Ông Ngô Đình Diệm, Người Thế Nào?

 

Nguyễn Xuân Ba

http://sachhiem.net/LICHSU/N/NguyenXuanBa_04.php

 30-Oct-2018

T ôi đứng trên lập trường của một người dân để xét về ông Ngô Đình Diệm một cách khách quan, thực tế đã xảy ra, không mang ác cảm hay thiên vị. Bài viết này chỉ nói được một phần chứ chưa có thì giờ đầu tư sâu hơn, mong bạn đọc thông cảm.

Trước khi đi vào chuyện bản thân và gia đình ông Diệm, xin nhắc bối cảnh lịch sử nước ta trước thế kỷ 19. Các nhà truyền giáo đã đi trước, để dọ đường giúp Pháp xâm lược vào năm 1858 sau đó (họ đánh vào Đà Nẵng không được, rút vào đánh Gia Định). Lúc đó, nhiều sĩ phu yêu nước đã đứng lên chống Pháp, thì một số người chạy theo làm tay sai cho kẻ xâm lược. Gia đình ông Diệm thuộc loại thứ hai.

Dòng họ Ngô Đình Diệm là dòng họ có truyền thống làm quan, tay sai cho Pháp. Thân phụ ông Diệm là Ngô Đình Khả, làm quan tới chức Thượng thư dưới triều vua Thành Thái, theo Nguyễn Thân dẫn quân đánh phá phong trào Văn Thân của cụ Phan Đình Phùng(1). Anh cả ông Diệm là Ngô Đình Khôi làm Tổng đốc Quảng Nam (2), Ngô Đình Thục một thời làm Tổng Giám mục phục vụ cho đạo Gia Tô rất đắc lực, Ông Diệm còn mấy người em là Ngô Đình Nhu gắn bó với ông, Ngô Đình Cẩn ở Huế nuôi mẹ cho các ông anh làm chính trị. Khi Ngô Đình Diệm (sinh năm 1901) nắm quyền ở miền Nam thì ở miền Trung Ngô Đình Cẩn tác oai tác quái, người dân nói hắn là bạo chúa miền Trung(3). Ngô Đình Luyện được Ngô Đình Diệm bổ nhiệm là Đại sứ ở Vương Quốc Anh. Hai người con gái của ông Khả bà là Ngô Đình Thị Giáo, Ngô Đình Thị Hiệp - mẹ của Hồng y Nguyễn Văn Thuận, một người chống Cộng quyết liệt.

Ngô Đình Khả, thân phụ ông Diệm

Lúc thiếu thời, cha ông Ngô Đình Diệm tức Ngô Đình Khả học Nho sau vào chủng viện học chương trình Pháp, rồi được gửi sang trường nhà dòng ở Penang, Malaysia làm tu sinh. Nhưng sau đó ông bỏ về làm quan triều Nguyễn.

Ngô Đình Diệm năm 15 tuổi cùng anh là Ngô Đình Thục vào học trường dòng. Nhưng vài tháng ông bỏ học ở đấy, xin học trường Quốc học Huế. Ông Diệm được ông Nguyễn Hữu Bài là quan phụ chính trong triều dạy dỗ và thương như con đẻ, người anh của ông Diệm là Ngô Đình Khôi lấy được con gái của Nguyễn Hữu Bài. (Ông Bài với cha ông Diệm là bạn thân).

Nói đến đây cho thấy ảnh hưởng tư tưởng của ông Diệm thế nào, ông thuộc con người đứng về phía nào, theo ai người đọc đã thấy rất rõ.

Quá trình làm quan của ông Ngô Đình Diệm từ chức Tri huyện (năm 1921), hai năm sau nhảy lên Tri phủ, năm 1929 vọt lên chức Tuần vũ tỉnh Phan Thiết (Bình Thuận ngày nay)... Năm 1923, ông được bổ nhiệm Thượng thư Bộ Lại dưới triều Bảo Đại. Do bất đồng về cách cai trị của triều đình quá lệ thuộc Pháp nên ông từ chức. Tôi nhìn ra việc ông Diệm từ chức này chỉ là bất mãn lối quan điểm giải quyết việc cai trị như đã nói chứ không phải do "yêu nước"(4). Ông chống Pháp không phải vì động cơ yêu nước như các sĩ phu Trương Định, Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng...

