào gắn vào ngài chính là đã hạ bệ ngài xuống vực thẳm một cách nguy hiểm. Quiconque croit avoir quelque connaissance de Dieu, abaisse fatalement Dieu dans labîme. De toutes les opinions humaines sur la religion, celle-ci paraît être la plus vraisemblable qui voit en Dieu une puissance incompréhensible, le créateur et le conservateur de toutes choses, la bonté et la perfection (Harald Höffding, triết gia Đan Mạch, trong tác phẩm Histoire de la philosophie moderne).

Thực ngẫu nhiên mà Montaigne sinh ra đời cùng lúc với cây thánh giá xuất hiện trên đất Việt năm 1533. Vào thời kỳ này, giả sử có một thiền sư du hành sang Âu châu để truyền đạo như các thiền sư Tây Vực tìm cách hoằng đạo tại các vùng Đông Á, thì nhà Phật có sống sót mà hành đạo ở Âu châu như các thừa sai nhà Chúa sang Á châu không? Có người trí thức Tây phương nào dám trả lời câu hỏi này? Tuy nhiên trong Montaigne, ta cảm nhận được sự giác ngộ của đạo Phật dù ông chưa hề nghe đến danh Đức Phật, ta sẽ ngạc nhiên vô cùng khi ông sẵn sàng trút bỏ mọi thứ, mọi giá trị mà ông nghi ngờ trong suốt chiều dài 2000 năm văn hóa, và chấp nhận trong ông cái trống không mà không vội thay vào đó bất kỳ một mặt hàng mới nào. “Montaigne a eu le courage de faire le vide, de se purger de notions fausses sans tenter immédiatement de les remplacer, sans céder à ce réflexe conservateur qui satisfait de toute urgence le besoin de hisser une fantaisie nouvelle sur le trône des illusions dès que la précédente s’est fanée. Ces fameuses critiques philosophiques, proposées régulièrement par des philosophes, qui, à peine jetés à bas deux millénaires d’activité culturelle, proposent, dans le quart d’heure qui suit, leur propre marchandise, ne sont que des épisodes négligeables.”  - Jean François Revel ).Trong đạo Phật, sự rũ bỏ mọi khởi niệm là cách để đạt đến vô ngã. Phật giáo đề cao tiếp cận tính không (vacuité) của các pháp. Chủ nghĩa Hoài Nghi được bắt nguồn từ triết gia cổ đại Hy Lạp Sextus Empiricus (160-210) phủ nhận mọi nội dung thực hữu hay phi hữu, rất gần với triết học Tánh Không Trung Quán Tông của Long Thụ Bồ Tát trong cái nhìn vào thực tướng sự vật nương nhau mà cấu thành và phụ thuộc vào nhau mà hiện hữu (coproduction conditionnée), và nếu Người ta nói, Descartes hoài nghi để không còn hoài nghi, còn Montaigne, ông hoài nghi để hoài nghi (Montaigne doute pour douter, alors que Descartes doute pour ne plus douter), với hàm ý Descartes tiến xa hơn Montaigne trong lãnh vực triết lý, thì quả thực là một ngộ nhận lớn. Descartes chỉ vượt trội Montaigne về mặt duy lý mà thua xa ông về trực giác bén nhạy. Montaigne chưa bao giờ tự xem mình là triết gia, và theo cái nhìn của Revel thì ông còn xem thường triết học, tuy không chống lại triết học, ông vẫn là kẻ aphilosophe (nghịch (triết) lý – từ của Revel khi nói về Montaigne). Ông chống lại mọi hình thức bạo hành, nên cũng không cổ súy cách mạng. Đối với ông, không thể đưa cứu cánh làm biện minh cho phương tiện ‘les moyens discréditent la fin’, không áp đặt một giá trị lên một giá trị khác. Mặc dù ông không chống đối Giáo Hội, cũng chưa bao giờ tự nhận là vô thần, nhưng chỉ một câu nói sau đây của ông, tất cả những luận thuyết thần học âm mưu thống trị toàn cầu, tự khoe khoang là Alpha là Oméga bỗng biến thành bọt nước trôi sông: Chúng ta là dân chúa cũng tương tự như chúng ta sinh ra ở vùng Périgord, hay sinh ra làm người Đức! (Nous sommes Chrétiens à même titre que nous sommes Périgordiens ou Allemands). Tôi chưa từng nghe một con chiên nào bình đẳng và thánh thiện như con chiên Michel de Montaigne. Người theo Chúa, hay người da đen không do ta lựa chọn, mà khi sinh ra, ta đã là dân chúa hoặc da đen. Đây là cái tát nẩy lửa vào các đoàn quân thập tự đi cắm thánh giá cùng khắp thế giới. Làm sao mà bắt người da đen biến thành da trắng? Nhưng với Giáo Hội La Mã, việc này rất dễ, cứ lột da và thay da mới vào, bất kể di hại bao nhiêu đời đến sau cho những dân tộc kém may mắn khi sinh ra không có sẵn cây thập ác trên cổ. Cái gì làm sung sướng cho Vatican khi dân tộc VN, Trung Quốc hay Ấn Độ chia rẽ, sẵn sàng chém giết nhau từ thế hệ này đến thế hệ kia chỉ vì họ không cùng tôn giáo với người Kytô? Đó chính là lột da bẩm sinh và thay vào đó bộ da có đóng dấu của Kytô giáo.

