MỘT CHUYỆN TÌNH

Người Của Một Thời

- tiểu thuyết -

Nguyễn Văn Thịnh

 

MỘT CHUYỆN TÌNH

 

GẶP GỠ:

Tôi về Hà Nội để “sang áo” cho mẹ tôi. Hôm nay tôi về lại thành phố Hồ Chí Minh. Bây giờ tôi là kẻ một chốn đôi quê. Hà Nội là cái nôi tôi lớn lên thành người với bao kỷ niệm đầm ấm ngọt ngào của tuổi ấu thơ và niên thiếu. Thành phố Hồ Chí Minh với những dấu ấn buồn vui sâu sắc một thời chiến tranh khốc liệt rồi một cuộc sống hối hả đầy khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường.

Cả chục năm xa quê, nay về thấy ông bà, cha mẹ mồ yên mả đẹp, bà con họ mạc, bạn bè có cuộc sống dễ chịu, có định hướng cho một tương lai tốt hơn, mọi người mở lòng chia sẻ cho nhau những niềm vui và cả những băn khoăn. Ngồi trên chuyến tàu nhanh chạy suốt Bắc–Nam, lòng tôi bâng khuâng xao xuyến. Ngả lưng trên chiếc ghế tựa, mắt tôi lim dim hướng lên trần toa, chiếc quạt bé xíu quay lè xè, ánh đèn vàng vàng mờ nhạt, tôi bồn chồn vừa lưu luyến vừa chờ mong. Con  đường xe lửa như hai sợi chỉ mảnh mai rung rinh chạy song hành xa tít mù khơi, ở nơi cuối kia vợ con tôi đang nhớ đợi và nơi đầu này là sự bịn rịn của những người thân thiết tiễn đưa, lòng tôi rưng rưng như sống trong nửa hư, nửa thực. Tôi bỗng  nhẩm mấy câu hát một thời chợt tới:Ở hai đầu nỗi nhớ yêu và thương sâu hơn…

Ôi, thời đã qua ấy sao đẹp mà buồn?        

Ông khách già ngồi bên tôi giáp nơi cửa sổ không biết thức hay ngủ, đầu ngả trên thành ghế lúc la lúc lắc, tay ôm khư khư vào lòng cái túi da đen, đôi lúc lại buông một tiếng thở dài não nuột. Quanh tôi, người ta nhỏ to đủ thứ chuyện. Có những lời ta thán tàu chạy còn ì ạch, về bữa cơm trên tàu đuểnh đoảng, về lòng tàu quá hẹp để khách ngồi chật chội. Riêng tôi thấy thỏa mãn lắm rồi.

Mấy mươi năm trước cũng trên những chuyến tàu này, lúc còn chiến tranh cũng như lúc đã hòa bình, không biết bao nhiêu lần tôi đã xuôi ngược vào ra. Chuyến tàu nào cũng đầy những người nhảy tàu, lậu vé. Riêng tôi chưa bao giờ thiếu tiền vé một xu dù là với đồng lương bao cấp thời ấy còn eo hẹp vậy mà chưa lần nào tôi có được một chỗ ngồi yên ả, đàng hoàng, thường là phải bám thành tàu hoặc đứng ém mình giữa đám đông hỗn độn già, trẻ, gái, trai. Đôi lần may mắn được ghé trên một tấm gỗ để được gọi là ngồi thì cũng phải ép mình như nêm cối! Ấy là chưa kể đến một vài lần tôi bị giật, rạch ba lô, túi xách. Bây giờ ung dung ngồi trên ghế nệm mềm, cả thân mình được lúc lắc đung đưa theo nhịp con tàu. Tôi cho là mãn nguyện! Phải chăng tôi đã nhuốm màu an phận của những người luống tuổi?

Tôi đã qua một đêm với lòng lâng lâng thanh thản trong cái đung đưa lúc lắc đều đều của một chuyến tàu xa êm ả, gợi nhớ cảm giác dìu dịu như được nằm lọt trong lòng với cánh tay mềm mại nâng niu và ngọt ngào lời mẹ ru êm. Cho đến lúc trời sáng bạch, mọi người trên toa đều thức tỉnh, nhộn nhạo cho một ngày mới thì tôi và ông khách đồng hành ngồi bên định thần và nhận ra nhau.

Chúng tôi từng là bạn cùng chung học một lớp ở trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội thời nửa sau những năm 1950. Sau những phút đầu ngỡ ngàng, bây giờ tôi mới ngắm kỹ bạn mình: hồi trước anh to khoẻ, cái miệng rất có duyên lại hay cười mà khi cười thì đôi mắt tít lại trông rất đa tình vậy mà bây giờ anh gầy guộc, vẻ trầm mặc, hố mắt hơi sâu nên đôi mắt có vẻ to ra sau tròng kính lão, nói chuyện với bạn mà anh như đang tư lự đâu đâu, đôi mắt nhìn vào khoảng không xa vắng như đang đeo đuổi một cái gì, mái tóc anh chỉ còn ít sợi nâu hung lưa thưa trên nền bạc trắng.

Thời ấy lớp trẻ học sinh chúng tôi sống sôi nổi và say mê lý tưởng trong cái không khí dạt dào hân hoan của toàn miền Bắc và lòng người phơi phới ánh vàng sao. Anh là con nhà cách mạng nòi mà sống rất giản dị và khiêm tốn, không hề khoe mẽ về gia thế để tôn lên cá nhân mình vì thế anh nhập cuộc với đám trai Hà Nội chúng tôi một cách tự nhiên. Ông thân anh hoạt động từ thời bí mật, đã từng tù đày gian khổ, nếm mật nằm gai. Chúng tôi coi ông như mẫu người lý tưởng. Ông giữ một chức vụ gì  đó ở một cơ quan lớn của Trung ương. Ông bận công việc tối ngày, chúng tôi đến nhà bạn chơi thường xuyên mà ít được gặp ông. Đôi lần được ngồi tiếp diện với ông trong phòng khách đơn sơ là một vinh dự của chúng tôi lúc đó. Ông thường khuyên chúng tôi phải thẳng thắn đấu tranh, giữ gìn đoàn kết, xác định mục đích của sự học là vì tổ quốc, vì nhân dân phục vụ, luôn phấn đấu quên mình vì sự nghiệp chung. Chúng tôi muối lời ông như nuốt chất men say.

Khi học hết cấp Ba, phần lớn chúng tôi tứ tán gian truân. Tôi còn may mắn được ngồi thêm sáu năm ở Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Anh bạn tôi được đi nước ngoài học một mạch bảy năm. Khi tôi khoác ba lô đi “B” thì anh vẫn còn ở mãi tận Mascơva – nơi có ngôi sao đỏ trên tháp điện Kremly chói lọi đêm ngày. Chúng tôi nghĩ về anh rất thực lòng: cha làm con hưởng là lẽ thường tình.

Sau này cuộc sống mỗi người một khác, chúng tôi không có dịp gặp nhau. Nghe nói anh bạn lấy vợ cùng đi học ở Nga, con nhà môn đăng hộ đối, đường công danh của anh rộng mở. Trong những bon chen của cuộc đời thường, nghĩ về anh đôi lúc chúng tôi cũng mềm lòng tin vào số phận.

Bây giờ không ngờ sau hơn ba mươi năm, coi như gần hết đời người, chúng tôi lại là bạn đồng hành của nhau trên một chuyến tàu xa.

Anh tuy ít nói nhưng vẫn giữ được vẻ chân thành, khiêm tốn nên tình cảm bạn bè của thời học sinh trong sáng hồn nhiên ngày nào khơi dậy trong tôi và bây giờ là sự đồng cảm với cuộc sống hôm nay khiến chúng tôi thấy quí mến, tin tưởng nhau như những ngày nào.

Những mẩu chuyện rời rạc anh kể tôi nghe hơn một ngày qua trên chuyến tàu suốt Bắc–Nam gợi cho tôi cảm nghĩ như khúc dạo đầu của một bản sonate về một đời người. Và khi con tàu dừng bánh ở ga chót Hòa Hưng, trong cảnh ríu rít đầm ấm của sự đoàn tụ gia đình, với lòng chân thành chia sẻ cùng anh sự lẻ loi đơn độc, vợ chồng tôi tha thiết mời anh cùng lên một chuyến taxi về nghỉ ở nhà tôi.

Thật là một cuộc kỳ ngộ. Anh đã ở nhà tôi cả tháng trời. Chúng tôi đã sống với nhau chân thành, cởi mở và đã vượt qua tình bạn hồn nhiên thông thường của thời niên thiếu bởi qua thăng trầm của cuộc đời và gió bụi thời gian, chúng tôi đã thật sự là người có ích cho nhau trong lúc một người đã tưởng như đời mình đi vào bế tắc.

Không biết giờ này bạn tôi đang làm gì, nghĩ gì? Những dự định cho phần đời còn lại bạn đã làm được đến đâu? Riêng tôi vẫn nhớ về bạn với tình cảm thân thiết, mến thương và tôi xin ghi lại nơi đây những điều bạn đã kể cho tôi nghe và tôi được biết về cuộc đời của bạn – của một con người tưởng như là may mắn.

 

MỘT THỜI NIÊN THIẾU :

Thời ấy tuy còn nhiều khó khăn thiếu thốn mà sao mọi người hoặc ít ra thì lớp trẻ chúng mình sống cứ phơi phới nhìn về tương lại với bao kỳ vọng và cả một niềm tin gần như tuyệt đối. Tôi lại may mắn sinh ra trong một gia đình mà các anh vẫn gọi là cách mạng nòi. Nếu hiểu nòi theo nghĩa khoa học là sự di truyền của gène mà đời thường người ta thay bằng mỹ từ truyền thống thỉ ở đất nước mình cả mấy trăm năm nay lịch sử luôn biến động, thăng trầm, có mấy ai giữ được cái gène nguyên truyền thống dòng tộc nhà mình? Tôi không được biết ông bà cố kỵ thế nào vì cũng không  bao giờ thấy cha mẹ tôi nhắc tới. Chỉ biết cha tôi là một thầy giáo làng, cũng như nhiều người, ông rất ghét Tây và tham gia chống đối chính quyền đô hộ, thường phải sống cuộc đời hiểm nguy, phiêu bạt, có lúc hị bắt bớ, tra tấn, tù đày. Rồi ông hoạt động ở vùng kháng chiến trong thời chống Pháp. Người ta gọi những người như ông là nhà cách mạng, chắc họ nghĩ các vị sinh ra để làm những việc rung trời chuyển đất, thay đổi cuộc đời này! Ông là cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, đến lúc hòa bình ông được gọi về Trung ương. Cả nhà tôi được rời xứ miền Trung sỏi đá!

Về Hà Nội, chúng tôi là nòng cốt tin cậy của Nhà nước nhân dân non trẻ, được hưởng sự ưu ái của chế độ. Vậy là tôi sinh ra đời như một ngôi sao tốt số!

Anh biết hồi đó tôi tích cực hoạt động trong Đoàn thanh niên. Thực sự, lúc đó ở tuổi 15-17, lại được cha mẹ nuôi cho ăn học thì mình đã hiểu gì về đấu tranh giai cấp nhưng cả thế hệ trẻ bị lôi cuốn vào cái trào lưu ấy! Sự hiểu của mình thật đơn giản: những cái gì trái với chủ trương chính sách của Nhà nước ta là làm hại tới mục tiêu xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất đất nước, là chống lại lợi ích của dân tộc và giai cấp! Là cán bộ Đoàn cốt cán, tôi được đi tham dự các buổi đấu tố địa chủ trong cải cách ruộng đất ở vùng nông thôn ngoại ô Hà Nội, được dự các buổi đấu tranh cải tạo tư sản ở các xí nghiệp tư doanh. Cùng lúc ấy, trong giới học đường chúng mình kết hợp với xã hội, rộn ràng lên việc phê phán Nhân văn–Giai phẩm. Ai cũng nghĩ rằng làm tốt được những việc đó là góp phần dẹp bỏ những chông gai, trở ngại trên con đường đi tới tương lai. Anh em học sinh chúng mình lúc ấy cả tin và hăng hái thật. Với sự hăng say bồng bột của tuổi đôi mươi, tôi thành tâm nghĩ rằng mình đang được hòa trong cuộc đấu tranh giai cấp lớn lao và những người thoát thai từ nô lệ như dân tộc mình chỉ mất xiềng gông, còn được tất cả : giang sơn gấm vóc rộng dài, thế giới bao la ngập tràn tự do với tình hữu nghị. Và mối tình của tôi bắt đầu từ đấy, đeo đẳng cho mãi tới hôm nay, nó như một món nợ đời nặng vay, nhẹ trả.

Trong lớp mình hồi ấy, phần lớn gia đình anh em sinh sống ở Hà Nội đã lâu nên ít nhiều đều có dây dưa đến chính quyền cũ đã di tản vào Nam. Số học sinh cốt cán như tôi chẳng mấy. Tôi tự nhiên thành người vừa phát động vừa phát hiện những bất thường về mối quan hệ xã hội trong trường lớp chúng mình.

- Anh có nhớ anh Tân? Gia đình anh ấy nay ở đâu? Và Minh Tâm – em gái anh Tân ?!

Tôi hăng hái ngắt lời anh:

- Vâng, tôi nhớ chứ! Tân là một đứa nổi trội trong đám bạn mình hồi ấy, y đen nhẻm mà hàm răng trắng muốt, bọn mình vẫn gọi là Othello đó. Tân học giỏi lại lắm tài: kịch, vẽ, đàn, hát đều hay. Cả trường biết hắn. Ông bà cụ rất nghiêm. Có cô em gái tên Tâm học trường Trưng Vương rất ngoan và đẹp. Tân là tay hoạt động hăng hái lắm. Gia đình anh là tư sản nên anh còn điêu đứng hơn mình nhiều.

- Đã hơn ba mươi năm, bây giờ tôi đi tìm Tân, tôi đi tìm Tâm – mối tình của tôi!

 

Thời gian anh ở nhà tôi khá lâu, những lúc rảnh rang anh lại kể tôi nghe một khúc hồi ức của mình. Chỗ nào xúc động, tôi lảng qua chuyện khác. Giờ tôi chắp nhặt lại những mẩu chuyện đứt quãng của anh:

“Gia đình Tân là tư sản, thật sự không biết giàu có tới mức nào nhưng ở Hà Nội mình thời ấy có hơn nhau bề ngoài cũng chỉ là chiếc xe đạp Peugeot với cái xác nhà! Gia đình Tân có một xưởng dệt nhỏ thì đã gia nhập công tư hợp doanh, cả hai ông bà đều thành người sản xuất. Các cụ cải tạo lao động giỏi thật vì suy cho cùng khởi đầu họ là những người lao động cần cù, biết làm ăn và có chí mà nên. Lúc ấy, Đoàn thanh niên phát động học sinh toàn trường hãy giúp đỡ các gia đình tư sản cải tạo tốt. Qua tâm sự của Tân, tôi được biết ngoài ngôi nhà đang ở tại đầu phố Phùng Hưng, gia đình anh còn có một ngôi nhà ở phố Hàng Đậu cho chú anh đến ở. Chúng tôi đã động viên cụ khai thật ra điều đó để khỏi bị coi là phân tán tài sản. Tôi còn nhớ lời ông cụ tâm sự trong khi cụ bà thì rầu rĩ :

- Của cải mình làm ra thì tiếc thật. Nhưng chớ vì của mà để thiệt đến người. Còn người là còn của. Của cải nó biến hoá như gió như mây, khi đen khi bạc, lúc này là gia tư điền sản, lúc nọ lại chính là người. Để mất người vì của chỉ là kẻ hám lợi, tiểu nhân!

Và ngôi nhà ấy đã thêm với phần tài sản cụ góp chung vào vốn hợp doanh. Tôi như người hùng trong trường lúc đó và Tân như một học sinh tiêu biểu về sự giác ngộ giai cấp đã được phát triển Đoàn.

Cha tôi rất hài lòng về tôi và cụ luôn theo dõi, khuyến khích, động viên tôi.

Nhà Tân ở là ngôi biệt thự hai tầng, thời đó ở vậy là rộng lắm. Đoàn thể địa phương vận động vì tình nghĩa đồng bào hãy nhường sẻ cho nhau những lúc khó khăn, mai sau con cháu lớn lên, Nhà nước sẽ lo cho chu đáo. Gia đình anh gom lại chỉ ở ba căn trên gác, còn lại giao cho chính quyền địa phương sắp xếp. Và gia đình chú tôi đã được đến ở phần dưới của nhà anh.

Cho đến nay tôi vẫn chưa hiểu được tại sao gia đình anh Tân vẫn tỏ ra quí mến tôi? Tôi đến nhà anh thường xuyên và được gia đình coi như người bạn thân thiết của anh. Phải chăng bởi sự chân thành say mê lý tưởng của tôi đã được gia đình cảm mến? Tôi thường tâm sự nói lên ước vọng của mình được trở thành kỹ sư công chánh, tôi sẽ đi ngược xuôi khắp nước, tới tận những vùng hoang vu hẻo lánh mở mang những con đường và xây những chiếc cầu. Chao ôi! Nghĩ tới một mạng lưới giao thông hiện đại, tôi nói như say. Tâm thích thú quá, trêu tôi:

- Liệu anh có dám từ bỏ địa vị nhà quí tộc tân thời?