Cách mạng tháng Tám 1945, ông Diệm và một số người thân trong gia đình bị Việt Minh bắt tại Tuy Hòa, Phú Yên. Ông Diệm được giải ra Hà Nội, gặp Bác Hồ và được ân xá, trả tự do.

Ngô Đình Diệm qua Mỹ, phần lớn ở trong các trường dòng như Lakewood ở New Jersey và trường dòng Ossining ở New Jork. Ông được Hồng y Spellman làm trung gian tranh thủ tình cảm vài dân biểu như Walter H. Judd, Mike Mansfield và John F. Kennedy. Cũng nhờ Spellman và một vài nhân vật cấp cao CIA, Ngô Đình Diệm vào ở các chủng viện lớn nói trên. Khi sang Pháp rồi Bỉ, ông Diệm cũng ở trong tu viện lớn.

Năm 1954, khi Pháp gặp khó khăn tại Điện Biên Phủ, lúc này Pháp lệ thuộc Mỹ cả về vũ khí và tài chính phục vụ chiến tranh Đông Dương, Mỹ có ý đồ thay chân Pháp "ngăn chặn" Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á tại Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam. Mỹ dùng con bài Ngô Đình Diệm nên gây sức ép với Bảo Đại phải đưa ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng. Ngày 7-7-1954, (ngày này hồi đó ở miền Nam gọi ngày song thất) Ngô Đình Diệm lập chính phủ mới với nội các gồm 18 người.

Các nhân vật tay sai của Pháp như Nguyễn Văn Hinh, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn, chỉ huy Bình Xuyên theo Việt Minh kháng chiến, nhưng bị tình báo Pháp mua chuộc chạy về Sài Gòn theo Pháp) chống đối Ngô Đình Diệm rất mạnh. Cả giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh nữa, làm cho Diệm muốn rời bỏ chức vụ. Mỹ đã chi tiền, cử CIA, cố vấn quân sự giúp Ngô Đình Diệm dẹp được các giáo phái. Ông Dương Văn Minh là một sĩ quan do Pháp đào tạo đã ngã theo ông Diệm chỉ huy quân đội đánh Bình Xuyên. Ông Nguyễn Ngọc Thơ, một địa chủ theo Pháp nay theo Mỹ làm Phó Tổng thống cho Ngô Đình Diệm lừa mị bắt tướng Ba Cụt rồi giết chết. Tướng Trịnh Minh Thế, chỉ huy quân đội Cao Đài cũng nghe theo chiêu dụ của CIA, đầu hàng Ngô Đình Diệm. Ông Thế bị bắn sau lưng khi đang chỉ huy đánh quân Bình Xuyên trên cầu Tân Thuận (đường từ quận 4 đi Nhà Bè bây giờ là ranh giới Q.4 và Q,7). Con đường này hồi đó Sài Gòn đặt tên đường Trịnh Minh Thế, bây giờ là đường Nguyễn Tất Thành ví nó chạy qua trước bến Nhà Rồng, nơi Bác Hồ xuống tàu đi Pháp và các nước tìm đường cứu nước, ngày 5-6-1911.