Trong thời kỳ này, những phát minh như hệ nhật tâm, kính thiên văn, sự khám phá ra Tân Thế Giới của Kha Luân Bố, sự giàu có của Âu châu nhờ các cuộc xâm lăng thực dân và buôn bán nô lệ. Giáo Hội tỏa rộng ảnh hưởng quyền lực khi chia thế giới thành hai, ban cho hai vương quốc mạnh nhất về hàng hải đương thời là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bằng sắc lệnh Inter cætera năm 1493. Qua sắc lệnh này, Giáo Hội cho phép tàn sát, chiếm đoạt, san bằng, hiếp dâm để sinh sản, và đi đến đâu thì cắm thánh giá đến đó để làm cho danh cha cả sáng. Cùng với những bước tiến này, sự phát kiến ra máy in vào năm 1450 đã dân chủ hoá cuốn kinh thánh từ sự độc quyền của Giáo Hội thành phổ cập trong dân gian mà đặc biệt là giới trí thức. Nó cũng được dịch từ La Tinh sang Anh ngữ trong giai đoạn này, đã khiến quần chúng thấy rõ nghịch lý giữa đời sống vương giả quyền lực của giới giáo sĩ so với tư tưởng bác ái vị tha bênh vực kẻ nghèo khó trong sách Phúc Âm. 95 luận đề quan trọng nhằm sửa đổi Giáo Hội cũng được Luther in ra trong thời kỳ này, là trái bom nổ tung Giáo Hội, cũng là vết nứt đầu tiên chia Công giáo La Mã thành hai tôn giáo Âu châu kể từ khi nó được tôn vinh thành quốc giáo của đế chế La Mã và thay thế đế chế này cai trị lục địa này sau khi La Mã sụp đổ.

Một khuôn mặt nổi cộm khác đáng lưu ý và gần gũi với chúng ta hơn là David Hume (1711-1776). Tới Hume thì không còn sự nể nang nào dành cho Thiên Chúa nữa, vì thời đại của ông đã lọt vào đỉnh của Kỷ Nguyên Ánh Sáng, thế lực của Giáo Hội đã bớt hung bạo.

Vào đầu khảo luận Hume on Religion trên website Stanford Encyclopedia of Philosophy, tác giả Paul Russel và Anders Kraal nhận xét:

Những biên khảo đa dạng của David Hume liên quan đến vấn đề tôn giáo được liệt vào hạng quan trọng và có ảnh hưởng tác động bực nhất trong đề tài này. Trong các bài này, Hume tiên phong đưa ra sự phê bình hoài nghi có hệ thống trên những nền tảng triết lý của những trường phái thần học đa dạng. Bất kỳ sự diễn dịch nào mà người ta rút ra từ toàn bộ triết lý của Hume, thì chắc chắn rằng một trong những mục tiêu triết lý căn bản của ông là đã phá những học thuyết, những giáo điều của niềm tin truyền thống vào thần quyền.

(David Hume’s various writings concerning problems of religion are among the most important and influential contributions on this topic. In these writings Hume advances a systematic, sceptical critique of the philosophical foundations of various theological systems. Whatever interpretation one takes of Hume’s philosophy as a whole, it is certainly true that one of his most basic philosophical objectives is to discredit the doctrines and dogmas of traditional theistic belief.)

Hume ngay cả từ chối ý tưởng về Thượng Đế là nguyên nhân đầu tiên của vạn hữu, và vì thế ông từ chối luôn cả thuyết nhân quả. Theo ông thì nhân và quả không thể tách rời nhau để định danh một bên là nhân và bên kia là quả. Nhân và quả xảy ra đồng thời, nên khi cái này là nhân cho cái kia, thì ngược lại cái kia cũng là nhân của cái này, hoàn toàn trái với nguyên tắc nhân quả tất cả mọi biến động đều có một nguyên nhân - tout événement a une cause của Aristote, nên Thượng Đế không phải là nguyên nhân đầu tiên, và ông kết luận không có Thượng đế. (Hume shows that experience does not tell us much. Of two events, A and B, we say that A causes B when the two always occur together, that is, are constantly conjoined. Whenever we find A, we also find B, and we have a certainty that this conjunction will continue to happen. Once we realize that “A must bring about B” is tantamount merely to “Due to their constant conjunction, we are psychologically certain that B will follow A, then we are left with a very weak notion of necessity. This tenuous grasp on causal efficacy helps give rise to the Problem of Induction[0]that we are not reasonably justified in making any inductive inference about the world. Internet encyclopedia of philosophy - https://www.iep.utm.edu/hume-cau/)