Tôi nóng tai vì coi đó là sự xúc phạm tới mình. Tôi không sao giải thích để Tâm hiểu được rằng chúng tôi theo những nhà cách mạng kiểu mới, sẽ không bao giờ lặp lại lịch sử bằng sự thay thế tập đoàn thống trị này sang tay một tập đoàn thống trị khác để rồi đâu lại vào đấy như bấy lâu nay. Tôi tự nhủ chỉ có hành động và hành động, rồi Tâm sẽ hiểu.

Tâm lúc đó tuổi chừng 15-16, còn tôi ở tuổi mười tám-đôi mươi. Ở tuổi ấy dễ say mê những điều táo bạo và lãng mạn. Chúng tôi mến thân nhau cũng chẳng có tình chi, nhưng dù sao một chàng trai mới lớn nuôi nhiều hoài vọng, lại có một em gái xinh đẹp dễ thương tin cậy và cảm phục thì lẽ nào không có những cảm giác vương vấn, ngọt ngào. Đôi lúc nhớ về em, tôi chợt nhớ mấy  câu thơ: “Em là gái bên song cửa /  Anh là trai bốn phương trời”. Tôi tưởng như mình là cánh chim vỗ nhịp cao tít mù khơi và em đứng đó. Đó là sự khởi đầu của mối tình ngây thơ trong sáng mà sao tôi đã để mất đi, cho một đời day dứt!

Sau khi học hết bậc phổ thông, tôi được qua Liên Xô học. Anh Tân thi vào khoa Lý Trường Đại Học Sư Phạm nhưng không đậu mặc dù trong giới học sinh mình thời đó đã có bài vè: Nhất Y–Nhì Dược–Tạm được Bách khoa–Sư phạm qua loa–Nông lâm bỏ xó! Thật tình tôi cũng tiếc cho anh ấy lắm. Cho đến nay tôi vẫn rất khâm phục thái độ của Tân. Trong buổi chia tay tôi. Tân nói:

- Cậu được bay cao, bay xa, mình chia sẻ niềm vui với cậu! Còn mình phải rèn luyện và phấn đấu nhiều.

Trước ngày lên đường, tôi và Tâm đi chơi trên đường Thanh Niên. Anh còn nhớ chứ, con đường ấy cả thế hệ học sinh Hà Nội thời đó đều từng sôi nổi đổ mồ hôi vào những “ngày thứ bảy cộng sản chủ nghĩa”. Những xe đất đầy ắp từ phía sông Hồng vượt qua đê Yên Phụ vào lao xuống dốc Cổ Ngư. Tụi mình thay nhau làm bò mà lòng vẫn phơi phới nghĩ về tấm gương của lớp thanh niên Xô Viết đầu tiên trên tuyến đường sắt Maxcơva–Cadan. Trời thu hồ Tây loang loãng và nhè nhẹ, ngọn gió hiu hiu gợn sóng lăn tăn vỗ rung rinh những bông sen rã cánh bên những lá sen tơi tả. Tôi nắm tay em run rẩy. Đấy là lần đầu tiên trong đời thằng con trai 18 tuổi là tôi được nắm tay người bạn gái bé nhỏ thương thương của mình và qua bàn tay ấy muốn nói lên rằng lòng mình đang bối rối! Bàn tay nhỏ mịn của em mềm nhũn trong tay tôi! Cả hai đều im lặng, cùng với sự im lặng của thinh không, dường như chúng tôi nghe được tiếng tim của nhau đang đập rộn ràng. Em bỗng như sợ sệt, rút tay ra, chạy vượt trước tôi. Khi tôi đến được bên em, em nhìn tôi phảng phất nét buồn và hỏi tôi trong hơi thở hổn hển:

- Liệu anh có sợ ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của mình không?!

Bây giờ nói lên những câu ấy lớp trẻ cười riễu bọn mình! Nhưng đấy là sự thật của một thời xa vắng! Thời ấy sự giàu nghèo chẳng mấy cách xa mà sự phân biệt giai cấp lại cực đoan! Bây giờ sự giàu nghèo chênh lệch rất nhiều nhưng người ta đã quen gọi nhau là đồng chí! Coi đó là lẽ đương nhiên của giai đoạn kinh tế thị trường! Tôi nói với em thật thà, nghiêm chỉnh và có pha chút tự hào:

- Nếu em đã tin và yêu anh có nghĩa là anh đã cảm hóa được em rồi!

Em cười:

- Vậy ra anh là Petxôrin (*) đấy!

Thật tình lúc đó tôi cũng muốn học đòi người anh hùng thời đại ấy.

Chúng tôi đi bên nhau lặng lẽ sánh đôi suốt đoạn đường dài về đến nhà em. Chú tôi đứng hóng gió dưới sân, không kịp chào tôi, em chạy một mạch lên gác nhà em. Tôi đứng ngẩn ngơ ngoài cổng, mùi hoa sữa phủ khắp quanh tôi ngàn ngạt, nồng nồng. Tôi thấy nằng nặng nơi ngực của mình.

 

BÀI HỌC ĐẦU ĐỜI :

Tôi qua Liên Xô được vào học ở trường Đại học xây dựng Kíev – thủ đô nước Cộng hòa Xô viết Ucraina. Thời ấy mình chọn người đi học chủ yếu là dựa vào lý lịch, thành phần. Đất nước lại mới hòa bình chưa có thời gian cho anh em học hành đến nơi đến chốn cho nên mười người qua học chỉ có dăm người học được. Nhiều anh em học đuối, nhưng vì tình hữu nghị nước bạn họ cũng cố kèm cặp rồi cho tốt nghiệp. Thậm chí có người nhận học vị hẳn hoi mà tiếng Nga nói còn ú ớ! Một số quá đuối, họ đành giao lại cho Sứ quán mình để đưa về nước! Tôi may mắn được học đều đặn ở một trường trung học lớn có tiếng ở Thủ đô, tôi biết rõ mình được hưởng sự ưu đãi đặc biệt trong khi nhiều bạn bè mình học hành rất khá nhưng lại không có điều kiện để được vươn lên, thế là tôi lao vào học. Năm nào tôi cũng được các thầy khen và được Đại sứ của mình khích lệ. Bố tôi mỗi lần qua nước bạn công tác hoặc nghỉ mát lại tới thăm tôi. Cụ rất hài lòng và khuyên tôi cố gắng học tập và phấn đấu nhiều hơn nữa để xứng đáng là lớp người trụ cột của đất nước sau này. Tôi vùi đầu vào việc luyện ngôn ngữ Nga và cả đống sách vở chuyên môn nên thư từ với Tâm không nhiều lắm nhưng vẫn giữ đều tin đi tin lại. Chúng tôi động viên nhau thi đua học hành để thành người có ích cho Tổ quốc mai sau.

Lúc đó Liên Xô được coi như thiên đường của chúng ta. Mà quả thật một đất nước Nga bao la với nguồn tài nguyên phong phú còn tiềm ẩn, một nền văn hoá lớn thăm thẳm như rừng Taiga đại ngàn với những thành tựu khoa học cả nhân loại phải nghiêng mình, một xã hội hòa bình, ổn định với tình hữu nghị đầy tính vị tha. Chúng tôi – những người trưởng thành nhờ sự bảo trợ của tình hữu nghị cao cả ấy, vẫn cảm thấy xót xa, luyến tiếc trước sự tan vỡ của một Liên bang vĩ đại!

Ai từng cắp sách tới trường đều có mơ ước vươn tới đỉnh cao tri thức. Điều may mắn đến với chúng tôi thật suôn sẻ, dễ dàng trong khi với bao bạn bè trang lứa thì đó là một mơ ước xa vời! Một lần biên thư, Tâm kể rằng đôi lần Tâm đến nhà tôi “nhưng em cảm thấy bố mẹ anh dè dặt! Thật ra tình cảm của chúng ta mới chỉ là tình bạn, muốn sâu hơn phải có sự chân thành, bình đẳng cả hai bên, kể cả trong quan hệ gia đình”.

Dù sao thì lớp thanh niên chúng mình thời ấy tuy háo hức vươn tới tự do nhưng vẫn quan tâm tới việc điều hòa sự thăng bằng trong các mối quan hệ cá nhân, gia đình và xã hội. Một lần đến thăm tôi, bố tôi hỏi về mối quan hệ với Tâm. Tôi trả lời cụ rất thản nhiên:

- Hiện nay thì chỉ là tình bạn, nhưng con nghĩ khi học xong, về nước, tình cảm của chúng con có thể sâu hơn!

Ông cụ lắng nghe, sau khuyên tôi hãy tập trung vào chuyện học hành, rồi cụ nhắc nhở thêm:

- Chuyện riêng tư cần thận trọng. Chớ để tình cảm lấn át lý trí. Con hãy nhớ rằng con sẽ là lớp người rường cột của đất nước sau này!

Tôi thật thà nói với bố tôi:

- Tất cả các bạn con đã kết thân đều chung một lý tưởng với con. Con tin rằng trong số các lá phiếu bầu bố là đại biểu Quốc hội của nước Việt nam dân chủ cộng hòa có cả những lá phiếu của gia đình Tâm nữa!

Cha tôi lắc đầu:

- Con còn non nớt lắm! Đó chỉ là sách lược!

Tôi cự lại:

- Sách lược! Là chúng ta hay là họ? Chúng ta vẫn chẳng tự hào rằng ta có đủ khả năng cải tạo cả thế giới này vậy mà khi thành người cầm quyền chúng ta lại tỏ ra nghi kỵ xa lánh hắt hủi người ta. Rồi ra ai sẽ tin mình nữa?

Bố tôi đứng dậy, nghiêm nghị nói:

- Bố không muốn con là “người thứ 41” đâu!

Lớp chúng mình không thể nào quên chuyện tình giai cấp ấy. Anh sỹ quan bạch vệ Nga hoàng và cô du kích bị bỏ rơi trên hoang đảo? Lúc ấy họ là hai con người cô đơn, cần dựa vào nhau. Và họ yêu nhau. Nhưng khi nhập với đời, họ lại thành kẻ thù của nhau. Và anh chàng sỹ quan đẹp trai kia thành nạn nhân thứ 41 dưới nòng súng lạnh lùng của cô du kích! Tôi tỏ thái độ bất bình và nói thẳng chính kiến của mình:

- Con không sợ mình bị tiêu diệt. Con chỉ sợ sự nghiệp của mình tiêu tan khi mình vẫn còn sống sờ sờ bởi những sự giáo điều, thiển cận!

Cha tôi giận, cụ bỏ ra về!

Cha tôi là người tôi rất tôn kính xưa nay. Với tôi, cụ vừa là hiện thân của lẽ phải, của ước mơ, vừa là người trực tiếp dìu dắt tôi từng bước tới tương lai tôi hằng mong ước. Đây là lần đầu tiên tôi khác ý với  cha tôi! Anh nhớ đó là vào thời điểm gay cấn nhất của hai quan điểm đối nghịch nhau: một bên là “Thi đua hòa bình giữa hai chế độ” và một bên là “Bạo lực cách mạng với vai trò của chuyên chính vô sản”. Người ta gọi nhau là xét lại với giáo điều, ra sức công kích nhau bằng những lời cay độc và không từ cả những hành động đố kỵ tầm thường!

Giới du học sinh tụi tôi ở Liên Xô và Đông Âu lúc đó căng thẳng lắm. Suy cho cùng thì mình vẫn chỉ là người quen ngồi trên ghế nhà trường, những chuyện phức tạp như vậy phải là người từng trải, lăn lóc chính trường mới hiểu. Hiện tượng hội họp, truy chụp cho nhau nhiều lúc tôi thấy hoang mang. Muốn quên mình vào chuyện học hành cũng chẳng được yên. Thực tế có một số người tăm tiếng công khai tuyên bố ở lại Liên Xô và ngay ở nước nhà cũng có nhóm người bị quy là xét lại đã bị cô lập về tổ chức!

Tôi cảm thấy cha tôi lo lắng nhiều về tôi. Tính tôi thẳng thắn, thật thà, bao giờ cũng bộc lộ và quyết liệt bảo vệ chính kiến của mình. Có ai hiểu lòng con bằng cha mẹ? Năm 1966, tôi tốt nghiệp Kỹ sư cầu đường bộ với tấm bằng đỏ. Việc tôi tiếp tục làm nghiên cứu sinh sau Đại học để đạt được những học vị cao hơn là rất dễ dàng nhưng cha tôi quyết định gọi tôi về nước. Trong thư gửi cho ông bạn Đại sứ, cụ nói: “Học vậy đủ rồi! Nó phải về nước để hòa mình vào cuộc đấu tranh cách mạng. Nó sẽ hiểu đâu là chân lý”! Tôi ấm ức: “Hay là cụ sợ mất con và hệ lụy”! Học thì làm sao cho đủ? Chân lý ư? Thì từ thâm tâm tôi vẫn xác định mình gắn bó sâu nặng với Tổ quốc, với nhân dân mình. Tôi phân vân trăn trở: Có một chân lý chung không cho tất cả mọi người trong khi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi con người có một yêu cầu bức xúc cho sự tồn tại của mình? Tôi về nước với tâm trạng sẽ lăn xả vào cuộc sống bằng tất cả tâm huyết cùng với các bạn bè tôi để được thấu tỏ lòng mình...

Anh đã biết rõ gia đình tôi rồi. Cha mẹ tôi có bốn người con. Đứa em gái út, ba đứa trai đầu thì tôi ở giữa. Ông anh tôi học về Kinh tế đối ngoại ở Cộng Hòa Dân chủ Đức trước tôi. Học xong, anh tôi đề xuất với cha tôi xin làm trợ lý tùy viên của Đại sứ quán mình ở Đức. Tất nhiên anh tôi đạt được nguyện vọng. Thằng em trai tôi lại có máu giang hồ lãng tử, thích thơ văn. Nó học Tổng hợp văn xong, đi dạy học. Nó có thơ đăng trên báo nhưng nó bảo đó là thơ hứng cảm phong trào còn thơ đích thực của nó thì để khi nào bố... qua đời nó mới trương ra:

- Sợ cha bất đắc kỳ tử, tôi bị oan gia! – nó nói.

Năm 1979 khi Tàu đánh qua biên giới phía Bắc, nó cũng bị gọi tổng động viên. Bữa cơm tối để ngày mai tiễn nó lên đường, nó ứng khẩu mấy câu thơ theo giọng thơ chinh phụ:

Dấu binh  lửa vẫn đang ngùn ngụt

Ngoài biên thùy lại sự binh đao

Chém cha cái kiếp ba đào

Nước non chìm  nổi, ra sao phận mình?!

Bố tôi nhắc nhủ:

- Con không nên bi lụy!

Mẹ tôi động viên:

- Con cứ yên tâm lên đường, ở đâu cũng phải phát huy truyền thống cách mạng của gia đình mình con ạ!

Không biết nó hiểu ý mẹ tôi thế nào, mặt nó tươi lên, tay nâng cao ly rượu về phía tôi, nó nói dõng dạc:

- Hổ phụ sinh hổ tử! Nhà này có cả một bày cọp con!

Nó vào quân trường, rèn luyện mấy tháng rồi được điều về Học viện Quân sự, làm giáo viên văn hoá.

Cô em gái tôi, lúc tụi mình chơi với nhau nó còn lít nhít. Nó tốt nghiệp Đại học ở nước ngoài nhưng không về nước. Nó lấy một anh chàng mắt xanh thứ thiệt. Cha mẹ tôi khổ sở vì nó. Cha tôi nhiều lần qua để dụ nó về, nó đều lánh mặt. Nó gửi thư về giải thích rằng: “Tình yêu không biên giới. Bố là người cộng sản, có mục tiêu phấn đấu cho một thế giới đại đồng với sự bình đẳng và tình hữu nghị vậy mà bố lại chưa bỏ được nếp suy nghĩ hẹp hịi truyền thống phong kiến từ bao đời! Người ta cũng như con chim vậy, ở đâu đất lành là chim đậu”! Sau khi có chính biến ở Đông Âu, nó chạy qua một nước phương Tây, bỏ anh chồng cũ lấy anh chồng mới là một thương nhân tuy già nhưng giàu có.

Tôi tìm đến nhà Tân, bố mẹ anh đã nghỉ ở nhà vì  lúc này mấy cơ sở công tư hợp doanh làm ăn đình đốn nên không còn  nữa. Cụ ông sắm bộ đồ nghề sửa xe ngay ở cổng nhà. Cụ bà bày mẹt thuốc lá cạnh ông. Khi tôi lên đường đi du học thì Tân hăng hái vào đội Thanh niên xung phong lên miền Tây tổ quốc. Anh là cán bộ văn hóa, dạy học ở các công trường, nông trường heo hút. Bà cụ kể độ một hai năm anh về phép một lần và mỗi khi đi kèm theo một bao tải sách lặc lè! Tâm học xong trung học cũng theo đoàn Thanh niên xung phong, đang ở miệt khu Bốn và đi sâu mãi vào miền Trung. Tôi thật không ngờ! Cô em gái từ khi cái xí nghiệp hợp doanh của nhà giải thể thì vào làm công nhân một nhà máy dệt. Cậu em út còn đang học cấp cuối phổ thông.