Nhờ có "kinh viện và quân viện" dồi dào và hậu thuẩn toàn diện của Mỹ nên Ngô Đình Diệm củng cố được quyền lực các năm đầu sau khi dẹp yên sự chống đối của quân đội các tôn giáo. Thời kỳ này, từ 1955 đến 1958, Đảng Cộng sản chủ trương đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, đòi Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc theo Hiệp định Genève. Ở miền Nam cán bộ còn ở lại chỉ lo trốn và bị giặc bắt, bị sát hại dã man mà không được chống lại bằng võ trang. Sử ghi thời kỳ này là cuộc chiến tranh đơn phương, chính quyền Ngô Đình Diệm mặc sức tung hoành, không bị đối phương chống lại. Ngô Đình Cẩn cho tay chân từ miền Trung vào Sài Gòn tìm bắt cán bộ ta ngoài ấy chuyển vùng vào Nam đưa về giam giữ tra tấn vô cùng tàn ác ở địa ngục chín hầm tại Huế.   

Những người biểu tình nổi giận - 17 tháng 4 năm 1965: Một nhóm các nhà vận động chống chiến tranh Việt Nam ở Washington, DC, phản đối việc hủy bỏ cuộc tổng tuyển cử Việt Nam của Ngô Đình Diệm (Photo by Henry Warfield/Keystone/Getty Images)

Ngô Đình Diệm không chấp nhận Tổng tuyển cử vì người Mỹ biết uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhân dân rất cao, đến 80% ủng hộ Chính phủ Hà Nội. Mặt khác, dân số miền Bắc đông hơn miền Nam đến hai triệu người, Tổng tuyển cử thua là cái chắc, nên cương quyết chống đối. Việc này, Mỹ đã tính nước cờ từ khi Hiệp định Genève, Mỹ và cả chính phủ Sài Gòn đều không ký. Chính phủ Sài Gòn lúc đó còn lệ thuộc Pháp, nhưng đã bắt tay với Mỹ.

Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền ngày càng lún sâu vào thế gia đình trị và muốn tôn giáo trị theo ý của Ngô Đình Thục. Chuyện chính quyền cấm Phật tử treo cờ đạo Phật ở Huế hồi tháng 5 năm 1963, là theo "lệnh" của Ngô Đình Thục, đã gây ra phong trào phản đối chính quyền mạnh chưa từng thấy kể từ khi ông Diệm chấp chánh. Đỉnh điểm là vụ Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở ngã tư đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng tháng Tám), gần trước sứ quán Campuchia năm 1963, dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1.1.1963, hai anh em ông Diệm bị giết chết, năm sau 1964, ông Ngô Đình Cẩn cũng bị tử hình. Trớ trêu thay, những người từng được ông Diệm tin tưởng cất nhắc lại là những người cho hai anh em ông ấy xuống chầu Diêm vương. Ông Dương Văn Minh từng giúp củng cố quyền lực cho chế độ Ngô Đình Diệm, nay lại là người cầm đầu lật đổ Diệm.

Ông Diệm từng thoát chết một lần vào ngày 11-11-1960. Lần ấy, đại tá quân dù Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông làm cuộc đảo chánh nhưng thất bại. Sở dĩ cuộc đảo chánh ấy không thành công là những người tổ chức đảo chánh kém về tổ chức và bị mắc lừa Ngô Đình Diệm. Hồi ấy, tôi còn ở Sài Gòn, có đi xem thấy lính dù đói mà không có ai tiếp tế lương thực cho họ có cái ăn khi đứng gác... Người Mỹ thì chưa ủng hộ đảo chính. Chỉ hai ngày, số sĩ quan đảo chánh chạy vô sân bay lấy máy bay sang tỵ nạn chính trị tại Campuchia. Số hoạt động chính trị sa lông như Phan Quang Đán, Nguyễn Tường Tam...bị Diệm bắt bỏ tù, Nguyễn Tường Tam về sau uống thuốc độc tự vận. Nhiều tờ báo chửi Diệm trong hai ngày đảo chánh, sau khi hoàn hồn, Diệm cho tay chân đập phá, bắt chủ bút và đóng cửa.

Còn đảo chính năm 1963 thì Mỹ ra tay "thay ngựa giữa dòng", họ trợ sức, bật đèn xanh cho đám sĩ quan lật đổ ông Diệm. Người Mỹ trực tiếp chỉ đạo đảo chánh là đại sứ Henry Cabot Lodge. Ông Lodge là một chuyên gia về đảo chánh.