Trong triết học Phật giáo về nhân duyên, mặc dù đạo Phật chủ trương thuyết nhân quả không gián đoạn, trùng trùng duyên khởi, không có nguyên nhân đầu tiên, nhân quả chỉ là tác dụng duy nghiệm đứng trên chiều hiện tượng, nhưng nhân quả lại có mặt cùng lúc (đồng thời – constant conjunction) đứng trên chiều bản thể, con gà không thể có trước cái trứng, nhưng cái trứng lại tiềm ẩn trong con gà. Trên quan điểm của 12 nhân duyên, chỉ cần chặt đứt một mắc xích trong chiều lưu chuyển, hành giả có thể phá cả chấp nhân lẫn chấp quả theo chiều hoàn diệt. David Hume khi phủ nhận nguyên nhân đầu tiên, phá nhân quả, ông lại lọt vào duy nghiệm thuyết. Phật giáo trái lại không lọt vào bất kỳ một định kiến nào, dửng dưng dừng lại bên ngoài mọi ý niệm của kiến chấp.

David Hume có lẽ là người đầu tiên tạo ra sự đố kỵ mạnh mẽ đối với các nhà thần học hay các triết gia Ca-tô-lít, đến nỗi Etienne Gilson, triết gia Pháp rất được Giáo Hội và nhà nước Pháp tâng bốc vào thế chiến thứ I, đã có những nhận xét rất tiêu cực về Hume như sau:

Ảnh hưởng của Hume tàn hại rất sâu xa, do sự hoài nghi, sự kết hợp cuối cùng của một phong trào được Descartes khởi hứng, dẫn đến kết quả một chủ nghĩa hư vô không có lối thoát -

[ l’influence de Hume a été profondément destructrice car son septicisme, l’ultime conclusion d’un mouvement initié par Descartes, s’achève dans une sorte de nihilisme désespéré.]

Cơn gió hoài nghi cực mạnh, thiên văn học thì chế kính để xem cái vòm của Thiên Chúa và nơi ngự trị của ngài nó ra làm sao, các nhà hàng hải thì muốn đi xem cái biên mép của thế giới, nơi mà Augustin nói rằng đi trệch ra ngoài sẽ té ra khỏi mặt đất, và rằng ngày Đức Kitô tái lâm, ngài không thể bay xuống xuyên qua không khí để đến nơi ấy. Chúa có thể thăng thiên, nhưng không biết độn thổ. Ở bên kia mặt đất (so với Do Thái) như con dân VN, TQ, Hàn Quốc và Phillippines thì Chúa không thể đáp không khí mà bay xuống được. Ngài chỉ hạ cánh xuống Trung Đông thôi, nên con dân nước Donald Trump cũng không chắc được ngài đoái hoài tới. Ngài đã nói rành rọt trong kinh Thánh rằng ngài chỉ cứu dân Israel mà thôi. (St. Augustine asserts that it is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam. Perhaps, however, the most unanswerable argument against the sphericity of the earth was this, that in the day of judgment, men on the other side of a globe could not see the Lord descending through the air.  - http://www.vexen.co.uk/religion/christianity_astronomy.html)

Nhà hàng hải Ferdinand Magellan thì biết rằng quả đất hình cầu, ông cười ngạo Giáo hội La Mã cho rằng trái đất hình dẹt, còn ông, ông nói ông biết nó tròn, bởi vì ông thấy bóng của trái đất trên mặt trăng, và ông tin vào cái bóng ấy hơn là tin nhà thờ.“The church says the earth is flat, but I know that it is round, for I have seen the shadow on the moon, and I have more faith in a shadow than in the church.”

Những manh nha của sự tỉnh thức chống lại thần quyền bao gồm:

A - Hoài nghi về Thượng Đế và thế giới do ngài tạo dựng

Bruno Giordano (1548 – 1600) , một tu sĩ Rô Ma giáo người Ý, một nhà thiên văn học, triết gia, chủ trương truyền bá học thuyết Nhật Tâm của Copernic, nhưng đối với Copernic, vũ trụ là một hệ thống kín chỉ có một mặt trời duy nhất, trong khi Giordano cho rằng có vô số hệ mặt trời trong vũ trụ, nghĩa là đối với ông, vũ trụ là một vòm trời mở! Cái mở đơn giản ấy lại là một cuộc cách mạng vĩ đại cho ngành thiên văn vật lý, dù chỉ dựa vào suy luận từ những dữ kiện quan sát bằng mắt thường.

(Cet homme génial a révolutionné la pensée humaine sur le monde qui nous entoure; c’est lui le premier à avoir formulé l’hypothèse selon laquelle notre ciel n’est pas un lieu clos: il déclare au XVIème siècle que bien au contraire, notre planète se situe dans un espace infini! Giordano Bruno a été le premier à découvrir l’existence de l’univers.

Pour l’époque, c’est un véritable coup de tonnerre qui s’abat sur l’église, Giordano le paiera de sa vie, brûlé vif à Rome).