Tôi ước ao được vào bộ đội công binh trực tiếp phục vụ trên các tuyến đường khói lửa ở tiền phương để được chia sẻ với các bạn mình những nỗi gian lao nhưng bố tôi đã can thiệp để người ta xếp tôi vào công tác ở Viện nghiên cứu và thiết kế của Bộ Giao thông Vận tải. Lý do của cụ tất nhiên là xác đáng: Tôi có bằng đỏ, lại đúng ngành nghề vậy là rất phù hợp với khả năng. Còn một điều cụ không nói ra nhưng tôi hiểu: Ông Bộ trưởng là bạn thân của cụ từ thời tiền khởi nghĩa thì với năng lực và tư cách của tôi, với sự bảo trợ của ông, tôi sẽ tiến xa.

Tôi muốn cưỡng lại nên cố lý sự để đạt được ý mình thì anh trai tôi đã cho tôi bài học:

- Chẳng ai ngố như mày, ở đâu mà chẳng là phục vụ! Trên bàn cờ phải có quân xe, quân tốt chứ!

Tôi ngạc nhiên nhìn anh thì em gái tôi lúc đó mới tí tuổi đầu mà đã giảng giải cho tôi:

- Anh như sống trên mây, anh chẳng hiểu xã hội là gì!

Thằng em tôi giải hòa rất khéo:

- Đâu Đảng cần ta có. Cha là Đảng mà anh!

Tôi thấy thật lạ vì cha tôi vốn nghiêm khắc, cụ luôn đòi hỏi mọi người phải nói năng nghiêm chỉnh chín chắn và rất khắt khe với những lời nói bạt mạng không xứng đáng với gia đình mình nhưng bây giờ cụ lần lượt nhìn các con, lắc đầu khó hiểu rồi bỏ lên phòng. Mẹ tôi cập rập ôm mớ tài liệu và báo chí đi theo cha tôi.

 

NGỌC TRONG ĐÁ:

Tôi mê mải vùi đầu vào công việc với tinh thần mỗi người làm việc bằng hai để không hổ thẹn với các bạn mình đang lăn lóc trên những nẻo đường gian khổ. Tôi đã từng là cán bộ Đoàn nhiều năm, những điều tôi đã nói với các bạn tôi là thực lòng mình, bây giờ họ ở tuyến trước, tôi ở mãi tuyến sau là điều tôi thường dấm dứt. Tuy nhiên hồi đó ở Hà Nội cũng rất khó khăn. Cơ quan phân tán hai, ba chỗ, mọi người lòng dạ ngổn ngang việc nước, việc nhà. Cơ quan khoán việc cho từng người. Tôi vừa đảm nhiệm trực chiến thường xuyên ở cơ quan, vừa sẵn sàng phụ giúp các anh chị gặp khó khân vì gia đình sơ tán nhiều nơi. Bởi thế tôi có được niềm tin yêu ở đồng nghiệp và lãnh đạo thì cũng là việc thường tình. Thật là điều hiếm thấy đối với một kỹ sư trẻ, mới ra trường chỉ có mấy năm, chưa phải là Đảng viên mà đã được giao trách nhiệm phó Phòng Kỹ thuật tổng hợp của Viện, như tôi. Dù có được uy tín của gia đình thì cũng chỉ la một lý do để tăng thêm độ tin cậy mà thôi.

Tôi cũng đã nhiều lần gửi thư cho Tâm theo địa chỉ hòm thư, nhưng tin lại cũng chỉ vài thư khoan nhặt. Thư viết ngắn và chỉ là những lời thăm hỏi bình thường, không một lời than vãn về những gian khổ, hiểm nguy, cũng không một lời điểm tô hào khí kiểu của những người lính thập tự chinh trên đường tuẫn tử vì một đấng chí tôn. Nàng nhớ Hà Nội những đêm đông heo hút gió, nhớ chiều thu nhàn nhạt nắng vàng... Nàng lo cho những người thân thích làm sao vượt qua được những khó khân. Nàng xót xa về những dãy nhà phố xưa đổ nát, những con đường thân quen bị cày xới đạn bom. Nàng tha thiết được sống yên bình trong căn gác cũ cùng cha mẹ, anh em và được gặp lại bạn bè. Nàng ước mơ lại được cắp sách tới trường. Nhưng nàng không một lời nhắc đến kỷ niệm ngọt ngào của hai đứa chúng tôi. Lòng tôi tha thiết nhớ mong và thôi thúc một dịp gặp em.

Vào khoảng năm 1970, nhân có một đoàn lãnh đạo củ Bộ đi thị sát tiền phương, tôi xin được cùng đi. Cha tôi băn khoăn, cụ nói:                                            

- Con là người nghiên cứu khoa học, thực tế chính là những số liệu cụ thể mà con có thể yêu cầu người ta cung cấp cho con. Đào tạo một cán bộ khoa học giỏi đâu có dễ!

Nhưng chuyến ấy có ông Bộ trưởng cùng đi và ông cũng muốn tôi đi theo đoàn.

Anh đã từng là người lính thực thụ của Trường Sơn ngày đó, anh biết rõ hơn tôi về sự ác liệt của chiến tranh trên những nẻo đường. Và tôi đã tìm lại được Tâm trong khói lửa đạn bom trên những con đường ấy. Đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời tôi!

 

Cuối những năm 1960 gần như toàn bộ lớp trẻ phía Bắc đều dồn về giải Trường Sơn. Một đêm, xe tôi theo một đoàn xe bộ đội hành quân qua khu vực Cổng Trời. Đường bị bom đạn cày xới nát nhừ, bộ đội không thể ngồi trên xe. Đêm tối mênh mông. Chiếc đèn dầu nhỏ ngọn leo lét dưới gầm xe chỉ đủ tỏa ra một khoảng sáng mờ nhạt không thoát ra ngoài vòng bốn bánh xe lăn. Trên trời, tiếng máy bay trinh sát ro ro, eo éo, đôi lúc lại bùng lên một trái dù pháo sáng lửng lơ, lay lắt, bầu trời đang tối đen, bỗng lung linh, mờ ảo, đung đưa và nhạt mờ dần theo ánh hỏa châu rồi lại chìm vào bóng tối mênh mông. Nhờ nhờ bóng những người mặc áo trắng đứng làm cọc tiêu bên bờ ngầm, bên miệng những hố bom. Những cọc tiêu sống ấy đều là phụ nữ! Nam Thanh niên xung phong đang san đường lấp hố. Bộ đội bám theo xe vượt mau qua  trọng điểm. Tất cả những con người tứ xứ ấy như bầy chim lạc tha thiết muốn tìm gọi về đàn. Đủ mọi âm thanh hỗn độn: bổng, trầm, ngắn, dài, thanh, cộc... phát ra từ một guồng máy cơ khí chạy đều. Một tràng đại liên 12ly7 từ chiếc máy bay C130 bắn vu vơ trong khoảng đêm mù mịt. Tiếng đạn chói tai! Ánh lửa đạn đỏ nhòe nhấp nhoáng dòng người hỗn độn. Những bóng trắng mờ mờ của các cọc tiêu người vẫn giữ nguyên vị trí. Tiếng hét lanh lảnh như ra lệnh:

- Bình tĩnh! Nó bắn vu vơ! Nhìn cột tiêu làm đích, vượt mau!

Trong cái cảnh lửa đạn chết chóc ấy mà tiếng người chỉ huy thật rõ ràng, đĩnh đạc, vừa là lời động viên vừa như là mệnh lệnh đã tạo được một niềm tin. Tiếng la lớn mà vẫn trong trẻo, ngọt ngào. Trong hốt hoảng tôi vẫn cảm giác mơ hồ như tiếng vọng từ xa thẳm ký ức một thời! Tôi cùng xe hướng tới ngầm nơi có tiếng người chỉ huy can đảm ấy. Những chiếc cột tiêu rì rầm biết nói! Tôi điếng người vì nhận ra giọng nói quen thuộc ngay sát bên tôi:

- Bình tĩnh các đồng chí! Quan sát các cột tiêu, tiến mau lên phía trước!

Tôi tiến sát tới cột tiêu vừa phát ra âm thanh đó:

- Tiếng ai nghe sao mà quen thế?!

Cùng lúc hai đầu chúng tôi chạm sát vào nhau và cùng thốt lên:

- Tâm!

- Anh Thanh!

Chúng tôi ôm chặt lấy nhau tưởng như thân thích, ruột rà.

- Anh ơi! Hà Nội mình có sao không?

- Chỉ sây sát sơ thôi! Tất cả còn nguyên vẹn!

Đôi vai em run lên trong cánh tay tôi ghì chặt! Giữa cuộc hành quân không thể nói dài. Chia tay nhau, tôi chỉ kịp mò mẫm, nguệch ngoạc ghi số địa chỉ hòm thư mới của em. Chạy theo xe, tôi vẫn nghe vẳng tiếng em dặn với:

- Nhớ tin cho em nhé!

Đứng trên lưng chừng dốc đá, nhìn lại phía em, dưới ánh hỏa châu vàng vàng lay lắt, những bóng đen dài người xe lẫn lộn như một dòng nhấp nhô sóng lớn đôi lúc ánh lên những mảnh sáng lăn tăn của dòng nước chảy dưới chân. Bóng em lẫn trong những bóng cột tiêu nhờ nhờ trăng trắng như trời trồng bên bóng đoàn quân. Tôi rùng mình sờ lên vai áo, thấy đã ướt đẫm. Ngồi lại trên xe xóc lộn người mà tôi như mộng ảo. Tôi nghĩ về các cọc tiêu. Tôi nghĩ  đến em: Ôi! Em là cọc tiêu hướng ra tiền tuyến cho thắng lợi của cuộc chiến tranh này! Em là cọc tiêu hướng cho đời anh không lạc lối!...

 

Những ngày dừng lại làm việc ở cung trạm địa đầu này, một hôm tôi đưa địa chỉ của em hỏi anh cung trạm trưởng, anh thốt lên:

- A… Minh Tâm! Đó là một Đại đội trưởng Thanh niên xung phong giỏi nhất cung đường này. Gái Hà Nội mà tháo vát, dũng cảm và sáng tạo lắm. Còn được mệnh danh là kỹ sư cầu đường nữa đó! Người thân của ông hả? Tôi sẽ cho đón lên ngay!

Chiều tối hôm sau em đã theo xe về tới trạm nghỉ của chúng tôi!

Người ta nói có thức lâu mới biết đêm dài, cả đêm ấy chúng tôi không ngủ mà đêm sao qua mau thế? Đêm rừng Trường Sơn âm u, leo lét những ánh đêm mờ khuất trong hầm. Chúng tôi cũng không nhớ đã nói với nhau những gì, chỉ biết rằng chúng tôi vẫn yêu nhau, tưởng đã mất nhau, giờ đây tìm lại được nhau và sẽ không bao giờ để lạc nhau trong cuộc đời này nữa. Tôi đã đặt nụ hôn cháy bỏng trên đôi môi em giá lạnh và tôi đã nuốt vào cả những giọt nước mắt mằn mặn và nồng ấm của em. Lúc sớm mai, em lại theo xe về đơn vị gấp:

- Em phải về ngay thôi, công việc bộn bề lắm. Những người như anh ở đây rất cần. Em cứ phải mò mẫm tự học mà làm. Họ gọi em là kỹ sư cầu đường nghe mà thấy ngượng! Ngày trước em ước mơ thành bác sĩ chữa bệnh cho người. Bây giờ khác rồi, chừng nào yên bình, em sẽ theo nghề xây dựng cầu đường như anh. Em sẽ sửa lại những con đường chiến tranh hiện nay cho hiện đại, sẽ ích lợi biết là bao nhiêu!

Trước mọi người chúng tôi chỉ nắm tay nhau dặn với. Tôi muốn níu em lại bên tôi thêm chút nữa.

Tôi theo Đoàn đi kiểm tra tới Bắc Tây Nguyên rồi lại quay ra. Lúc nào lời Tâm cũng văng vẳng bên tai: “Những người như anh ở đây rất cần. Em cứ phải mò mẫm tự học mà làm”, thôi thúc tôi. Những ngày sắp về tới trạm địa đầu, tôi mạnh dạn trình bày ý định của mình với ông Bộ trưởng:

- Bác ạ! Cả một tuyến đường dài và quan trọng thế này, bao nhêu là vấn đề chuyên môn cực kỳ phức tạp: đường bộ, đường xe, đường ống dẫn dầu, cầu treo, phà, ngầm… dù có đơn sơ nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn, có nơi bắt buộc phải làm cả cầu bán kiên cố nữa. Vậy mà lực lượng cán bộ kỹ thuật cơ bản quá ít!           

- Cháu nói đúng! Bác rất suy nghĩ về điều này. Cán bộ chuyên môn mình thiếu quá. Nhưng ở đây ngoài sự hiểu biết về chuyên môn còn có yêu cầu phải có lòng dũng cảm xả thân thì mới làm được việc!

- Cháu xin được ở lại với tuyến đường này, vừa giúp cho anh chị em về kỹ thuật vừa chuẩn bị cho cháu một nội dung đề tài nghiên cứu khoa học có thể viết thành luận án!

- Người ta nói: Nhà nghèo mới biết con có hiếu /  Nước loạn mới biết tôi trung, những người như cháu thật quý. Nhưng bác sợ bố cháu trách!

- Cháu ở lại một thời gian cũng được. Mình nỡ lòng nào chỉ biết đi thị sát rồi phán chung chung! Phải có giải pháp thiết thực và cụ thể, cần thiết thì mình cũng phải lăn xả vào làm. Nếu không mình không hoàn thành trách nhiệm!

- Bác tán thành thôi! Vậy cháu ráng giữ gìn cẩn thận rồi mau mau trở về nhé. Những người như cháu rất cần cho hôm nay và cả cho ngày mai nữa!

Tôi đã ở lại cung trạm ác liệt địa đầu này. Tôi đã làm được những công việc thiết thực cần đến khả năng chuyên môn của mình. Tâm và tôi đã là những cộng sự tâm đắc cùng nhau. Chẳng những tôi được toại nguyện mong ước bấy lâu là được chia sẻ bao nỗi gian truân với các bạn bè cùng lứa trẻ ngay ở tuyến đầu cuộc sống. Và cũng ở đây tôi đã tìm lại được mối tình trong sáng buổi ban đầu tưởng như đã mất. Tôi nhớ đến tâm sự của nhà thơ lớn Petofi: “Sống vì tình yêu và rượu ngon / Chết  hy sinh cho Tổ quốc / Đời ai được thế này / Đó là người hạnh phúc”! Tôi đâu cần gì nữa? Tôi năng nổ, xông xáo và làm hết sức mình. Lời khen ngợi lan truyền khắp cung đường dài hàng trăm kilômét: Một chàng đi học nước ngoài về, đẹp trai, can đảm, có tài, có mối tình son sắt thủy chung với một cô gái Hà Nội xinh đẹp, tài ba, đảm đang, dũng cảm mà lại hiền dịu, dễ thương!

Tôi và Tâm không ở chung một chỗ. Tôi ở với Ban chỉ huy cung trạm và đi lại thường xuyên vào ra dọc một tuyến đường. Mỗi lần tới đơn vị của em, tôi được em chăm sóc chi li từng việc nhỏ. Em kiểm tra từng chiếc khuy, chiếc dây cột võng và dán kín lại những lổ thủng của tấm tăng. Một lần, sau những nụ hôn nồng nàn thắm thiết, tôi âu yếm hỏi:

- Em có tin rằng chúng mình sẽ rất hạnh phúc hay không?

Em nép vào ngực tôi thủ thỉ:

- Trước đây em còn hoài nghi. Bây giờ thì em tin vì em với anh đã hoàn toàn bình đẳng!

Tôi ôm chặt em vào lòng và nói trêu em:  

- Vì em đã cải tạo tốt quá  rồi chăng?

Em nhìn thẳng vào mắt tôi và nói với nét mặt nghiêm nghị và giọng nói rõ ràng nhưng đầm ấm:

- Nhắc lại chuyện đã qua ấy làm gì! Một thời tuổi trẻ ngây thơ cũng không có gì đáng trách. Cuộc sống đã cho em thấy rằng không ai có thể cải tạo được cho ai nếu người ta không tự giác. Đúng ra là mỗi người luôn tự cải tạo mình vì suy cho cùng đó là một quá trình thích nghi để tồn tại. Hôm qua anh chẳng có gì, hôm nay anh đã có tất cả trong tay, có ai đảm bảo được rằng anh vẫn sau trước một lòng? Như vậy cải tạo mình mới khó làm sao! Nhưng nói cải tạo làm chi cho nó nặng nề. Chẳng phải là con người ta luôn hướng thiện? Vậy chẳng lẽ phải dùng đòn roi để hướng con người đi đến chân lý hay sao?

Tôi nóng tai, hỏi lại:

- Có ai ép buộc em vào Thanh niên xung phong và đi tới nơi này?

- Chẳng có ai ép buộc được em đâu! Em muốn thử sức mình. Mỗi người có một hoàn cảnh sinh ra và lớn lên rồi phụ thuộc vào đấy. Cuộc đời có khi may thành rủi và rủi lại thành may. Nếu chỉ biết bám vào cái đã qua, người ta dễ chết chìm. Nhớ những ngày Hà Nội mưa to, bọn nhóc tụi em chơi thả thuyền giấy cho nó trôi theo dòng nước bên đường. Em đã như con thuyền ấy trong cơn mưa bão và theo dòng nước lũ cuốn vào đây!