Ông Hoàng Xuân Hãn nói vợ chồng ông Ngô Đình Nhu làm cho người ta ghét, làm sụp đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Tôi thì nhận định toàn diện hơn: Ông bà Nhu có làm cho người ta ghét chế độ. Ông Nhu giúp ông Diệm xây dựng cơ đồ, nhưng nếu không có Mỹ hậu thuẫn thì ông Nhu cũng không thể giúp ông Diệm cai trị được miền Nam từ 1955 đến 1963. Ông Nhu có góp phần làm suy yếu chính quyền Ngô Đình Diệm về uy tín, đẩy nó nhanh sụp đổ chứ không phải là nguyên nhân chính.

Nguyên nhân quyết định là do Đảng Cộng sản chủ trương giải phóng miền Nam bằng vũ trang, có Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tập hợp lực lượng ngày càng đông càng mạnh làm cho chính quyền nhà Ngô suy yếu, nội bộ mâu thuẫn lục đuc, chống lại nhau ngày càng gay gắt. Chính sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng miền Nam làm cho chính quyền, quân đội của Sài Gòn không thể đứng vững nên Mỹ phải đổ quân trực tiếp chiến đấu với Việt Cộng. Nhưng rồi cũng thua, phải chấp nhận ký Hiệp định Paris cuốn cờ về nước. Hai năm sau, quân đội đệ nhị Cộng hòa trên một triệu người, nhưng phải bỏ trận địa chạy dài từ Cao Nguyên xuống đồng bằng, từ Quảng Trị Huế Đà Nẵng đến Phan Rang, Xuân Lộc, cuối cùng là Sài Gòn "thất thủ" về tay Cộng sản ngày 30-4-1975.

Ngày nay, ai còn tưởng nhớ ông Ngô Đình Diệm?

Như phần mở đầu bài viết tôi nhắc đến những người tay sai cho Pháp, tiếp nối làm tay sai cho Mỹ, những người họ hàng, cùng tôn giáo, những người cùng chí hướng với ông Diệm - xưa còn sót lại (xin nhấn mạnh không phải tất cả mà một số thôi) và đám người vong bản, bất mãn hùa theo, tưởng nhớ, ca ngợi ông ấy là người yêu nước để kiếm dola thôi. Người có cái nhìn khách quan trung chính họ đánh giá ông Diệm không phải là người tài có tầm một lãnh tụ - như cụ Hoàng Xuân Hãn đã trả lời phỏng vấn trong bài "Học giả Hoàng Xuân Hãn và gia đình Ngô Đình". Phần tôi nhận thấy ông Ngô Đình Diệm nếu có tinh thần yêu nước thì cũng chỉ vì quyền lợi của gia đình, tôn giáo ông theo và một số người phe phái nịnh bợ, kính trọng ông thôi chứ ông không vì quyền lợi của toàn dân tộc. Do vậy nên từ mâu thuẫn nọi bộ đã chuyển lên thành mâu thuẫn đối kháng với đám sĩ quan từng thân cận tin yêu của ông. Họ không còn con đường nào khác là làm thịt anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu để giải quyết mâu thuẫn. Điều này là thực tế trong chín năm chấp chánh của ông Ngô Đình Diệm chứ không phải tôi suy diễn.

NGUYỄN XUÂN BA

Ghi chú của trang nhà SH:

1)- "Cuộc đời nhiều công lắm tội của thân sinh Ngô Đình Diệm" - baomoi.com ngày 22/9/2012

2)- "Tổng Đốc Ngô Đình Khôi"- vietnamdaily.com ngày 22/03/2014

3)- “Bạo chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn: Chân tướng kẻ tàn độc - kienthuc.net.vn ngày 06/02/2013

4)- Bối cảnh quanh chuyện ông Ngô Đình Diệm mất chức:

a/. Vũ Ngự Chiêu, "Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí", Văn Hóa 1993; trang 262, 263.