Đối với ông, vũ trụ bao la vô biên, và nhất là, Thượng Đế không ở ngoài vũ trụ, mà ngài chỉ là thành phần của vũ trụ, do vậy, nhiều học giả đã cho rằng ông chính là cha đẻ của thuyết Phiếm Thần (Panthéisme). Ông tin vào thuyết luân hồi tái sanh, nhưng oái oăm thay ông lại không thể tin Chúa Ba Ngôi, Maria đồng trinh, Giêsu có phép lạ và nhất là cười vào cái bí tích thánh thể biến bánh thành thịt và rượu thành máu. Lúc bấy giờ, chỉ riêng việc tin vào thuyết nhật tâm đã đủ để được kết án là dị giáo chứ nói gì đến tin luân hồi hoặc không chấp nhận rằng Thượng Đế là căn nguyên của vũ trụ. Jacques Attali (nhà lý luận kinh tế và xã hội, nhà văn, cố vấn chính trị và công chức cao cấp của Pháp) viết một đoạn giới thiệu về Giordano như sau:

NASA vừa bắt tay vào chương trình đầy tham vọng nhất của mình; tìm kiếm các dạng sống khác trong vũ trụ. Và xác suất có thể tìm được lại rất khả quan: chỉ riêng trong thiên hà của chúng ta, có khoảng hàng trăm tỷ mặt trời, được quay quanh ít nhất bởi từng ấy tỉ hành tinh, mà trong số đó nhiều hành tình có thể ở được, bởi vì chúng nằm ở khoảng cách so với mặt trời của chúng thì nước có thể hình thành ở đó. Hơn thế nữa, đây chẳng phải là những dạng sống mà chúng ta biết cách tưởng tượng ra hay sao.

Chính xác là bốn thế kỷ trước, tính từng ngày, một người đàn ông đã chết trên một giàn thiêu được dựng lên ở Rome theo lệnh của giáo hoàng, vì ông là người đầu tiên đã viết chính xác như sau: "Vô số mặt trời tồn tại; vô số trái đất xoay quanh những mặt trời này như bảy hành tinh xoay quanh mặt trời của chúng ta. Có những sinh vật sinh sống trên những thế giới này.” Và sự tử đạo của ông vẫn luôn là biểu tượng của mọi tội ác chống lại tinh thần.

[SH - Các bó củi được chất đống cho nhà triết học và pháp sư Giordano Bruno, bị kết án tử hình như một kẻ dị giáo ngoan cố.. Từ chối bị xử siết cổ, ông bị thiêu sống.]

[A NASA vient de se lancer dans son plus ambitieux programme; la recherche d’autres formes de vie dans l’Univers. Et la probabilité d’en trouver n’est pas nulle: dans notre seule galaxie, autour de centaines de milliards de soleils, tournent au moins autant de planètes dont beaucoup sont habitables, parce que situées à une distance de leur soleil telle que de l’eau peut s’y former. Et encore ne s’agit-il là que des formes de vie que nous savons imaginer.

Il y a exactement quatre siècles, jour pour jour, un homme mourait sur un bûcher dressé à Rome sur ordre exprès du pape, pour avoir été le premier à écrire exactement cela: «Un nombre infini de soleils existent; un nombre infini de terres tournent autour de ces soleils comme les sept planètes tournent autour de notre soleil. Des êtres vivants habitent ces mondes. » Et son martyre reste comme le symbole de tous les crimes contre l’esprit.]

Cho đến ngày nay, dù Giáo Hội đã đứng ra xin lỗi vụ án Galilée, thì với Bruno, họ vẫn cho là họ đã làm đúng. Và điều đúng ấy như thế nào? Vì không đủ lí lẽ để biện thuyết trước sự thông thái và can trường của Bruno, Giáo hội đã cho rút lưỡi ông để ông không được nói. Và con thú hung hăng ấy vẫn tự cho mình quyền sở hữu mọi chân lý, ngay cả việc hành hạ, tra tấn và thiêu sống người, chỉ vì người không chia sẻ quan điểm với mình.

Kepler viết cho Galilée rằng nhờ cái chết của Bruno Giordano mà họ có thể mạnh dạn tiếp tục nghiên cứu thiên văn vật lý nên không bao giờ được quên ông.

Tên của Giordano được triết gia Diderot vinh danh là biểu tượng của tự do tư tưởng. Thế giới tự do ngày nay tôn vinh ông là nhà khoa học triết gia anh hùng vĩ đại. Câu nói thời danh của ông trước khi chết đã trở nên ngày càng mang tính tiên tri: Vous éprouvez sans doute plus de crainte à rendre cette setence que moi à la  recevoir – Các ông run sợ khi lên án tử hình tôi hơn là tôi sợ hãi khi nhận nó. Dù mạnh miệng thế nào, bào chữa thế nào, với toàn bộ sức mạnh tuyên truyền, với bao phương tiện truyền thông của Internet hiện đại nhằm bôi nhọ Bruno Giordano qua ngõ tín đồ cuồng tín, thì ông vẫn là ánh sáng; và kẻ bôi nhọ ông vẫn run sợ, vì nó chính là bóng tối của tội ác. Bóng tối rất sợ ánh sáng, đó là quy luật của chính khí trong vũ trụ.