Tôi nhìn em khâm phục, không ngờ rằng cô em gái nhỏ ríu rít thuở nào giờ đây đã thành người dày dạn. Thật sự em đã trưởng thành hơn tôi trong cuộc sống. Tôi ghì chặt em vào ngực mình yêu thương, trân trọng như muốn bảo vệ em –  con chim bé nhỏ, cánh diều chơi vơi, con thuyền mỏng mảnh…

 

Tôi đã sống ngần năm trời trên tuyến đường Trường Sơn ngày ấy. Tôi đã thật sự hòa mình với những chiến sĩ cao xạ phòng không, với những chiến sĩ công binh chân đồng vai sắt, với những nam nữ Thanh niên xung phong từ mọi miền đất nước dồn vào đây bán trụ đêm ngày. Tôi đã cùng họ chịu chung những cơn mưa bom bão đạn, đã cùng nhau gánh vác một mối lo toan, đã chia sẻ với nhau những khó khăn gian khổ. Và cũng chính ở đây, mối tình của tôi được thử thách và trở thành cao cả.

Bây giờ có một số tác phẩm văn học mô tả về lớp thanh niên ấy thật là quái dị! Người ta tả một đơn vị bộ đội chiến đấu ròng rã năm, bảy năm trời trên một địa bàn ác liệt để giữ đất, giữ dân mà hệt như một phường lục lâm thảo khấu! Người ta mô tả một đơn vị Thanh niên xung phong với những chàng trai, cô gái ngờ nghệch dại khờ và sống ngẩn ngơ hay cuồng loạn chẳng khác chi bầy khỉ trong rừng! Ngươi ta tìm tòi những tình tiết u uẩn éo le để biện minh cho những anh chàng trốn lính! Họ có biết rằng cho đến hôm nay, dù thời thế đã đổi thay nhưng ở bên kia đại dương, Tổng thống Mỹ vẫn không dám công khai biện hộ cho hành vi chống nghĩa vụ công dân của mình (*TT Bill Clinton chống thi hành quân dịch, phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam) dù là những người điều hành cuộc chiến tranh lúc ấy đã hối hận và đắng cay thừa nhận những sai lầm của họ. Nhưng ở Việt Nam, nếu không có những người con gái, con trai dám tự nguyện xả thân vì nghĩa lớn thì liệu có được một đất nước vẹn toàn, thống nhất hôm nay? Người ta nói đó là hiện thực, đó là con người đích thực đời thường, đó là tính nhân bản phải có của văn chương! Thực ra họ chú trọng đến bản năng sinh vật và coi nhẹ bản năng con người trong mỗi cá nhân. Họ lạm dụng lòng nhân ái, lượng bao dung của con người để đòi tha thứ tất cả và tôn vinh tất cả! Đành rằng trong cuộc sống con người ta muôn màu muôn vẻ, lúc này lúc khác nhưng để có một lớp người dám hy sinh một cách vị tha cao cả như thế phải có sự chế ngự bản năng đáng khâm phục biết bao! Mỗi người phải tự kiềm chế mình và mọi người phải biết kiềm chế lẫn nhau. Trong điều kiện ấy, thực tế đã sinh ra không ít người khắc kỷ và khổ hạnh! Chúng ta đã phải chịu đựng những đau khổ, dày vò, nhiều lúc căng thẳng tưởng không sao chịu nổi! Song để làm gì? Phải hướng cả vào một mục tiêu. Đành rằng có những kẻ lừa lọc và xảo trá! Nhưng hãy nhìn suốt một chặng đường lịch sử với bao nhiêu thế hệ: Cuộc sống càng gay gắt càng đòi hỏi mỗi người phải biết chế ngự bản năng! Chính vì có chế ngự được bản năng người ta mới phát huy được lòng nhân ái và xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội. Chính vì biết chế ngự bản năng mà người ta mới giữ gìn được nhân cách, bảo toàn được nhân phẩm. Chính vì biết chế ngự bản năng mà một dân tộc dù nhỏ vẫn trường tồn trước những thử thách khốc liệt của lịch sử. Vậy biết chế ngự bản năng là cần thiết trong đời sống cộng đồng. Nó vừa là sự tự giác vừa là sự phục tùng. Bây giờ thế hệ ấy đang chìm dần vào bóng tối của thời gian! Làm thế nào để miêu tả hết tầm vóc của những con người ấy trong những trang sử ký? Đã có một số tác phẩm văn học kể về những người anh hùng của đời thường với những tấm gương sáng để đời. Nhưng ai dám nói được một người nào đó, ngay cả những nhân vật có tầm cỡ lớn lao đã góp được mấy phần trăm? Hay mấy phần nghìn vào sự nghiệp vĩ đại mà đầy những mất mát hy sinh lớn lao như vậy? Thật là tội lỗi khi ta mới chỉ phác thảo vài nét đơn sơ chân dung của một thế hệ đã vội phóng tay nguyệch bút làm biến dạng đi chân dung về lớp người đáng tôn kính ấy!

Tôi thật không ngờ  anh phẫn nộ, hăng hái và xúc động như vậy! Như anh đang bảo vệ chính mình và cho cả mối tình tuyệt đẹp đã tan vỡ của anh! Vẻ mệt mỏi, anh ngả lưng trên ghế, đôi mắt nhìn xa xăm như hướng tìm về dĩ vãng. Đứa con gái của tôi mười bốn tuổi tập đàn organ. Tiếng đàn đang thánh thót nhịp nhàng bỗng ngập ngừng lạc điệu. Tôi nói:

- “Faute” (lỗi) rồi!

Cháu ngượng ngùng nhìn tôi và khách. Anh nhìn cháu âu yếm và nhẹ nhàng động viên:

- Không sao! “Faute” một vài nốt nhạc có thể chỉnh lại dễ dàng thôi!

Và quay qua tôi:

- Nhưng “faute” trong cuộc đời thì thật là tệ hại!

Anh dừng lại, mắt nhìn đi đâu như hướng về nơi xa xăm nào rồi lại ngập ngừng kể tiếp:

“Thời gian gần một năm, thật ngắn mà cũng thật dài. Nó đã như một túi hành trang nặng suốt đời vẫn mang theo. Tôi đã làm việc như một người lính trong chiến đấu. Tôi đã hiểu được thế nào là tình bạn, tình đồng chí và tình yêu thật sự. Tôi đã được hưởng trọn vẹn những tình cảm ấy và đó cũng là nỗi đau quặn thắt một đời tôi!

Tôi luôn được điện của cha tôi thúc giục về và vài lần điện của Bộ nhắc nhở mau xong việc thì ra. Việc đến bao giờ xong được?! Con đường mới sửa, chưa đi đã bị đứt ngang! Một con đường, một cây cầu mới thông xe đã lại mở thêm tuyến khác táo bạo, bất ngờ! Tuy không cấu trúc tân kỳ bởi bê tông trụ thép, nhưng là sự liên kết những trụ, khối không chất keo dính như người ta xây dựng kim tự tháp ngày xưa! Nhưng những nhà kiến trúc  cổ xưa ấy, khỏi phải lo tính toán sự chịu đựng sức rung, sức nén của những khối thuốc nổ khổng lồ! Mọi người vẫn cần đến sự có mặt của tôi. Tôi lần lữa, mải mê với công việc và tình yêu lẫn lộn. Cuối cùng, một buổi tối ngày cuối năm, anh cung trạm trưởng đưa cho tôi một công điện khẩn: Tôi phải ra ngay ngoài Bộ theo chuyến xe đặc biệt sớm mai.

Thời gian gấp gáp, tôi ghi vội một trang thư :

                   Minh Tâm!

Có điện khẩn của Bộ lệnh anh về gấp cùng chuyến xe ra đặc biệt sớm mai. Anh không thể xuống chia tay em được! Anh rất cảm phục em và rất yêu em! Chúng mình đã yêu nhau không chỉ bằng sự rung động đầu đời của người con gái, con trai; Còn hơn nữa, chúng mình đã cố công tìm đến với nhau, mất bao nhiêu thời gian, sức lực để hôm nay anh và em – mỗi đứa đã tìm được cho mình một tình yêu đích thực! Vì thế lần xa này không thể là mãi mãi! Chiến tranh ư? Anh không sợ vì chúng ta sẽ thắng! Chúng ta đã từng “trông chết cười ngạo nghễ” thật sự bên những con đường, bên những dốc, ngầm, “ta luy” vách núi chứ không phải là cảm hứng thi ca! Vì thế nhất định chúng ta CÙNG ĐỢI NHAU VỀ.

                   Hôn em thắm thiết…

                   Tạm biệt em !

Trời chưa rạng sáng, tranh thủ thời gian êm ả trong ngày, xe tôi chạy ra phía Bắc. Khoảng 6 giờ, sương mù còn dày đặc, xe tôi chạy khuất sau một dãy ta luy nham nhở vết đạn bom, đằng trước là một quãng đồi trống ngổn ngang cây đổ và lồi lõm hố bom. Xe phải vượt nhanh khúc này, phía bên kia chừng km là dãy núi đá và rừng già sừng sững. Xe đang lao nhanh, bóp còi inh ỏi. Tiếng còi xe đập vào vách núi dội lại khoảng trống trước mặt đồng sương nghe ong ong đục đục như đang có một chiếc xe đi ngược lại cũng nổi còi báo hiệu. Bỗng một bóng người lao vọt ra giữa đường xe, tay giơ cao chiếc cờ hiệu đỏ và phất lia lịa ra dấu cản đường, nghe thét lên một giọng nữ vang vang:

- Dừng la… a... i… lại!

Cùng lúc với bóng người ấy nằm sấp xuống đường thì từ phía sau đồi phát lên một tiếng nổ bùng và một đám khói quánh đặc tung lên. Tiếp ngay đó là tiếng mảnh đạn, tiếng đá văng veo véo, vù vù. Rồi là một cơn mưa đất, đá, cành cây... giội xuống chúng tôi!

Xe chúng tôi méo mó! Bạt xe rách nát! Mấy anh em trong xe thương tích đầy mình! Chúng tôi như sống dở chết dở thoát khỏi thùng xe! Người báo hiệu cản đường đang nằm bất động trước mũi xe chúng tôi chừng 20 mét! Chúng tôi chạy tới vực người ấy dậy. Đó là một nữ Thanh niên xung phong! Một tảng đá to nặng cả tạ lăn từ ta luy xuống đè lên chân phải của cô! Tôi chết điếng người khi nhận ra người đó là… Minh Tâm! Em đang làm nhiệm vụ cảnh giới tại căn hầm ở đầu đồi. Đây là trái bom nổ chậm cuối cùng mà đội Thanh niên xung phong của em phá trong buổi sáng nay. Chính Minh Tâm đã cứu chúng tôi thoát chết!

Tôi không nhớ bằng cách nào người ta đã đưa được chúng tôi vào trạm quân y. Ở đây tôi ngầy ngật vì chấn thương và tinh thần tôi choáng váng vì tai nạn của Tâm. Chừng một, hai ngày sau tôi hoàn hồn lại, mới hay người ta đã cắt mất đoạn chân phải của Tâm tới trên đầu gối. Lúc này tôi càng không thể rời Tâm!                      Ngoài Hà Nội biết tin tôi bị tai nạn đã yêu cầu bằng mọi cách phải chuyển tôi ra sớm. Nhưng tôi từ chối và nói thẳng lý do.

Khoảng hơn một tháng sau, khi chúng tôi đã ổn định, binh trạm được lệnh chuyển cả tôi và Tâm cùng ra một chuyến.

 

ĐƯỜNG CÔNG DANH:

Về Hà Nội, chúng tôi nằm viện ít ngày thì bình phục. Tâm được chuyển tới trạm điều dưỡng ở Bắc Giang.

Trở về cơ quan, tôi đã thành một người hùng. Ở tuổi tôi lúc đó, được giao chức trưởng Phòng kỹ thuật tổng hợp một viện đầu ngành của một Bộ lớn. Đúng là một trọng trách và cũng là một vinh dự lớn lao. Từ thâm tâm, tôi thấy công việc có nặng nề nhưng lòng mình nhẹ nhõm bởi việc đề bạt này không phải là một đặc ân do sự ưu ái ban ơn mà nó có được là bằng sự tận tụy và thành tích thật sự của mình. Ai cũng biết rằng, chức vụ này trước nay vẫn do ông Viện phó chuyên môn trực tiếp điều hành. Vậy là con đường hoạn lộ của tôi rộng mở. Chỉ ít lâu sau Bộ cho tôi một thời hạn ngắn lo chuẩn bị một đề tài đặng qua Mascơva hoàn thành luận án Phó Tiến sĩ chuyên ngành. Tôi hăm hở lao ngay vào công việc bởi đây là những trăn trở, suy tư trên mồ hôi, xương máu của đồng đội chúng tôi. Tôi trình bày với lãnh đạo đề tài: Tổ chức thiết kế và thi công hệ thống cầu đường bán kiên cố trong điều kiện địa chất và hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam, được lãnh đạo han nghênh vì nó có tính ứng dụng thực tiễn.

Tâm đã là người cộng sự của tôi. Nàng làm việc cần mẫn, tỉ mỉ, sửa lại bản nháp, kiểm tra và sắp xếp các số liệu, có khi tôi lúng túng về một số giải pháp cụ thể thì nàng cũng suy tư trăn trở như tôi, đôi khi có những ý kiến khá độc đáo khiến tôi phải giật mình về sự thông minh, táo bạo nhưng được việc của nàng. Mấy năm trời lăn lóc trên tuyến đường này đã rèn luyện nàng dày dạn về nhiều mặt. Có lúc tôi lên tại khu an dưỡng tìm Tâm. Có lúc Tâm về nhà nghỉ ở nhà cả tháng. Có những ngày cô nữ sinh nổi tiếng xinh đẹp một thời của trường nữ học Trưng Vương ấy lặng lẽ chống nạng với cái chân phải lủng lẳng đi tới nhà tôi trên đường phố Hà Nội vắng lặng trong tiếng còi báo động máy bay inh ỏi.

Cha mẹ tôi hiểu được vai trò của nàng trong sự nghiệp của tôi. Cha tôi luôn tỏ ra quí mến và nhã nhặn với nàng. Mẹ tôi thường có mặt để giúp đỡ nàng mỗi khi nàng đến nhà làm việc với tôi. Tôi được hoàn toàn thanh thản để tập trung lo cho sự nghiệp. Một đôi lần tôi bộc lộ cử chỉ bồng bột, Tâm sẽ sàng khuyên:

- Hãy bình tĩnh lại anh, phải hoàn thành sự nghiệp của anh xong đã!

- Những lúc tâm tình, tôi mơ tới ngày mai của hai đứa chúng tôi, nàng bình thản nói:

- Phải suy nghĩ kỹ anh ạ ! Sự thể giờ đã khác rồi! Hạnh phúc không thể xa rời thực tế!

Tôi không chấp nhận những suy nghĩ vẩn vơ ấy của nàng. Tôi kể lại bao kỷ niệm tốt đẹp đã gắn bó chúng tôi. Tôi chân thành nói lên lòng biết ơn với nàng đã quên mình vì cuộc sống và sự nghiệp của tôi. Tâm buồn rầu nói:

- Trong tình yêu không thể có sự ban ơn! Tình yêu phải luôn bình đẳng về mọi mặt!

Tôi tỏ vẻ lo lắng cho tương lai của nàng, nhưng nàng lại rất tự tin:           

- Người ta chỉ có thể thông cảm với nhau chứ không thể sống thay cho nhau được. Mỗi người có một số phận rủi, may! Nếu không tự mình vượt qua được số phận thì sống làm sao được?!

Ngày sắp lên đường, tôi hỏi thật về dự định của em:

- Hồi còn đi học em muốn thành thầy thuốc để giúp người qua những cơn đau bế tắc! Khi cùng đồng đội vật lộn với những con đường trên giải Trường Sơn, em muốn thành nhà chuyên môn về kỹ thuật cầu đường! Bây giờ cả hai đều không thể được! Có lẽ em sẽ làm nghề dạy học. Em không dạy lớp lớn đâu. Ở tuổi mới vào đời, nhìn thương tật của mình nó hay suy nghĩ vẩn vơ, không ích gì cho nó cũng chẳng hay cho mình. Em dạy trẻ nhỏ thôi. Chúng nó vô tư, hồn nhiên, trong sáng, chỉ nghĩ những điều thánh thiện!

Nàng nói trong vẻ suy tư.

Ngày lên đường, tôi bồn chồn chờ Tâm. Đến giờ phút chót, em gái Tâm  mang đến phong thư ngỏ ghi mấy dòng:

Tâm chúc anh lên đường bình an, sự nghiệp thành công. Tâm xin được chia sẻ hạnh phúc cùng anh!

Em: Tâm!

Tôi không còn lòng dạ nào để vui vẻ chia tay với mọi người. Trước phút lên xe ra sân bay, bố tôi nhắc nhủ một câu luân lý:

- Tình yêu và sự nghiệp phải hổ trợ cho nhau, con ạ!

Mẹ tôi vuốt ve tôi như con nít, nói một câu an ủi lửng lơ:

- Con cứ yên tâm tập trung vào việc học hành, bố mẹ sẽ lo tất cả cho con!