"Năm 1933, sau cuộc "đảo chính" ngày 2/5/1933 (SH-Pháp đem Bảo Đại từ Pháp về lên ngai vàng, dưới quyền bảo hộ của Pháp, Hội Đồng Cơ Mật mất quyền) Nguyễn Hữu Bài bị loại ra khỏi vòng quyền lực. Toàn quyền Pierre Pasquier gọi Diệm về làm Thượng Thư Bộ Lại, kiêm Tổng Thư Ký Ủy Ban Cải Cách. Quyền Khâm Sứ Léon Thi baudeau yêu cầu Diệm làm tờ trình về kế hoạch canh tân.

Có lẽ với sự tiếp tay của Bài, đưa ra hai điều kiện: a). Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ, và bổ nhiệm một Tổng Trú sứ như đã qui định trong Hòa Ước 6/6/1884. b). Phải cho Viện Dân Biểu quyền thảo luận (Báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Coloonies)

Lập trường này cũng giống Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức Thống Sứ và Khâm Sứ Huế, sau đó cho An Nam ngân sách riêng.

Ngày 9/7/1933, Diệm ra Quảng Trị gặp Bài vài ngày. Trở lại Huế ngày 12/7, Diệm nạp cho Thibaudeau một bản sao đơn từ chức đã gửi lên Bảo Đại. Lý do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với Hiệp Ước 6/6/1884. Hiệp ước này qui định rằng Pháp chỉ giữ một chế độ bảo hộ kiểm soát (protectorate de controle) mà không phải bảo hộ trực tiếp (protectorate direct). [Báo cáo số 303- A.P., 22/7/1933, Gougal gửi Colonies; INF, 366/2905]

Theo một mật báo viên, tháng 12/1993, Diệm vào Sài gòn gặp Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v.v... Tiếp đó, báo chí Sài Gòn và cả tờ La Lanterne ở Paris mở chiến dịch đòi thay Pasquier bằng Cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne, và đưa cựu Khâm sứ Yves Chaatel trở lại Huế.

Pasquier nổi giận, truất hết chức tước của Bài, Diệm, và Đệ. Diệm còn bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng Bình."

SH nhận xét: Qua các đoạn trên, ta thấy thâm tâm ông Diệm yêu sách đòi "đổi xếp" để thuận theo phe cánh của ông mà thôi. Bảo hộ "kiểm soát" hay bảo hộ "trực tiếp" thì cũng là "bảo hộ". Ông ta không thể làm cho nước nhà độc lập dưới quyền bảo hộ của bất kỳ quan Toàn Quyền hay Khâm Sứ nào cả.

b/. Hoàng Hôn, "Ăn Ốc Nói Mò," VietBooks 1998, trang 219.

"Chính sách nhân sự ở Đông Dương hồi Pháp thuộc là do nơi ba thế lực chính: Thực Dân, Giáo Hội, Tam Điểm (Free Mason) tùy theo tình hình chính quốc. Khi ở Pháp phe Tam Điểm thắng thế thì Thực Dân ở Đông Dương về phe với Tam Điểm. Khi phe Công Giáo lên chân thì Thực Dân về phe với Giáo Hội.

Việc ông Diệm bị cách tuột hết mọi thứ có thể là đang có một sự tranh chấp giữa Tam Điểm và Giáo Hội, mà ông Diệm lại ngu ngơ, dại dột đi vâng phục quá đáng cái thế lực thất thế vào thời điểm đó. Cứ tìm xem khâm sứ Léon Thibaudeau và toàn quyền Pierre Pasquier thuộc nhóm nào là ra ngay. Chứ Bảo Đại, Phạm Quỳnh, ngoài chuyện thừa hành, làm gì có quyền để trừng phạt oan ức một người... đáng quí như ông Diệm."

______________

Nguồn: tác giả gửi