Thời kỳ Phục Hưng là khởi đầu của trào lưu vô thần tại Âu châu, nó đánh dấu sự hoài nghi của Triết lý Tây phương chống lại nhất thần luận.

Ngoài sự rạn nứt của Giáo Hội chia thành hai tôn giáo khác biệt vào thời kỳ này, tách rời tín đồ thành Tin Lành và Công giáo. Ta có thể nói, đây là thời kỳ tiên báo cái chết triết lý của Thiên Chúa.

Trước tiên, có thể nói Léonard de Vinci (1452 – 1519) là tướng tiên phuông cho trào lưu vô thần, mà theo một số tài liệu, ông là người đồng tính, và không một người đồng tính nào có thể đặt trọn cuộc đời mình vào tay Chúa. Công việc đầu tiên của ông là cho rằng không thể có cái gọi là Đại Hồng Thủy (global flood), vì nước dâng lên như được tả trong sách Sáng Thế thì phải có chỗ rút, nếu toàn thể địa cầu đều ngập nước, vậy nước rút về đâu?

Ông cũng hoài nghi về Thiên Chúa như sau: Và nếu chúng ta nghi ngờ về tính xác thực của mỗi sự mỗi vật đi qua cảm giác của chúng ta, làm sao mà chúng ta lại không nghi ngờ hơn nữa về sự tồn tại của Thiên Chúa, của linh hồn hay những sự vật tương tự, vốn là đề tài không bao giờ chấm dứt luôn được bàn tán và gây xôn xao – (And if we doubt the certainty of each of the things that passes through our senses, how much more should we doubt the existence of God and the soul and other things of that nature, for which discussion and controversy is unceasing.)

Thứ đến là Niccolo Machiavel (1469 - 1527). Theo sử gia chuyên gia về Kytô Giáo thời kỳ Phục Hưng Jean Delumeau, trong cuốn La Civilisation de la Renaissance, ông cho rằng, Machiavel đã không những chống lại giới tăng lữ vô đạo đức, mà còn chống báng cả tinh thần của sách Phúc Âm. Có một giòng thác chống Kytô mà mà lần đầu tiên trong đó hình thành dấu vết vô thần ở Tây Phương trải qua nhiều thế kỷ.

Pietro Pomponazzi (1462 - 1525) là triết gia Ý sinh tại Bologne, phản bác niềm tin vào linh hồn bất biến và bất tử của Kytô giáo. Đối với ông thì linh hồn chết cùng với thân xác theo Aristote. Ông cũng chả tin vào phép lạ. Cuốn Chuyên Luận về Tính Bất Tử của Linh Hồn (Traité de limmortalité de lâme) bị đem ra thiêu đốt trước công chúng. Hú vía cho Pomponazzi, ông được hồng y Pietro Bembo che chở nói đỡ với giáo hoàng Léon X, nếu không thì sinh mạng ông suýt nữa cũng được thiêu sống cùng cuốn sách.

Ở đây tôi không bàn về chuyện linh hồn. Nhưng cũng xin mở một dấu ngoặc nhỏ để nói về từ linh hồn.

Từ này không phải sản phẩm đặc quyền của kinh Thánh, mà gần như tất cả mọi văn hóa nhân loại đều tin rằng con người có một phần linh thiêng nào đó không bị hủy diệt theo thân xác. Bằng chứng là chúng ta có từ linh hồn 灳魂 của Trung Quôc để dịch các từ soul, âme của Tây phương, và văn minh TQ quan niệm rằng xác thân mất chứ thần hồn không mất. Tuy nhiên, khi một số nhà khoa học tuyên bố rằng, lúc con người chết, những dữ liệu thông tin lượng tử (information quantique) được chứa đựng trong các vi quản (microtubule) của họ sẽ thoát ra khỏi cơ thể và lơ lửng trong vũ trụ chứ không hề bị hủy diệt, lập tức có ngay một website Kytô giáo của Pháp mang tên infochretienne.com với bài viết khoe rằng phát minh của khoa học đã chứng minh có linh hồn vĩnh cửu sau khi chết, đúng như kinh Thánh. Đọc những giải thích của họ thì chả có gì mới mẻ, đại loại cũng chả khác những gì mà Antoine Lavoisier (1743 - 1794) đã tìm ra từ rất lâu, chỉ khác một bên là khám phá từ hóa học, bên kia là khám phá từ cơ học lượng tử, nhưng cả hai đều đưa ra một định luật của thiên nhìên vật lý, đó là chẳng cái gì sinh, chẳng cái gì diệt, chỉ là sự hoán chuyển năng lượng hay dạng thức, rất trái với tín lý tất cả đều do Chúa sinh, tất cả đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Định luật tổng quát và cơ bản của Lavoisier là chẳng gì mất đi, chẳng gì sinh ra, tất cả đều do hoán chuyển (Rien ne se perd, rien ne se crée, tout se transforme). Lavoisier cũng chỉ nghiên cứu và xác định lại học thuyết của triết gia Anaxagore sống 500 năm trước Tây Lịch. Ông này nói những điều không thua triết lý nhà Phật: Không gì sinh chả gì diệt, các pháp vốn sẵn có gắn kết vào nhau, rồi lại xa rã nhau (Rien ne naît ni ne périt, mais des choses déjà existantes se combinent, puis se séparent de nouveau). Tuy nghe trái với câu chư pháp tùng duyên sinh, diệc tùng nhân duyên diệt của Phật môn, mà ý nghĩa lại rất tương đồng. Vũ trụ biểu hiện trước mắt ta  qua các hiện tượng, ta thấy bằng mắt, sờ bằng tay, hoặc bằng dụng cụ thì ta cho là sự vật sinh ra, khi ta không thấy được bằng mắt, sờ bằng tay, và ngay cả không thể thăm dò bằng dụng cụ, ta nói nó đã mất; kỳ thực chả gì sinh ra, chả có gì mất đi; chỉ có hiện tương sinh và hiện tượng diệt. Nếu linh hồn là cái bất tử, thì thân xác cũng bất tử, vì những gì cấu tạo ra xác thân vẫn được thu dụng, tái cấu trúc trong thiên nhiên vật lý, ngay cả khi trái đất này bị hủy diệt.