Thằng em trai nhà giáo kiêm “thi sỹ nửa mùa” nói một câu bâng quơ không hiểu đùa hay thật:

- Tất cả hãy yên lòng. Ở nhà mình đã có một tấm gương vĩ đại, mọi người cứ nhìn vào đó mà soi!

Cha tôi trừng mắt nhìn nó.

Xe tôi rồ máy vọt đi. Tôi cũng chẳng quay lại vẫy chào những người đưa tiễn vì mắt tôi mãi rõi trên đường phố vắng mong thấy bóng nàng...

Suốt trên chuyến máy bay đường trường, tôi chỉ nghĩ đến Tâm: “Em xin được chia sẻ hạnh phúc cùng anh!” – Không, hạnh phúc này là của em! Và phải có em nó mới là hạnh phúc!

Liên tưởng đến những lời căn dặn của bố mẹ, tôi nghĩ cha mẹ tôi đã thấu hiểu lòng con...

 

Ba năm làm nghiên cứu sinh thực tập ở Liên Xô, tôi luôn đau đáu nghĩ về quê hương đang chìm trong lửa đạn chiến tranh, mong cho chóng được trở về nhà.

Ngày 30/4/1975, trong nỗi hân hoan chung của mọi người, tôi đã khóc. Tôi nghĩ  đến Tâm: Em ơi! Để có ngày hôm nay em đã phải mang nỗi đau đớn cho đời người con gái! Anh phải chia sẻ cùng em gánh nặng này!

Tôi được các thầy giáo Nga tận tình hướng dẫn.Tôi bù đầu vào sách vở cùng những thí nghiệm, và các đồ án: biện luận, chứng minh, phản biện...

Một ngày nghỉ cuối tuần, cô em gái tôi từ Tiệp qua, dẫn đến  phòng tôi một người con gái. Người con gái này không xa lạ gì với tôi: Cô là con gái ông Bộ trưởng của tôi, cũng là bạn em gái tôi từ hồi còn học ở nhà. Cô đang học ở đây, theo ngành Điện-toán. Cô tên là Thúy Liễu. Và từ đó cô năng lui tới chỗ tôi.

Thời gian đầu tôi và Tâm vẫn thư đều cho nhau. Trong khi thư của tôi nồng nàn những lời lẽ yêu đương thì thư Tâm vẫn đằm thắm và chừng mực. Lúc nào Tâm cũng nhắm vào sự nghiệp của tôi. Nàng còn ước ao tôi tiến xa hơn nữa: “Em nghĩ rằng anh nên tranh thủ dịp này để suy nghĩ và chuẩn bị cho một dự án có chất lượng cao hơn. Những cái ta đã làm được hôm nay mới chỉ là giải pháp trước mắt, tạm thời. Nhưng một ngày nào đó, con đường Trường Sơn xuyên xuốt Bắc–Nam sẽ phải là con đường hiện đại. Có thể là công trình tiêu biểu cho thế kỷ. Em ao uớc anh sẽ đại diện cho lớp trẻ hôm nay là người có đóng góp xứng đáng cho “con đường thống nhất” tương lai ấy! Ôi… Nghĩ đến ngày đó đem lại cho anh sự vẻ vang và niềm vinh dự em thấy sung sướng qua! Chắc là Tâm không thể giúp gì được cho anh vì lúc đó Tâm không còn đủ sức nữa rồi!”                 

Tôi tràn đầy nghị lực trong việc học hành và quyết tâm xây dựng hạnh phúc với nàng. Và tôi đã biên thư cho bố mẹ tôi, nói thẳng ý định đó khi tôi về nước...

 

Liễu thường đến với tôi hơn và có những ngày nghỉ tôi cùng đi chơi với Liễu. Những người xa xứ gặp nhau thường rất dễ gần nhau.

Hồi đó, đời sống của nhân dân Liên Xô còn là niềm mơ ước của dân mình. Liễu rất quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của đời sống. Thấy tôi có vẻ thờ ơ và đôi khi tỏ ra lạc hậu, Liễu thành thật khuyên tôi:

- Anh cứ yên chí đi, cái bằng Phó tiến sĩ đã nằm ở Đại sứ quán rồi! Họ hướng dẫn mình mà mình không làm được thì họ còn ra cái quái gì! Hữu nghị mà anh! Còn cái vị trí của anh ở Viện thì đã có bố em lo! Anh phải nghe em đi! Tranh thủ lúc này mình làm được khối việc, kẻo khi về nước rồi là ân hận đó!

Tôi cảm thấy mạch máu hai bên thái dương nẩy rần rần! Có lẽ mặt tôi đang đỏ bừng lên! Chưa ai dám xúc phạm và coi thường tôi đến thế! Và thật tình cũng chưa ai nói bộc tuệch với tôi một cách chân tình như vậy! Tôi cảm thấy sợ sợ nhưng cũng không thể khước từ thô bạo những yêu cầu của cô được. Gần như tôi giao cho cô quản lý số tiền học bổng của tôi. Cô chủ động mua sắm những thứ gì cô cho là cần thiết. Cô rành rẽ thủ đô Mascơva có lẽ còn hơn chúng mình rành Hà Nội ấy. Đồ đạc, hàng hoá chất đầy một góc phòng tôi.

Chỉ còn một năm nữa tôi hoàn thành luận án. Bố tôi qua Mascơva, gặp tôi tại nhà lưu trú sinh viên. Cụ đã nắm hết tình hình của tôi qua Đại sứ quán, qua em gái tôi và qua Thúy Liễu. Cụ rưng rưng nói:

- Con là niềm tự hào của bố! Cả nhà rất hy vọng vào con! Anh con tuy làm việc ở Đại sứ quán mà nó không biết làm chính trị! Con vợ nó lại tham! Con Nga (em tôi) thì chỉ vẩn vơ với mấy vần thơ nhăng nhít và ba cái triết lý lăng nhăng! Chúng nó chỉ ham mê vật chất!

Tôi nói hơi gay gắt:

- Thì người ta chẳng dạy vật chất là hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc đó sao?!

Bố tôi điềm đạm nói:

- Đành rằng vật chất ai chẳng cần, nhưng có ham muốn thì cũng phải kín đáo và tế nhị. Chúng nó lộ liễu và lố lăng quá, bố rất buồn lòng! Trong khi nhân dân mình còn biết bao nhiêu khó khân mà chúng nó chẳng biết ý tứ gì!

Cụ nhìn vào góc phòng có chất đống đồ đạc rồi quay nhanh nhìn ra cửa sổ. Tôi chột dạ và tê tái trong lòng! Cụ khen tôi hay cụ chê tôi? Tôi cười chua chát:

- Vậy ra lỗi của họ là không khôn khéo?!

Bố tôi im lặng, rồi cụ nói qua chuyện của tôi:

- Bố tin là con sẽ bảo vệ luận án thành công. Về nước, vị trí của con rất vững vàng, không ai suy tỵ được! Con còn có thể tiến xa. Việc tương lai hạnh phúc của con đã đến lúc phải đặt vấn đề. Tâm là người tốt, bố rất quý. Nhưng chọn vợ đâu chỉ một điểm tốt thôi! Trên đời này thiếu gì người tốt?!

Đây là lần đầu tiên từ khi tôi trưởng thành bố tôi can thiệp thô bạo vào chuyện riêng của tôi! Tôi rất bực mình nhưng kiềm chế được:

- Thế bố định lấy vợ cho con à?!

- Chuyện hôn nhân là của các con nhưng nó hệ trọng đến cả đời người và liên quan tới cả gia đình. Cha mẹ nào nuôi con cũng ước về sau, trao tơ phải lối, gieo cầu đúng nơi, đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình, con ạ!

- Vậy thì bố định gá duyên cho con với ai đây?!

Chắc cụ nghĩ là đã thuyết phục được tôi:

- Con Liễu, con bác Bộ trưởng đó! Nó trẻ, khoẻ, có văn hóa, có cơ sở vững vàng (cụ nhấn trọng âm hai từ cơ sở). Khi con hoàn thành luận án Phó tiến sĩ thì nó cũng vừa xong chương trình Đại học. Hai đứa cùng về nước, cùng công tác tại một cơ quan. Chẳng phải tình yêu và sự nghiệp hỗ trợ đắc lực cho nhau đấy sao?!

Tôi giật mình. Thì ra lời cảnh báo của cụ mấy năm trước đây tôi đã hiểu sai! Và nghĩ đến Liễu tôi thấy bần thần: Tôi không có lý do gì để ghét cô nhưng rõ ràng là tôi không thích hợp với cô! Nghĩ đến Tâm tôi thấy đau xót như một sự phản bội! Tôi nhìn bố tôi trách móc và cay đắng hỏi:

- Thế bố quên rằng con có món nợ rất lớn với Tâm sao? Chính cô ấy thành người tàn tật cũng bởi tại con!

- Con không nên tự ràng buộc mình như vậy! Trong chiến đấu sự hy sinh mất mát là lẽ thường tình, không lúc này thì lúc khác, không chỗ này thì chỗ khác! Còn như mang nợ thì ở đời này con đâu chỉ mắc nợ một người? Con mắc nợ cha mẹ, anh em, đồng đội, đồng chí, đồng bào! Con trả được nợ cho người này thì lại mang nợ người khác nặng hơn. Phải nghĩ đến tương lai sự nghiệp của mình con ạ!

Phải thừa nhận cụ là nhà chính trị, nhà thuyết  khách đại tài. Tôi hoang mang, lúng túng, chưa biết đối đáp thế nào. Tình yêu! Tình yêu anh ạ, có cái gì đó không thể nói ra. Tôi chống chế yếu ớt:

- Con không thể phản bội!

Cụ đứng bật dậy, nói dằn từng tiếng rõ ràng, dõng dạc:

- Nào đã ai hứa hẹn điều gì ? Nào đã ai xâm phạm đến ai? Ở nhà đã chuẩn bị hết rồi. Đây là danh dự của bố, sự nghiệp của con!

Cụ đóng cửa đánh rầm, đi thẳng!

Ngay tối hôm ấy tôi viết cho Tâm một bức thư dài. Tôi xác định rằng tôi tha thiết yêu Tâm! Tôi phải có Tâm và Tâm phải có tôi! Trong thâm tâm tôi tự nhủ lòng sẽ đấu tranh quyết liệt chống lại cuộc hôn nhân áp đặt này.

 

Thư Tâm đến với tôi vẫn đằm thắm và chừng mực nhưng thưa dần như một sự thử lòng và chừng dăm bảy tháng trước khi tôi về nước thì bặt thư nàng! Tôi càng bận rộn vào giai đoạn cuối của việc học hành nên thư cũng ít và nội dung thư ngắn gọn, chỉ khái lược tình hình học tập và sinh hoạt ở trường. Có thể là những thư ấy nhạt đi tình cảm tha thiết, mặn nồng?!

Thúy Liễu đến với tôi nhiều hơn và cô thể hiện sự thân tình, chăm chút  cho tôi rất cụ thể. Phải nói thật rằng với tôi lúc đó, Thúy Liễu đã trở thành một hiện thân của sức mạnh bởi nhiều áp lực: của cha tôi, của cha cô, của sự nghiệp, của tuổi trẻ sung sức với kiểu cách biểu hiện phương Tây mà người mình không quen, dễ xỉu lắm!

Vị Giáo sư Tiến sĩ Chủ tịch Hội đồng xét duyệt luận án của tôi nhận xét:

“Bản luận văn của nghiên cứu sinh NGUYỄN CAO THANH là có giá trị thực tiễn trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chúng tôi liên tưởng đến đất nước Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh chống phát xít, các quốc gia đang phải tiến hành cuộc chiến tranh chống sự nô dịch của  các nước có nền khoa học kỹ thuật cao thì sự đóng góp tích cực và táo bạo của các nhà khoa học như anh sẽ là nhân tố không thể thiếu được để đưa đến thắng lợi cuối cùng. Tôi tin rằng trong điều kiện hòa bình, với sự thông minh và sáng tạo, với những điều kiện cho phép thực hiện những quy trình công nghệ chính xác cao, nghiên cứu sinh NGUYỄN CAO THANH có thể bổ sung và nâng cấp công trình của mình đạt được những chuẩn mực nghiêm ngặt của khoa học.  Công trình đó có thể xét đạt học vị cao hơn”!

Tôi đã rưng rưng nước mắt nhận bằng Phó tiến sĩ với những lời khen như vậy! Trước mắt tôi hiện lên những con đường mịt mù khói lửa, lồi lõm đạn bom, ngổn ngang cây đổ: những chiến sĩ vận tải lái xe thồ hai bánh lên xuống đèo cao, dốc đứng; những chiến sĩ  lái xe tải vùn vụt dưới làn đạn nhằng nhịt, bên những vực sâu trong đêm tối không đèn. Và tôi thấy Tâm nằm đó – giữa con đường ấy và lời căn dặn của nàng thủ thỉ bên tai: “Em ao ước anh sẽ là người đại diện cho lớp trẻ hôm nay có đóng góp xứng đáng cho con đường thống nhất tương lai”!

Tôi viết ngay một bức thư thật dài cho Tâm, tường thuật khá tỉ mỉ buổi bảo vệ luận án Phó tiến sĩ của tôi và cả những giấc mơ một thời sống lại.

Thúy Liễu chia sẻ niềm hân hoan bên tôi! Tôi ngậm ngùi nhớ đến Minh Tâm

 

Đầu năm 1978, tôi cùng Thúy Liễu trở về Hà Nội.

          Ngay chiều hôm ấy, lẳng lặng không nói với ai, tôi bổ đến nhà Tâm. Bây giờ tại đó, chỉ còn gia đình chú thím tôi ở cả trên gác, dưới nhà! Hỏi ra mới biết: phần dưới nhà coi như đã cho thuê, thuộc diện Nhà nước quản lý! Anh em Tâm đã nhiều lần xin lại nhưng không được! Cuối cùng họ bàn nhau nhượng lại cả mấy buồng trên gác cho chú thím tôi! Hình như mấy anh em đã di chuyển vào phía Nam nhưng không ai biết cụ thể ở đâu!

          Tôi cảm thấy như mình bơ vơ, lạc lõng giữa đời!

          Cả nhà tôi đều giữ sự im lặng và kín đáo.

Cùng lúc ấy có quyết định chính thức đề bạt tôi làm Viện phó. Thúy Liễu cũng về làm việc ở Viện tôi.

Từ đó, công việc bộn bề đã cột chặt tôi vào những lo toan cho việc xây dựng và phát triển của ngành. Những công việc chuyên môn, công việc hành chính và sự vụ cùng với các cuộc hội nghị trong và ngoài nước cuốn hút tôi, hầu như rất ít có ngày giờ rảnh rang. Những lần đi hội nghị gần xa, Thuý Liễu thường đi cùng vì cô ấy quản lý các số liệu công trình và rành ngoại ngữ. Những lần vào họp ở phía Nam, tôi cũng có ý tìm Tâm nhưng chẳng biết hỏi ai. Những người tôi thường giao tiếp thì không ai biết gì về họ. Bạn bè cũ như các anh thì không biết đang lặn hụp ở đâu? Có những lúc nhớ tới Minh Tâm, tôi vẫn thấy nhức nhối trong lòng: Minh Tâm ơi, anh vẫn yêu em! Vì cớ gì em đã bỏ anh? Giờ này em ở nơi nào? Em sống ra sao?!

Tôi cảm thấy lòng mình lẻ loi, trống trải.

Trong tâm trạng ấy, với sự quyết định và sắp xếp của gia đình, với sự hiện diện của Thúy Liễu thường xuyên, đã thành định mệnh của đời tôi!

 

HẠNH PHÚC MONG MANH:

Đầu năm 1980, người ta cưới vợ cho tôi!        

Hồi đó cả hai phía biên giới Bắc, Nam còn đang căng thẳng, đời sống của Hà Nội mình khó khăn thắt ngặt là thế mà tôi vẫn được cơ quan và gia đình lo cho chu tất. Ngày mai làm lễ thành hôn mà chiều nay tôi mới đi công tác ở nước ngoài về! Nhiều tiếng khen nhưng xì xầm cũng có những tiếng chê! Tôi tặc lưỡi: miệng thế gian mà! Hôn nhân là chuyện cá nước duyên ưa hay là số phận?

Tôi lại lao đầu vào công việc.

Gia đình tôi thêm nàng dâu mới. Cuộc sống rộn rã vui chung được ít lâu rồi lại chìm vào sự bình lặng thường ngày. Ai cũng tất bật vào công việc của mình.

Anh tôi tuy lấy vợ trước tôi nhưng cả hai người đều sống ở nước ngoài. Đôi ba năm về thăm gia đình vài ngày thì chủ khách đều hồ hởi san sẻ cho nhau những ngọt bùi. Dù rằng bố mẹ tôi không ưng cách sống của người chị dâu nhưng việc đời ai nấy sống. Với ông anh, thì cha tôi là cây cao bóng cả để vợ chồng ông triệt để khai thác hiệu năng cái bóng mát của cây đại thụ!

Bố tôi là người cẩn trọng và đúng mực. Cụ nói năng từ tốn, cân nhắc từng ý, từng câu và bao giờ cũng chú ý tới phản ứng của người nghe. Cụ có tài hướng người nghe vào mục đích chủ đề của cụ. Xưa nay cả nhà tôi kính cẩn lắng nghe lời cụ. Với các con, cụ là người đưa đường, chỉ lối và sắp đặt chỗ cho chúng tôi ngồi. Cụ là người bố đầy tình thương nghiêm khắc và cũng là người cha quyền uy tối thượng!