Sau khi khoe rằng khoa học đã chứng minh linh hồn bất tử, website Kytô infochretienne.com còn đưa ra các câu kinh hăm dọa mà tôi đưa ra đọc cho vui mà không bình luận:

"Ne craignez pas ceux qui tuent le corps et qui ne peuvent tuer l’âme, craignez plutôt celui qui peut faire périr l’âme et le corps dans la géhenne". Matthieu 10:28

[Ðừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Ðấng làm cho đọa đày được linh hồn và thân thể trong địa ngục.]


Người kế theo Pietro Pomponazzi là triết gia người Anh Thomas Hobbes (1588 – 1679). Ông này do sống trong thời kỳ loạn lạc của nước Anh, cảm thấy sự xung khắc của loài người là do bị các định chế xã hội, truyền thống, chính trị làm cho họ đối mặt với nhau, với tác phảm nổi tiếng Léviatan (du citoyen, về công dân), ông đề nghị một nhà nước do vua lãnh đạo, hoàn toàn sống theo nhiên tính của các nhu cầu, một quốc gia tự nhiên (état de nature), xóa bỏ mọi tập tục, truyền thống, tôn giáo... Ông bị lên án ngay là vô thần.

Ở đây chúng ta không đi vào chi tiết các đề nghị chính trị của ông, mà chỉ lướt qua tư tưởng vô thần trong thời kỳ Phục Hưng. Trích ra đây vài câu nói khinh bỉ của ông về tôn giáo như sau:

Bốn điều này là mầm mống tự nhiên của tôn giáo: ý tưởng rằng có linh hồn, sự thờ ơ về những nguyên nhân khác, sự tôn kính những gì làm sợ hãi, và dự đoán về tương lai từ những dữ kiện bất thường. (Ces quatre choses sont les germes naturels de la religion: lidée quil y a des esprits, lignorance des causes secondes, la vénération de ce qui fait peur, et la prédiction de lavenir à partir de choses accidentelles.) - Thế giới của Âu châu khi Kyto giáo thống trị chìm ngập trong bầu khí được bao trùm bởi nguyên nhân thứ nhất là Thiên Chúa, mà hoàn toàn phủ nhận các nguyên nhân khác, do vậy mà lịch sử gọi đó là Đêm Dài Trung Cổ.

Giáo Hoàng không là gì khác hơn cái hồn ma của Đế chế La Mã quá cố, đội vương miện ngồi trên mộ của mình. (La papauté nest rien dautre que le fantôme du défunt Empire romain, siégeant couronné sur sa tombe.)

Theo sau là John Locke (1632 – 1704) cho ra đời Bức Thư về sự Khoan Dung (La lettre sur la tolérance) trong đó ông nêu ra hai khái niệm rất mới cho thời đại:

  •  Một giao ước xã hội nối kết nhà cầm quyền và thần dân bị cai trị, với quyền không khuất phục nếu nhà cầm quyền không tôn trọng những luật định đã hứa. Jean Jacques Rouseau đã khởi hứng từ đề nghị này cho cuộc Cách Mạng Pháp.
  •  Nhà cầm quyền không được can thiệp vào tín ngưỡng của dân.
  • Năm 1690, Locke xuất bản Tiểu Luận về lý trí của Con Người (L’Essai sur l’entendement humain), trong đó ông tìm cách xác định nguồn gốc tri thức của con người và mức độ đức tin có thể được trao cho họ. Đối với Locke, tất cả các ý tưởng của chúng ta đều xuất phát từ kinh nghiệm của các giác quan và suy nghĩ của chúng ta. Cụ thể, ý niệm bẩm sinh về Thiên Chúa nơi con người bị ông bác bỏ.

    Sau nhóm các triết gia hoài nghi và có tư tưởng "phản động" đối với Thiên Chúa và Giáo Hội như vừa kể, thì dưới đây là ba triết gia hoài nghi, nhưng không phản động, lại tìm cách bào chữa cho Thiên Chúa:

    Người đi tiên phong của nhóm này là René Descartes (1596-1650) và tiếp đó dĩ nhiên không ai khác hơn chính Blaise Pascal rồi đến Leibniz.

    Người thứ nhất đưa ra những luận cứ cho rằng vì tôi là một cái gì hữu hạn và bất toàn nên phải có cái vô hạn và toàn hảo siêu việt hơn tôi, đó chính là Thượng Đế. Vào thời ấy, những lý luận cả vú lấp miệng em của Descartes gần như bất khả phản bác. Thuở ấy ít ai biết về cách lập luận đối đãi tương tức, cái này có vì cái kia có, cái này diệt vì cái kia diệt. (Mời xem Công Giáo và Thượng Đế Theo Thánh Kinh trên Sách Hiếm của cùng tác giả để rõ hơn về các lập luận của Descartes).

    Đối với hai triết gia danh tiếng Phục Hưng này, khoan nói họ đúng sai, Thượng Đế thực hữu hay phi hữu, mà chỉ cần đặt ra câu hỏi: tại sao cần chứng minh có Thượng Đế?

    Tại sao không chứng minh có Descartes hay có Pascal, mà lại cần chứng minh có Thượng Đế?

    Đây là lý luận ta thường thấy khi nói về Thiên Chúa, tựa như một tôi thần khi bàn về uy quyền tuyệt đối của vị đế vương: Không một sự vật nào mà sự tồn tại của nó người ta không thể truy nguồn từ đâu nó đến. Trên nguyên tắc, điều này cũng có thể được hỏi về chính Thượng Đế, nhưng không những ngài không cần nguyên nhân nào để tồn tại, mà ngay cái bản chất vô bờ của ngài đã là nguyên nhân hoặc lý do mà ngài không cần bất kỳ nguyên nhân nào để tồn tại. - [Il n’y a aucune chose existante de laquelle on ne puisse demander quelle est la cause pourquoi elle existe. Cela en effet peut être demandé de Dieu même, non quil ait besoin daucune cause pour exister, mais parce que limmensité même de sa nature est la cause ou la raison pour laquelle il na besoin daucune cause pour exister – Descartes].

    Ta hãy chuyển câu này thành cách một nịnh thần tán dương vị hôn quân với uy quyền tột đỉnh của một ông vua độc tài xem sao: Không một ai sống mà không chịu sự chế tài của luật pháp. Và trên nguyên tắc, điều này cũng bao hàm cả Bệ Hạ của chúng ta. Tuy nhiên, khi gọi ngài là đấng tối cao thì không những không thể có luật lệ ràng buộc, mà thực sự với uy vũ và quyền năng tối thượng của ngài, ngài đã không cần phải chịu bất kỳ hình luật nào cả.

    Tại sao từ cả nghìn năm chưa hề có bất kỳ một ai cần phải chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế ngoại trừ Thomas dAquin cho rằng chả cần phải được mặc khải hay suy nghĩ mệt óc, mà chỉ cần quan sát vũ trụ, thì thấy ngay Thượng Đế, vì ta quá nhỏ bé, và Thượng Đế chính là sự toàn hảo siêu việt, vượt lên trên hiểu biết của sự tạo dựng, do vậy sự hiện hữu ấy chỉ cần quan sát vũ trụ là thấy mà không cần chứng minh.

    Một sự việc quá hiển nhiên như vậy sao lại cần chứng minh?

    Điều hiển nhiên về Thiên Chúa của Thomas dAquin cũng là điều hiển nhiên của Âu châu thời bấy giờ.

    Từ khi Công giáo La Mã được Constantin đưa lên làm quốc giáo của lục địa Âu châu, ai mà không tin vào Thiên Chúa thì không thể sống sót, nên cái tư duy không biết Thiên Chúa thực có hay không, dù chỉ một tơ hào nghi vấn, có thể dẫn đến ngục tù tra khảo và cuối cùng là một cái chết thảm khốc, dòng họ gia đình tan nát.

    Văn minh Kytô vốn đặc biệt thích hù dọa về một cõi đọa đày thân xác ở hỏa ngục, nên các hình thức tra tấn có thể nói không nền văn minh nào trên thế gian có thể so sánh với các phương thức hành xác mà Kytô giáo chuẩn bị ở các Tòa Án Dị Giáo. Kytô giáo từng làm chậm bước tiến của nhân loại, nhưng trong kỹ nghệ tra tấn, sáng kiến tìm tòi cách tạo ra thống khổ, thì nó đã phát minh hằng trăm cỗ máy, hằng nghìn phương thức làm con người sống không được, chết không xong. Mãi đến tận ngày nay, chưa nền văn minh nào có thể sánh ngang vai vế về kỹ thuật tra tấn với văn minh Kitô giáo.