Mẹ tôi từng một thời gian buôn gánh bán bưng nuôi một đàn con dại và tiếp tế cho chồng những ngày ông thoát ly hoạt động. Bà như cái vịnh bình yên cho con thuyền mong manh của bố tôi neo đậu trong những ngày biển động! Cha tôi rất thương và nể mẹ tôi. Từ ngày về thành phố, bà được sắp xếp làm việc ở cơ quan phụ nữ. Vốn học của bà chẳng có bao nhiêu nhưng bà đã từng một tay chèo chống cả một đại gia đình thoát cơn binh lửa can qua nên bà nhanh nhạy và tháo vát, sau này bà được lõm bõm học thêm qua những lớp bồi dưỡng ngắn ngày. Bà là cán bộ tuyên truyền nên bà nói theo nghị quyết và theo ý của bố tôi nhưng mọi chuyện gia đình thì bà phải quyết theo ý của bà và mọi người trong nhà âm thầm chấp nhận vì bà là người mẹ tần tảo, người vợ đảm đang, người quản gia tận tụy trung thành.

Thằng em trai tôi lúc ở tập thể, lúc ghé về nhà vô chừng, có cũng như không!

Vợ tôi kém tôi năm tuổi. Từ nhỏ cô đã học trong các trường nội trú, được sự ưu ái vì gia thế cùng với việc xã hội đương nhiên phải lo lắng cho cô. Đến tuổi trưởng thành, cô sống lâu năm ở nước ngoài tạo cho cô tính tự do phóng khoáng. Cô hiểu biết xã hội theo sự giáo huấn ở nhà trường nửa Á, nửa Âu. Cô thích nghe nhạc cổ điển và đọc sách triết học nên những nhận xét của cô rất tinh vi sắc sảo. Mới làm dâu được ít ngày, cô đã nói với tôi nửa đùa, nửa thật

- Ở nhà này mẹ hay nói, vậy mà chỉ là cái đuôi thôi! Bố cái gì cũng ừ nhưng lại là cái đầu! Mọi buồn vui cứ nhìn cái đuôi thì biết. Cái đầu đầy toan tính nhưng lúc nào cũng lặng thinh!

Cuộc sống Hà Nội những măm 80 thật khó trăm bề. Cán bộ công nhân viên nhà nước chủ yếu sống theo chế độ cung cấp với các loại bìa như sự phân loại đẳng cấp thời xưa. Nhà tôi năm người, có ba loại bìa: bìa A là của bố tôi. Bìa C là của mẹ tôi và tôi. Bìa D là của vợ tôi và chú em trai. Mẹ tôi quản lý chặt chẽ năm tấm bìa ấy để điều tiết cuộc sống gia đình. Bìa A và B đặc biệt được mua ở cửa hàng phố Tôn Đản, ngoài những tiêu chuẩn định mức còn được phân phối bổ sung thêm. Bìa C của cán bộ trung cấp được mua ở cửa hàng phố Vân Hồ. Bìa D là của công nhân viên chức và bìa E là của thường dân thì mua ở chợ. Đó đây người ta nghe được những câu vè đường phố: “Tôn Đản là của vua quan Vân Hồ là của trung gian nịnh thần Chợ trời là của nhân dân”! Một hôm, thằng em tôi về nhà, trong bữa cơm, nó chỉ những món ăn nào mua được ở đâu rồi nó tthốt ra mấy câu vè không biết lượm từ đâu:  “Đầy tớ ăn ở cao sang / Ông chủ ăn ở ngang hàng cu ly / Ông chủ đâu dám phân bì / Tớ không vừa ý, chủ đi đằng đời”! Mẹ tôi chỉnh ngay:

- Đây là tiêu chuẩn, chế độ do Nhà nước qui định, con không được xuyên tạc!

Vợ tôi nói nhẩn nha:

- Ở nước mình làm đầy tớ sướng hơn ông chủ cho nên cứ kêu gọi làm chủ hoài mà có ai dám nhận đâu? Ai cũng muốn làm đầy tớ!

Cha tôi nhắc nhở cả nhà:

- Tất cả đều trong thời kỳ quá độ! Gia đình mình toàn cán bộ, nói năng cần thận trọng!

Thực tình vợ tôi rất lo cho tôi. Có lần cô thủ thỉ tâm tình:

- Em thương anh cái nết thật thà và tận tụy. Nhưng vừa vừa thôi em còn chịu được. Người ta có lúc say rồi tỉnh lại, nhưng anh cứ ngủ say hoài như con gấu mùa đông!

Tôi nói về những ước mơ cháy bỏng một thời vẫn còn thôi thúc không nguôi.

Vợ tôi cười, ôm lấy cổ tôi nhắc nhở:

- Mục đích cuối cùng của khoa học cũng là để phục vụ con người, trong đó có cá nhân mình. Mình có tồn tại thì mới phát minh được chứ! Muốn tồn tại anh biết phải làm gì không? Hiện nay sự tồn tại của anh đang phải dựa vào mọi người trong nhà này, anh chẳng khác chi một anh chàng ăn bám! Vậy mà anh cứ nghĩ rằng anh lương thiện và trong sạch. Đó cũng là một loại đạo đức giả! Nhà này toàn một kiểu như anh!

Tôi giận tái người.

Trong tập ảnh lưu niệm, tôi vẫn giữ những tấm ảnh chụp ở Trường Sơn khói lửa một thời, trong đó có cả hình của Minh Tâm. Tôi không cần giấu vợ. Vợ tôi biết nhưng không hề có ý ghen tuông bóng gió thường tình. Một hôm, vợ tôi ngồi giở những tấm hình đó ra coi. Tôi thấy vui trong lòng và ngồi xuống bên nàng. Vợ tôi nói vẻ chân thành

- Em rất kính phục các chị các anh này. Chồng của em trong số những người như thế. Thật ra không có những lớp người đó, đâu có ngày nay. Em không lẫn lộn những điều hay, dở. Em rất khinh những kẻ bội bạc với quá khứ!

Tôi mừng khôn xiết ôm chặt vợ vào lòng. Và nàng ôn tồn nói tiếp:

- Nhưng nếu anh chị nào còn được tới ngày hôm nay cũng phải biết sống khác đi mới tồn tại được. Anh không biết đấy thôi, lúc các anh ở tuổi đôi mươi, lửa tình rừng rực, người ta kêu gọi các anh “Ba khoan”(Chưa yêu thì khoan yêu. Yêu rồi thì khoan cưới. Lỡ cưới rồi thì khoan đẻ)! Phải thế không nào? Để làm g? Phải chăng để các anh chỉ có một việc lăn xả vào cái tuyến đường lửa bom, chết chóc ấy! Thế nhưng chính người đã khai sinh ra cái phong trào “ba khoan” ấy thì sao? Cái ông đầu trò của anh đấy! Đã quá tuổi tứ tuần, vợ chết chưa xanh cỏ mộ đã vội khoan ngay một cô đào trẻ nõn nường chỉ đáng tuổi con! Đành rằng về pháp lý không có gì sai nhưng về đạo lý có khác chi một trò đại bịp! Quang minh chính đại cái gì?! Các anh vẫn thường được rao giảng: người cách mạng phải lấy đạo lý làm cơ sở để xây dựng đời  sống mới đó sao?! Ai là người cách mạng? Các anh à ? Đâu phải chỉ có một ngài nói suông như thế! Anh là người có học, anh từng được nghe giảng khá nhiều về duy vật, duy tâm. Vậy mà anh chẳng thấy được những biến đổi ngay trong ngôi nhà anh đang ở!

Tôi từ trạng thái sung sướng, yêu thương chuyển thành ngạc nhiên, thắc mắc! Vợ tôi lẳng lặng ngồi thoa phấn và sửa sang da mặt để mặc tôi với bao trăn trở suy tư. Lát sau cô lại thủng thẳng đưa ra những nhận xét làm tôi tái tê, cay đắng:

- Tình yêu thương con cái là bản năng của giới động vật có cấu tạo hệ thần kinh cao cấp. Suy cho cùng nó cũng là phản xạ tự nhiên để bảo tồn nòi giống. Nó tỷ lệ thuận với sự cấu tạo tinh vi của hệ thần kinh. Ở loài người nó mang tính vị tha cao cả, thiêng liêng. Nhưng nó cũng sẽ là độc ác nếu tình thương ấy mang tính độc tôn vị kỷ! Dưới mái nhà này, tình thương ấy lại được điểm tô dưới chiêu bài cách mạng. Người ta nói đó là lo việc trồng người! Kết quả là sản sinh ra được bốn đặc chủng trí tuệ cùng chung sống hòa bình dưới một cái gậy chỉ huy trong ngôi nhà tưởng chừng như bình yên, lặng lẻ này!

Tôi cũng muốn tò mò xem vợ tôi phân loại thế nào vì dù sao cô cũng ở một vị trí khách quan và vô tư nhất định:

- Vợ chồng ông trưởng là tiêu biểu của loại người thực dụng. Phương châm của họ là: “Tôi làm tất cả để có những cái mà tôi cần”! Chú em lãng tử cứ như người mộng du: “Đời chẳng có chi và ta cũng chẳng cần chi – ngoại trừ cái ăn để sống”! Cô em gái học đòi kiểu sống hiện sinh: “Tất cả tồn tại vì tôi”! Cái hạng người này họ bất cần nên bất trị! Còn ông chồng của tôi là một kẻ lạc loài: “Anh đam mê”! Người ta có thể đam mê quyền lực, tiền tài hay sắc dục. Họ có những thủ đoạn dù nham hiểm hoặc tàn nhẫn để đạt cho bằng được. Nhưng chồng tôi lại đam mê những thứ viển vông vì anh không lượng hết sức mình! Cuối cùng rồi anh sẽ quàng vào cổ mình một con số không tròn trặn!

Tôi lờ mờ cảm thấy những lời nhận xét của vợ tôi tuy cay độc nhưng không phải là vô căn cứ!

 

Dù sao những quan niệm khác nhau về cuộc sống trong một gia đình Việt Nam vẫn có thể dung hòa được. Nhưng sự khác nhau về cách sống đặc biệt là của những người phụ nữ xa lạ phải ràng buộc lại với nhau vì những mối quan hệ dây mơ rễ má đã trở thành một cái ách nặng nề mà người đàn ông trong gia đình phải hoàn toàn gánh chịu.

Cha tôi là cán bộ cấp cao, có tiêu chuẩn người lái xe, cần vụ và bảo vệ nhưng việc ai nấy làm. Mẹ tôi trước kia vẫn phải lo lắng việc gia đình trong ngoài, giờ có nàng dâu, thêm người thêm việc nhưng chẳng ai đỡ đần. Bà phật ý! Tôi cũng vô tâm, không lưu ý tới những việc cụ thể trong gia đình nhưng lại là mối giao lưu tình cảm tế nhị tạo nên sự thuận hòa hay rối rắm. Một buổi tối, sau bữa cơm, cha giữ tôi lại, khuyên bảo mấy câu:

- Con phải chú ý nhắc nhở vợ con, đừng để mẹ phiền lòng!

Tôi cũng chưa hiểu chuyện bắt nguồn từ đâu? Khi tôi bước vào phòng, vợ tôi đang nghe nhạc, vẫn để dây head phone bên tai, cô lơ đãng hỏi:

- Chắc ôn (*OH: tiếng Nga, đại từ ngôi thứ ba nhân xưng, số ít, giống đực) bảo anh phải biết dạy vợ chứ gì? Ana (*OHA: đại từ ngôi thứ ba nhân xưng, số ít, giống cái) bao giờ chẳng đúng!

Tôi giận run người, ngồi bịch trên chiếc ghế dựa. Vợ tôi vẫn mơ màng nghe nhạc, mắt lơ đãng đâu đâu.

Ngày hôm sau, tại phòng ăn, mẹ tôi làm bảng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người. Đương nhiên cha tôi không có tên trên đó. Tôi làm một số công việc phụ. Chú em trai: tổng vệ sinh ngoại cảnh khi có mặt ở nhà. Mẹ và vợ tôi thay nhau nội trợ. Vợ tôi bĩu môi:

- Bất bình đẳng!

Để mẹ khỏi buồn, tôi ráng làm tròn cả việc tôi, việc vợ. Mẹ tôi xót con, đôi khi buông lời bóng gió gần xa. Vợ tôi càng lạnh như tiền!

Trên  bàn làm việc của mẹ tôi đầy những chồng nghị quyết và báo chí cùng với hai tấm hình lãnh tụ dưới ghi kèm lời giáo huấn. Một tấm ảnh với câu: “Một ngày chưa đọc báo Đảng chưa biết phải làm gì”! Một hôm vợ tôi nhìn thấy, cô lấy tay bụm miệng mà vẫn nghe tiếng cười khúc khích. Mẹ tôi giận đỏ mặt, bà đứng giữa phòng nói lớn:

- Bàn làm việc của tôi không ai được tới!

Từ đấy vợ tôi không bén mảng tới đó làm gì. Nhưng một lần, cô mượn tờ báo Phụ nữ của bà từ tay tôi, đọc xong, cô để lại bàn ăn. Mẹ tôi nhắc:

- Để lại ở bàn của mẹ!

Cô thủng thẳng trả lời:

- Bàn làm việc của mẹ không ai được tới!

Mẹ tôi đứng ngây ngườii nhìn cô trân trân. Tôi hoảng quá, lật đật cầm tờ báo đặt ngay ngắn tại giữa bàn của mẹ.

Cha tôi có lẽ vì thương tôi mà cụ rất kiềm chế, kiên trì và mềm mỏng. Một hôm nhân chuyện vui cả nhà, cha tôi lái qua kể về những công lao nhọc nhằn của mẹ tôi trong việc gây dựng gia đình. Vợ tôi kết luận một câu:

- Giá mẹ cứ làm bà nội trợ như vậy thì đáng quý biết bao!

Mẹ tôi không chịu được nữa, bà xô chồng bát, đứng dậy và nói lớn:

- Biết thế này tao cưới con què cho nó còn hơn!  Tôi choáng váng mặt mày. Vợ tôi cũng đứng bật dậy:

- Đấy nhé, chính các người xô đẩy họ tới nông nỗi ấy để rồi các người khinh thị họ! Thử hỏi những người như thế họ được cái gì? Và các người đang hưởng cái gì? Thì ra những giọt nước mắt các người nhỏ xuống chỉ là nước mắt cá sấu thôi!

Cha tôi ngồi chết lặng, để rơi cả bát đũa xuống nền nhà. Vợ tôi xồng xộc chạy lên buồng, xách vali, đùng đùng bước xuống cầu thang và nói:

- Tôi không chịu đựng nổi sự giả dối đến kinh tởm này!

Cô lấy xe đi thẳng về nhà cô. Lúc đó vợ tôi đang mang thai sáu tháng.

Vợ tôi sinh cháu trai ở bên nhà ngoại. Cha mẹ tôi có sang xin đưa mẹ con về nhưng bên kia khéo léo đẩy đưa, lần lữa.

Tôi thành người một chốn đôi nơi, mất đi sự tín nhiệm, yêu thương của hai bên nội, ngoại. Phía nhà tôi trách tôi là kẻ nhu nhược, sợ vợ nên để cho nó trèo lên đầu, lên cổ rồi coi thường luôn bố mẹ, anh em! Phía đằng vợ trách tôi cù lần, cha mẹ bảo gì nghe nấy, không biết phân biệt phải trái, trắng đen để cho vợ tôi bị cô lập và vất vả! Sức khoẻ tôi giảm sút. Tôi thành ra người chán nản! Con tôi một tuổi, vợ tôi xin đi làm cán bộ quản lý người lao động hợp tác ở nước ngoài. Tôi cũng muốn cô đi cho cả hai đứa được thảnh thơi. Con tôi cũng đi theo mẹ.

Khi người ta đã có vợ con mà phải sống độc thân, đơn chiếc mới cảm thấy hết được sự đơn côi trống vắng. Tôi thẫn thờ, tưởng như người mất hồn! Nhà tôi thường xuyên chỉ có ba người như ba cái bóng lặng lẽ, mỗi người có riêng những suy tư trăn trở.

 

Khoảng giữa những năm 1980, cả bố ruột và bố vợ tôi đều không làm công việc lãnh đạo chủ chốt nữa. Các cụ về Ban nghiên cứu lịch sử các phong trào. Đó là chặng dừng chân cuối cùng của các cụ già đặc biệt không có chế độ nghỉ hưu. Một ông Phó tiến sĩ về làm Bộ trưởng thay bố vợ tôi. Ông này tôi biết, cùng lứa học ở Liên Xô. Tuy có học vị, nhưng ông không thích làm khoa học, ông làm công tác quản lý và lãnh đạo, từng giữ chức Tổng giám đốc xí nghiệp liên hiệp công trình. Một ông trẻ, có học vị Tiến sĩ đảm nhiệm chức Viện trưởng viện tôi.

Từ ngày đổi mới, đứa em gái của tôi thường xuyên cùng chồng về nước xây dựng cơ sở làm ăn. Nó có một khách sạn ba sao ở Hà Nội. Mẹ tôi đã nghỉ hưu làm người trực tiếp quản lý khách sạn ấy.                                