    Cứ lên wikipedia tìm là có hằng nghìn bằng chứng mà chỉ xem thôi đã rợn cả da gà, nói chi chính bản thân ai phải chịu đựng những thống khổ được Giáo Hội chiếu cố ban ân trong suốt hơn 1500 năm.

    Mặc dù tìm cách bảo vệ Đức Tin vào Thiên Chúa, Pascal có thể đã vụng về biến Thiên Chúa thành món tiền, trò hề của một vụ đánh bạc, và có lẽ vì lý do đó, ông cũng như Descartes, cả hai đều được hân hạnh nằm trong danh sách các tác giả bị Giáo Hội cấm tín đồ đọc - L’Index librorum prohibitorum (Index des livres interdits) – mà tín đồ, lúc ấy là toàn thể Âu châu.

    Người thứ ba trong thời kỳ này cũng tìm cách vệ đạo, đó là triết gia người Đức Gottfried Wilhelm Leibniz (1646–1716), con một gia đình Phản Thệ rất trung thành với cuốn Thánh kinh ngay tự thuở lọt lòng. Cũng như Pascal, ông đa tài, thông minh, vừa là triết gia, toán học gia, lại có cả năng khiếu nghệ thuật và văn chương, người ta gọi ông là tay thiên tài bách khoa trong nhóm trí thức hàng đầu nước Đức, nhóm Frühaufklärung, có nghĩa là bình minh của Thế Kỷ Ánh Sáng. Để trả lời phản bác rằng nếu Thiên Chúa thực có, sao lại cùng lúc có sự dữ hay ác quỷ, ông trả lời Chúa sinh ra ác quỷ và sự dữ để làm cho cái thiện vẹn toàn hơn, sự sa ngã của Adam trước cám dỗ của Satan là một là một tội lỗi hạnh phúc (felix culpa) vì nhờ thế mới dẫn đến sự đầu thai của Đức Chúa Con, dẫn dắt nhân loại tới một định mệnh cùng cực cao vợi hơn. Thiên chúa dự đoán trước hết thảy mọi chuyện, nhưng ngài cho phép con người tự do quyết định lấy vận mệnh của mình.

    Những biện luận của Leibniz có lẽ là bài kinh giáo khoa cho tín đồ cuồng tín sau này. Cái gì xấu cứ đổ sang Satan, cái gì không theo ý Giáo Hội là thử thách của Thiên Chúa để hoàn mỹ hơn. Adam được Chúa cho tự do lựa chọn dù Chúa biết trước Adam sẽ ăn trái cấm, nếu không Chúa lấy lý do nào mà cho Con Một Giêsu xuống trần...

    Đại khái những biện luận này không cần tới bực thiên tài toán học cỡ Leibniz nặn chất xám tìm ra, nhưng chúng lại được thế giới Kytô giáo vô cùng trân quý. Ngày nay, người phương Tây không ai lý luận kiểu của Leibniz nữa, nhưng tín đồ Kytô giáo của các nước kém phát triển như VN, Mỹ Châu La Tinh đều gần như thuộc nằm lòng loại biện luận này. Họ chưa nói ta đã biết họ muốn nói gì.

    Để minh họa rõ về ba triết gia hoài nghi thời cuối Phục Hưng hộ giáo bào chữa cho Thiên Chúa, ta có thể vẽ ra một cái tháp nhọn Thiên Chúa với ba cái đòn chống ba góc, vì sợ cái tháp ấy nghiêng ngã. Hai đòn chống Descartes, Pascal ngày nay gỗ đã mục chỉ còn dấu vết lụi tàn, nhưng cây cột Leibniz thì vẫn chống vững, và có vẻ như cái tháp nghiêng hẳn về phía đó. Ta vẫn thấy biện luận của Leibniz còn vung vãi khắp văn chương triết lý Kytô như: Thiên Chúa có tạo dựng, nhưng cái xấu, sự chết là do con người lựa chọn, Chúa cho ta sự sống, còn sống như thế nào là tự do của chính ta. Và theo Leibniz thì thế giới của chúng ta là thế giới tốt đẹp nhất của mọi thế giới có thể được tạo dựng bởi Thiên Chúa - the existing world, the one that God created, is the best of all possible worlds.

    Người ta nghĩ rằng càng có nhiều người bênh vực, bảo vệ tín điều, tín lý của Kytô giáo thì càng chứng tỏ nó mạnh; cũng như ngày nay, tín đồ càng đóng góp tiền cho Giáo Hội để bao che ấu dâm, bao che xâm phạm tiết hạnh của các nữ tu Công giáo, càng muốn thần quyền lấn áp thế quyền, để chứng tỏ Giáo Hội luôn bất khả xâm phạm: không ai có quyền xử tội các giáo sĩ ngoài trừ kẻ đại diện cho Chúa. Qua đó, ta càng thấy rõ Công Giáo La Mã luôn sử dụng các phương tiện quyền lực để giải quyết các biến cố hay các vấn nạn bất lợi đối với giáo hội.

    (xem tiếp Kỳ 2: =>)

    B – Hoài nghi Thánh Kinh và cách sống của giáo sĩ