Vợ tôi một hai năm về nước một lần. Sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, tôi khuyên cô ấy nên về nước vì cô là người được học hành cơ bản, không nên bỏ phí khả năng nghề nghiệp của mình nhưng cô ấy nói:

- Nước mình trước đây nghèo nàn, chỉ một số ít người được học nên có chút vốn học vấn là được xếp vào hàng quan lại: Quan đốc tờ, Quan đốc học, Quan tham và những ông Phán, ông Thông, ông Ký được coi như cấp tiểu quan! Nhưng một khi mặt bằng dân trí được nâng lên, người có học phải biết sử dụng cái trí của mình để mà dựng nghiệp, chớ nên câu nệ vào cái ghế ngồi để được tiếng là mát mày, mát mặt!

Và cô đã chuyển qua kinh doanh ngành tin học, đến nay đã có được một shop khá lớn tại một “Đôm” ở ngay giữa Mascơva, có khả năng mở rộng địa bàn về nước nữa. Xem ra cô ấy còn nặng tình, nặng nghĩa với tôi:

- Em còn có nhiều việc làm ăn ở bên đó, trước mắt chưa thể về nước được. Mà em ở đâu thì con ở đó. Anh cứ yên tâm, em sẽ lo cho con học hành đến nơi đến chốn. Em tích lũy cũng là cho nó. Nếu con có sức học em có thể lo cho nó du học đâu cũng được! Chúng mình tuy còn là vợ chồng, xa nhau mỗi đứa một nơi nhưng sẽ không ai ràng buộc được ai. Khi mỗi người tự cảm thấy cần phải có một cuộc sống mới thì cứ thẳng thắn thông báo cho nhau. O.K thôi! Không ai trách ai điều gì. Riêng em thì hiện nay em thấy điều đó là chưa cần thiết! – Cô khóc…

Cô khổ đau không kém gì tôi! Cô cũng không hám gì cuộc sống vật chất xô bồ. Cô muốn được sống yên tĩnh nhưng phải hoàn toàn độc lập tự do! Đó là điều chưa thể có được ở xứ mình! Bản thân cô là sự mâu thuẫn giữa lòng vị tha trắc ẩn với những nhu cầu thiết yếu của thời đại tiêu dùng! Tôi vẫn lo cho cô: một mẹ, một con ở xứ người, giữa các nơi người ta tranh giành, cướp giật của nhau để có thật nhiều tiền, coi đấy là bậc thang giá trị của mỗi người trong xã hội. Rồi hai mẹ con sẽ ra sao? Tôi hoàn toàn bất lực… Tôi cảm thấy cuộc đời này như vô định, chẳng khác gì một chuyến lãng du!...

Anh buồn rầu nói:

- Sức khỏe và tinh thần của tôi đều giảm sút, có muốn lăn vào công việc cũng không làm gì được! Tôi xin nghỉ một thời gian để an dưỡng cho hồi phục sức khỏe và tinh thần. Tôi quyết định với thời gian ấy tôi đi tìm Tâm!

Tôi nhìn anh thăm dò.

- Không phải là để chắp nối lại mối tình xưa. Dù sao thì tôi cũng đã có vợ, có con. Cái gia đình ấy dù hay, dù dở là do tôi tự dấn thân vào! Tôi chấp nhận. Nhưng còn Minh Tâm?! Nàng yêu tôi lúc tuổi mộng mơ đầy trắc trở. Chúng tôi đã lạc nhau rồi lại tìm thấy nhau trong cảnh đời biến động. Nàng đã hy sinh tất cả cho tôi: Cuộc đời! Tâm lực! Và cả hạnh phúc lẽ ra nàng được hưởng! Bây giờ nàng ở đâu? Nàng sống thế nào? Tôi có thể làm gì được cho nàng trong phần đời còn lại của tôi?

Tôi hiểu lòng anh và quyết cùng anh đi tìm nàng: Người yêu của anh, người bạn thời niên thiếu của tôi.

 

NHỮNG SỐ PHẬN ĐA ĐOAN :

Tìm em như thể tìm  chim…

Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Đông

Tìm bể Đông thấy lông chim nhạn

Đi tìm bể Bắc thấy đàn chim bay !

- Ca dao -

Chúng tôi cùng nhau đi tìm Tâm. Nhưng nàng ở đâu?

Ở nước mình, các dòng sông thường chảy từ tây qua đông – từ núi cao ra biển cả. Sông nước mang bao phù sa bồi đắp cho các châu thổ đồng bằng. Nhưng lại có dòng người di chuyển như sông, luôn chảy từ Bắc vào Nam, dù phải vượt qua trăm ngàn đèo dốc và những dòng sông nước với bao ghềnh thác, nó chảy trôi như dòng lịch sử, có lúc bình lặng êm đềm, có lúc dội trào lên trong cơn biển động xã hội lớn lao, tạo nên đợt sóng ào ạt xô bờ. Làm sao tìm được những hạt phù sa trong dòng trôi chảy ấy?

Bắt đầu từ anh Tân.

Chúng tôi mất nhiều ngày tìm gặp các bạn bè từ thời xa xưa, nhiều bạn còn rất nhớ Tân, có người cũng nghe phong phanh Tân đã cùng gia đình di chuyển vào phía Nam nhưng biệt tung tích. Chưa ai gặp dù chỉ một lần! Anh nhắc tôi:

- Nghe nói ở thành phố Hồ Chí Minh có Câu lạc bộ người Hà Nội, ta tìm đến hỏi xem sao!

Chúng tôi gặp một anh bạn cũ hay la cà đây đó để thăm dò, anh cười và bảo:             

- Đấy không phải là Hội đồng hương Hà Nội! Ở đó các ông gặp đủ thứ thổ âm. Ngay cả ông chủ tịch cũng là người khu Bốn. Có đến đấy các ông cũng chẳng gặp được mấy người quen. Láo nháo một chút rồi về!

Ông cụ thân sinh ra anh đã ngoài 80 tuổi mà con minh mẫn. Cụ giảng giải cho chúng tôi:

- Người Hà Nội thật sự không thích ngộ nhận. Thủ đô là tinh hoa của cả nước, không còn là của riêng ai. Thị thành là nơi đô hội, tứ phương họp lại, đủ các giới thượng lưu quan quyền, trí thức, doanh nhân lớn nhỏ, cần lao đủ loại, giang hồ tứ chiếng. Ít có mối giao cảm thâm sâu như họ hàng, làng xóm tỏ tường lai lịch tông tích của nhau. Những cái hay cái dở, những điều tốt xấu họ nhìn nhận khác nhau. Những niềm vui nỗi buồn họ khó san sẻ cho nhau. Họ giao du theo giới nghiệp, cảnh đời. Ai cũng có thể đến đấy tạm cư hoặc trú ngụ lâu dài nhưng mấy ai có thể ăn đời ở kiếp, lưu truyền dòng tộc? Nó là nơi thanh lọc tự nhiên, ai không thích nghi sớm muộn rồi sẽ tự bỏ nó mà đi! Dù người ta nói: Chẳng  thơm cũng thể hoa lài / Chẳng thanh cũng là người Tràng An nhưng thử hỏi rằng mấy ai dám tự nhận là mình tiêu biểu cho người Tràng An thật sự?

Chúng tôi nghe ra và đi tìm hướng khác.

Có người mách hãy lên Đồng Nai, Sông Bé, Đà Lạt, Lâm Đồng vì ở đó có khá nhiều người Hà Nội vào khai khẩn đồn điền trồng cây công nghiệp. Nghe có lý, chúng tôi rủ nhau đi, coi như một chuyến du lịch vậy.

Trên đường đi, chúng tôi cố ý dừng lại ở những nơi có nhiều người từ phía Bắc vào đây khai khẩn như: Long Khánh, Phương Lâm, Định Quán, Bảo Lộc, Đức Trọng... Đến cao nguyên Di Linh, không khí se lạnh thật dễ chịu. Nhìn lên núi Voi, tôi có cảm giác con voi to khỏe vậy, mà cũng phải nằm ịch ở đây nhìn lên đèo Prenn ngán ngẩm! Vậy xin xe hãy dừng đây chốc lát.

Bạn tôi lộ vẻ buồn rầu. Tôi buột miệng đọc khổ thơ đầu một bài thơ ngắn của Tế Hanh: “Anh tìm em khắp nơi /  Đến nơi nào mới gặp / Anh tìm em suốt đời / Đến bao giờ mới gặp”?! Và tôi động viên anh:

- Ông yên chí đi, sẽ đến lúc ông đọc cho tôi khổ thơ cuối đấy!

Anh đứng trầm ngâm…

Có một ngôi nhà dưới chân đồi, ngay sát bên đường, mái ngói đỏ au, tấm biển lớn còn bóng màu sơn: Công ty LÂM-HÀ – Chuyên mua bán lâm thổ sản. Chúng tôi định tòmò vào đó xem sao nhưng là giờ nghỉ trưa, cửa hàng đóng cổng. Chúng tôi đang tần ngần nhìn vào sâu phía trong sân thấp thoáng bóng người thì tiếng còi xe đã giục!

Xe lên đèo Prenn! Chẳng ai thiết ngắm những cảnh ngoạn mục ở nơi nổi tiếng này.

Mỗi ngày ở Đà Lạt qua đi là một ngày nhạt nhẽ! Mục đích của chuyến đi không thành! Cuộc du lịch mà buồn tẻ!

 

Vậy là anh đã mất hơn một tháng trời cho cuộc kiếm tìm vô vọng! Trông anh thật thiểu não. Tôi thương bạn mà chẳng biết làm gì hơn nữa! Tôi liều bảo anh cho phát trên đài truyền hình trong mục Tìm người thân! Anh giãy nảy:

- Thật vô duyên! Suy cho cùng đã là cái tình chi?! Nào đã biết ai bỏ ai đâu?! Vã lỡ như nàng đã an phận với một gia đình yên ấm, mình lại thêm tội khuấy rối người ta!

Anh đã tính ngày trở về Hà Nội. Tôi còn nấn ná giữ anh. Chúng tôi lang thang nhiều nơi, cũng có ghé Câu lạc bộ Người Hà Nội một lần. Thật vui vẻ và ồn ào. Ai cũng tự hào với sự hiểu biết của mình về Hà Nội với những cảnh đẹp, với những món ăn, với những cái kỳ kỳ, lạ lạ. Chúng tôi như người lạc lõng! Những người Hà Nội truân chuyên đang ở đâu?!.

Một ngày, khi trời đã về chiều. Sau cả một ngày nắng gắt giờ đã nhạt đi, không khí dìu dịu cùng với những làn gió nồng lồng lộng. Đường phố Sài gòn chen chúc người, xe… Người đi về nhộn nhịp. Người đi mua sắm. Người bán dạo và người đi dạo. Không ít người đi vô định! Trong dòng người ấy, hai chúng tôi lặng lẽ bước đi: Để tìm chi? Để làm gì?

Bên một đường lớn có mấy cửa hàng trưng biển bán lâm thổ sản. Anh bảo tôi ghé qua mua ít sản phẩm rừng từ phía Nam về Hà Nội làm quà. Tôi giật mình, chỉ anh tấm biển: Công ty LÂM-HÀ – Chuyên mua bán lâm thổ sản! Tôi linh cảm như một cuộc kỳ ngộ chi đây.

Đứng sau quầy là hai cô gái chừng 15-17 tuổi, nói đặc sệt âm từ Hà Nội, tôi thấy xao xuyến trong lòng. Anh bạn tôi vẫn đứng bần thần. Tôi hỏi thẳng ngay vào chủ đề:

- Lâm Hà đây có phải là Lâm Hà ở chân đèo Prenn, gần núi con Voi?

- Ơ! Sao bác biết ạ?

- Tại sao lại là Lâm Hà? Đó là tên người hay tên ghép địa danh?!

- Dạ thưa bác, vừa là tên người cũng vừa là tên ghép địa danh Hà Nội – Lâm Đồng đấy bác ạ!

- Thế các cháu là người Hà Nội à?

- Dạ, nhà cháu ở gần ngay Vườn hoa Hàng Đậu ạ!

- Gần đó thì biết bao nhiêu là phố: Hàng Đậu, Hàng Than, Hàng Cót, Hàng Giấy, Quan Thánh, Hoè Nhai, Phan Đình Phùng, Phùng Hưng và cả phố Gầm cầu nữa!

- Ồ, các bác có vẻ là người Hà Nội chính thống đấy nhỉ?

- Chính, giả thì chưa biết. Nhưng chúng tôi thực sự sống chết với thủ đô đấy!

- Bố cháu cũng thế đấy ạ! Nhà cháu ở gần chỗ Gầm cầu ấy! Mà giờ thì không còn phải là nhà cháu nữa rồi!

Tôi giật thót mình! Bạn tôi đứng đực người ra, trông thật tội nghiệp! Tôi hồi hộp thật sự, trống ngực đập thình thình. Tôi có cảm giác như hồi nhỏ đi bắt chuồn chuồn: Bàn tay đưa lên, hai ngón tay dần dần khép lại, đôi cánh con chuồn chuồn rung rung cái đuôi nó cụp xuống. Chỉ cần hai ngón tay chập lại mà sao mình run thế. Được hay mất?! Cũng may là giây phút căng thẳng ấy được giải tỏa rất nhanh khi cô gái nhìn về phía trong nhà.

Một thiếu phụ bước ra. Chúng tôi đứng ngẩn người! Thiếu phụ tròn mắt ngạc nhiên rồi mừng rú lên:

- Anh Thanh! Anh Thịnh! Trời ơi!

Đấy là Mỹ Hạnh, em gái của Tâm!

Chúng tôi còn đứng như trời trồng. Ba người phụ nữ tối rít mời chúng tôi vào nhà trong.

Sáng hôm sau, chúng tôi đi trên chiếc xe hàng nhà của anh Tân lên Đức Trọng.

Để cuộc gặp gỡ được bất ngờ, chúng tôi bàn với Mỹ Hạnh không báo trước. Tôi thì hết sức vui mừng coi như mình đã giúp bạn qua được một điều day dứt. Bạn tôi không nói năng gì, nét mặt không lộ vẻ vui, buồn, nhưng ra vẻ bồn chồn, nôn nóng.

Tới chân đèo Prenn, chiếc xe rẽ trái theo con đường sạn đỏ có mái nhà ngói son rực rỡ của Công ty Lâm – Hà. Mấy nhân viên nhìn thấy xe nhà giơ tay vẫy vẫy chạy ra đón, nhưng xe vẫn bon bon chạy thẳng. Xe đi vào rừng càphê trĩu trịt quả đỏ, xanh. Phía cuối kia là một dãy nhà ngói đỏ rộn rịp bóng người.

Xe qua cổng, vào thẳng trong sân.

Nơi góc sân, một người đầu bạc trắng, dáng khoẻ mạnh đang cùng mấy chàng trai trẻ chuyển vận các bao bố căng đầy càphê và lạc. Tôi nhận ra Tân ngay và buột miệng:

- Chính hắn rồi! Còn đen nhẻm hơn Othello ngày trước nữa!

Cô em gái cười:

- Anh em khỏe lắm! Sáu mươi rồi mà vẫn làm quần quật. Sức trai theo còn mệt!

Mỹ Hạnh mở cửa xe xuống trước. Chúng tôi đi theo sau.

Thấy xe và người nhà, Tân thoáng nhìn rồi lại quay ra làm việc. Có lẽ anh tưởng chúng tôi là khách mua hàng.

Chúng tôi đã đến gần anh, cô em gái gọi:

- Anh Tân!

Anh ngẩng lên nhìn chúng tôi, tần ngần một chút rồi nói như thét lên:

- Ô! Tụi mày đấy à!

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau mừng rỡ.

Trên chiếc tủ thờ giữa nhà, chính diện là ảnh ông bà cụ phóng to và thấp hơn, nơi góc phải là ảnh của Ngọc – em trai út anh Tân: Chàng trai khỏe, đẹp, hồn nhiên, trên ve áo mang quân hàm thượng sĩ.

Chúng tôi thắp hương, kính cẩn khấn vong linh hai cụ và chú em đã vì Tổ quốc hy sinh. Từ sâu thẳm trong lòng tôi nghĩ: Nếu thật công bằng thì cả hai cụ đây cũng xứng đáng là liệt sĩ !

Bữa cơm trưa có đủ thứ rượu đặc sản của vùng cao: rượu thuốc, rượu sâm, rượu rắn, rượu dâu... Anh Tân bày ra năm bảy lọ:

- Ta ăn tạm bữa trưa đi cho đỡ đói. Chiều cô Tâm về sẽ vui hơn. Cô ấy đi dạy học trong bon, có xe máy đưa  đón sáng chiều. Cả ngày cô ấy lăn lóc với bầy cháu nhỏ hơn chục năm nay. Khắp huyện này ai cũng biết đến tên cô ấy. Họ khen mộc mạc: Cô giáo Hà Nội tốt lắm! Nghe cũng mát lòng!

Chúng tôi khen anh sức còn dẻo dai nhưng cũng thật thà khuyên anh nên cẩn trọng vì đã bước vào tuổi lục tuần rồi. Anh gật gù, chậm rãi:

- Kể ra thì đời mình cũng bảy nổi ba chìm, long đong lận đận! Chưa từng được lên voi nhưng đã từng xuống chó, dù là con chó đói mà vẫn tận tụy, trung thành. Trước đây mình làm nhiều nhưng hưởng chẳng bao nhiêu. Bây giờ làm nhiều là được hưởng cũng không đến nỗi nào. Phải tranh thủ để bù lại khoảng thời gian mất mát.

Tôi châm vào:

- Mất mát có nghĩa là vô tích sự?!

Anh nhìn tôi lắc đầu, tỏ ý không hài lòng. Anh nói chân tình:

- Suy cho cùng cũng không phải là vô tích sự vì có mất mát người ta mới hiểu ra. Coi như là một sự trả giá, người ít người nhiều. Đừng trách cứ làm gì! Dòng nước kia chảy cũng phải qua bao ghềnh thác huống chi cả một đời người. Mà trách cứ ai? Người nọ nối tiếp người kia, vừa hưởng vừa chịu những cái của lớp tiền nhân để lại. Cứ đem quá khứ ra mà gậm nhấm, mà oán hận lẫn nhau thì chẳng phải là đói rách, còn là tiêu vong nữa! Thời gian ủng hộ chúng ta mà. Còn sức, còn làm cho tới khi không làm được nữa thì mới chịu dựa vào con cháu!

Bữa cơm thật vui.

Chúng tôi – ba đứa bạn thân từ thời niên thiếu, xuất thân từ những hoàn cảnh khác nhau, trải qua gần bốn chục năm thăng trầm vật lộn với đời, giờ đây thành ba ông già tuy còn vướng bận với đời nhưng lòng vẫn hiểu lòng nhau, cùng ngồi điểm lại đời mình những gì còn mất và cùng chia sẻ với nhau những ly rượu nồng ấm, thân tình.

Chiều. Trời cao nguyên hơi lành lạnh, nhưng có bạn, có rượu, chúng tôi cứ thế nằm ngủ ngon lành trên bộ ván. Có lẽ anh Thanh không ngủ được, khoảng thời gian ngắn ngủi trong một buổi chiều thật là tội nghiệp với lòng anh khắc khoải.

 

Khi chiếc xe máy chở Tâm dừng lại và quay ra cổng, Tâm một tay mang túi xách, một tay chống nạng bước vào sân.

Tôi thấy nhói trong lòng: một nữ sinh Hà Nội, đẹp nổi tiếng một thời, bây giờ là một phụ nữ luống tuổi, đẫy đà, đang đi từng bước chậm chạp bất thường đến trước chúng tôi.

Tôi từ trong nhà chạy ra sân đỡ nàng.

Một thoáng ngạc nhiên nhìn tôi, nàng dừng lại rồi nắm chặt tay tôi, thốt lên như gặp điều kỳ lạ:

- Trời ơi! Sao còn có ngày được gặp nhau ở chốn này?

Tôi ôm choàng vai Tâm, hôn nhẹ lên mái tóc mà trên đỉnh đã nhiều sợi bạc như vỗ về một người em gái thân thương. Tôi đưa tay dìu nhưng nàng không chịu như đã quen tự lực bấy nay. Tôi cầm túi xáchh đi bên.

Bước qua thềm nhà nàng mới nhìn thấy người khách thứ hai.

Anh ngồi như tượng gỗ, mặt tái mét, đôi môi run run, hai giọt lệ lăn trên gò má!

Tâm nhìn anh sững sờ, chiếc nạng trên tay rơi xuống đất.

Tôi vội vã đỡ nàng. Cả tấm thân ấy đè nặng trên tay tôi.

Anh Tân vội vã giúp tôi dìu nàng vào nhà trong:

- Hãy để cô ấy nghỉ yên chút đã!

Mọi người đều mủi lòng trước cảnh ngộ này.

 

Sau bữa cơm chiều, trời đã tối. Trăng thượng tuần Đà Lạt xa xa, bàng bạc một màu như trăng thu Hà Nội.

Anh Thanh và Tâm ngồi tâm tình với nhau ở bàn ngoài sân trước.

Tôi và anh Tân ngồi kể sự đời và nhâm nhi uống trà Bắc với những hoa trái ở miệt cao phương nam này. Anh kể tôi nghe về những năm tháng long đong, lận đận của mình:

- Tôi vào Thanh niên xung phong, lên Tây Bắc. Anh đi bộ đội vào Nam. Mỗi đứa một cảnh nhưng đều gian truân. Tôi làm cán bộ văn hóa đi xây dựng phong trào bổ túc và dạy học. Tôi hăng hái miệt mài với cả tuổi trai tráng của mình. Được anh em tín nhiệm, yêu thương, tôi càng cố gắng. Năm 1970, tôi thi vào Đại học Bách khoa, có giấy gọi học, nhưng đơn vị lúc ấy thiếu người quá, nhiều anh em lại xung vào quân đội, tôi không nỡ bỏ bê phong trào mình đã gây dựng bấy lâu, cứ lần lữa mãi năm này qua năm khác. Năm 1973, tôi yêu và cưới cô giáo viên người Thái – Chị đã ngoài năm mươi mà nước da vẫn trắng ngần, đôi mắt đen láy. Chị ít khi tiếp diện với khách ngoại trừ khi nào cần lắm. Chị cứ quẩn quanh trong nhà, ngoài sân với công việc nội trợ của mình. Tôi thầm nghĩ: Tướng này giỏi thật! Sau đó đẻ liền hai đứa con trai. Bố tôi đặt tên cho các cháu là Nhân Trí và Nhân Tín. Cụ bảo rằng ở đời phải có TRÍ mới thành nghiệp và phải có TÍN thì mới bền lâu. Thằng lớn tôi phải phá ngang cho nó học Trung cấp Nông nghiệp để giúp tôi trước mắt. Bây giờ cháu là chủ lực ở nhà này. Cháu đang theo học lớp Bảo vệ thực vật hệ học từ xa của Trường Đại học Nông Lâm. Thằng thứ hai học giỏi, cháu đang học ở Úc theo diện đi học tự túc. Gần như thu nhập cả nhà đều tập trung vào cháu nên chúng tôi vẫn phải làm cật lực. Năm 1977 vào đây, sinh thêm hai cháu gái: Cháu Lâm Hà học Quản trị kinh doanh dưới Sàigòn, cháu Lâm Thái đang học lớp 12. Năm 1975 cha tôi mất, tôi xin chuyển về Hà Nội làm cán bộ công đoàn ở Phòng vận tải đường sông. Vợ tôi không chuyển được hộ khẩu nên ba mẹ con ăn theo vào tiêu chuẩn dân dã của cả nhà tôi. Bốn anh em đều lớn cả nhưng mới có tôi lập gia đình. Chúng tôi xin lại phần nhà dưới của nhà tôi nhưng người ta bảo nhà đang cho người ta ở, đòi lại thì họ ở vào đâu? Nhưng thực tế thì ông ta đã được Nhà nước cấp cho một căn hộ ở khu tập thể Thành Công, nhà của tôi thì con trai ông ấy ở! Nhà ở phố Hàng Đậu là cha mẹ tôi góp vốn vào công tư hợp doanh, nay cái hợp doanh ấy đã tan biến từ bao giờ, chúng tôi muốn xin lại nhưng không có chỗ nào giải quyết. Cuối cùng Ủy ban trả lời: với diện này Nhà nước chưa có chủ trương cụ thể! Biết kêu ai và chờ đến bao giờ?! Quá bức bách, chúng tôi đành nhường lại phần gác chúng tôi đang ở, nhà dưới họ chấp nhận liền! Năm ngoái, tôi có việc ra Hà Nội, ghé thăm phố cũ nhà xưa nhưng nay không còn dấu tích. Nó đã thành ngôi nhà kiến trúc tân kỳ năm tầng, là khách sạn ba sao! Thời đó, được năm, sáu cây vàng là lớn lắm, chúng tôi quyết định chuyển vào đây, cũng là do một anh bạn đi trước rủ rê. Lúc ấy ở thành phố khó khăn lắm. Tôi đánh liều mua 20 hecta đất. Đất có chủ quyền nhưng gần như hoang hóa. Làm tạm căn nhà tranh vách lá cả nhà đoàn tụ. Chỉ riêng mẹ tôi với chú Ngọc còn ở lại ngoài Hà Nội, trú tạm ở nhà bà dì vì nó đang học dở dang Trung cấp ở một trường kỹ thuật. Năm 1979, nó ra trường, lại đúng lúc Tàu đánh qua biên giới, có lệnh tổng động viên, người ta gọi nó luôn! Từ phía Bắc, đơn vị nó chuyển qua biên giới Tây Nam. Mẹ tôi lúc đó mới chịu vào đây. Năm 1981, nó hy sinh! Mẹ tôi héo hon sầu não, tôi tưởng cụ đi luôn hồi đó! Cụ mất cách đây ba năm. Cả hai mẹ con đều nằm ở lăng ngoài kia, có đặt cả bình tro hài  cốt của cha tôi nữa. Con đâu cha mẹ đấy mà! Mai tôi sẽ đưa các anh ra viếng mộ. May mà những năm ở Tây Bắc tôi học  được nghề nuôi ong. Mấy năm đầu vào đây, nhờ nó mà gia đình tôi qua được khúc gieo neo. Cả huyện này đều gọi tôi là ông Tân ong Bắc. Sản phẩm làm ra cô Mỹ Hạnh đi tiêu thụ. Thân gái dặm trường, nó ra vào xuôi ngược Bắc, Nam xoành xoạch. Trên đường mưu sinh anh chị gặp nhau. Cậu ta người Thanh Hóa, trung úy thời đánh Mỹ, phục viên, không nghề nghiệp, lặn lội kiếm ăn, tình cờ gặp gỡ rồi thành vợ chồng, bây giờ cũng ở cả đây. Đứa con gái Lâm Thanh, đứa con trai Lâm Xung – Nó bảo ở rừng mà không có một Lâm Xung thì khó sống! Từ đầu mình cứ lấy ngắn nuôi dài, cả nhà tần tảo, tích cốc phòng cơ. Bây giờ có cả một đồn điền hơn mười hecta cà phê mượt mà, còn lại thằng con tôi đang thí điểm trồng ca cao, hai cây ấy đi bộ đôi như cặp vợ chồng, trong nước dân càng giàu càng tiêu thụ nhiều, mà cả thế giới lúc nào cũng cần đến nó. Cho nên đất nước còn mở cửa thì mình không thể nào đói được,  chỉ trừ phi bế quan tỏa cảng thì lúc ấy sẽ chết chùm! Cửa hàng dưới thành phố để Mỹ Hạnh trông nom. Đó là đầu mối giao lưu, tiêu thụ.

Tôi nhìn anh thán phục, không ngờ cậu cả ngày nào chỉ  đàn xướng, thi ca. Tôi kể cho anh về cảnh ngộ của Thanh. Anh nói:

- Mình vẫn nghĩ cậu ấy là người tốt, có tài, có đức, có chí khí, lại cũng có gặp may nhưng không biết phát huy tác dụng! Suy cho cùng đều là số phận! Chỉ thương cô Tâm, một đời con gái! Vậy mà cô ấy cứng cỏi hơn mình, âm thầm chịu đựng đau thương! Cũng không ít người lân la đánh tiếng, là người lành lặn, đàng hoàng hẳn hoi mà cô ấy cứ lẳng lặng chẳng ừ, chẳng lắc! Chỉ miệt mài với mấy đứa nhỏ như người mẹ có một đàn con. Anh có dịp đi khắp vùng này, anh sẽ thấy mọi người lớn bé đều yêu mến, kính nể cô ấy tới mức độ nào! Là người anh mà mình cũng nể phục, coi như một tấm gương!

 

Thực lòng tôi thấy tiếc thương cho sự không thành của mối tình đa đoan ấy vì tôi không là kẻ bàng quan. Với cả hai người tôi đều quí mến, thương yêu, muốn có được chút gì tác động của mình. Nhân lúc ngồi nói chuyện riêng với Minh Tâm, tôi hỏi:

- Đến cơ nỗi này anh cũng chưa hiểu vì đâu? Tại sao bỗng dưng Tâm cắt đứt mọi dây liên hệ và ẩn mình biệt tích thế này?!

Nàng mới kể lại tôi nghe:

- Chuyện qua đã lâu rồi, em cũng đã già nên nỗi khổ đau đã nhạt đi nhiều. Anh Thanh cũng có hỏi em, em chỉ trả lời rằng: Em không muốn anh vướng bận! Vậy là lỗi tại em! Nhưng với anh thì em nói thật: Em biết anh Thanh là người con có hiếu rất kính cha, nể mẹ nên em không muốn anh ấy chịu thêm một nỗi đau về người sinh thành dưỡng dục của mình. Đó là điểm tựa cuối cùng của đời anh ấy.

Ngay từ lúc mới quen nhau em đã linh cảm thấy cha mẹ anh không muốn chấp nhận em vì các cụ muốn cho anh ấy hoàn toàn suôn sẻ trên con đường danh vọng được người ta ngụy danh dưới hai từ mới là: tiến bộ! Dù có thiện cảm với em về mặt nào đó nhưng em biết các cụ nghĩ rằng nếu em không là người cản trở thì cũng chẳng giúp gì được cho anh trên con đường ấy! Các cụ muốn con trai mình trên đường đi lên có thêm nhiều lực đẩy. Anh Thanh sẽ là người kế tục hay là kế nghiệp rất xứng đáng và có thể còn hơn thế nữa, các cụ đã thấy rõ trong tầm với. Em đã làm tất cả sức mình để có được một sự bình đẳng trong tình yêu vì em yêu anh ấy thật sự. Anh ấy nổi trội trong số các chàng trai đến với em lúc đó bằng tư cách rất chân thành, hoài bão của anh thật trong sáng. Một người con trai như vậy làm sao không hút hồn những cô gái mới lớn với những rung động đầu đời về một tình yêu mãnh liệt! Ngày anh ấy sắp hoàn thành luận án Phó tiến sĩ cũng là thời điểm cần thiết cho bước ngoặt của đời anh. Các cụ thấy đã đến lúc cần phải dứt khoát với mối tình của chúng em. Em vẫn ở trên Trại An dưỡng thương binh, vì về nhà cũng chưa biết làm gì. Em định xin đi học trường sư phạm nhưng các anh chị ở Trại bảo em khỏi cần học, đã có vốn văn hóa sẵn rồi, ở lại làm cô giáo cho đồng chí, đồng đội mình cũng tốt biết bao nhiêu, nghiệp vụ thì cứ vừa làm vừa học. Em nghe thấy có lý. Là trại viên an dưỡng nhưng em cũng được coi như là nhân viên của Trại, vui vẻ làm giáo viên Bổ túc văn hóa cho anh chị em cùng cảnh ngộ với mình.

Bà lên chỗ em hai lần, lần nào cũng đi chiếc xe Volga bóng loáng. Không ai biết chuyện tình cảm của em với anh Thanh, mọi người đều nghĩ em là cháu bà nên càng kính phục bà và quý nể em. Lần đầu, bà đem cho em cả chục mét vải đủ loại và bánh kẹo, thuốc tây đầy túi. Thời ấy là quý hiếm lắm. Bà cảm ơn những tình cảm tốt đẹp của em đối với anh Thanh và bà nói bóng gió rằng:

- Các bác đã chuẩn bị cả rồi. Thanh về bác lo ngay cho nó ổn định về mọi mặt để nó chỉ có một việc tập trung vào lo sự nghiệp. Bác chắc cháu cũng mừng cho nó!

Với em, điều ấy không có gì ngạc nhiên cả. Bây giờ là lúc dứt điểm đây. Các cụ thật tử tế: thẳng thắn và sòng phẳng đền ơn trả nghĩa cho con! Em chỉ đáp lại rằng:

- Vâng, cháu lúc nào cũng mong cho anh Thanh hạnh phúc!

Bà vui vẻ ra xe. Nhưng khi em đặt gói quà vào trong xe trả lại cho bà:

- Cảm ơn lòng tốt của bác, cháu đầy đủ cả rồi nên không cần đến những thứ này!

Nét mặt bà sầm  lại, hơi suy tư rồi bà nghiêm mặt nói như răn dạy:

- Cháu ạ, các bác đã hết lòng với cháu!

Đó là cách hết lòng của các ông bà ấy đấy! Chúng tôi hạ cố đến vậy, chị đã biết chưa? Chà, thật tinh vi và tế nhị. Nhưng thưa bà, tôi cũng có quyền không yêu con bà cũng như con bà có quyền không yêu tôi. Việc đó là của chúng tôi, không ai có quyền cấm cản, càng không có quyền đe nẹt! Cứ để xem sao. Đây là quyền yêu, quyền sống của chúng tôi. Tình yêu của chúng tôi hoàn toàn trong sáng, đã qua thử thách khắc nghiệt của cuộc sống và thời gian, không ai dễ gì dứt ra được đâu!

Lần thứ hai, để tăng thêm uy thế, bà đem theo người thư ký của ông. Anh thư ký đường hoàng chững chạc gặp Ban quản lý Trại và yêu cầu dành một phòng riêng để bà nói chuyện với em. Trước đó ít lâu, anh Thanh có thư về cho em, kể chuyện ông cụ qua bên ấy và hai cha con bất đồng với nhau về chuyện của chúng em và dặn: “Bây giờ cả anh và em  cùng bảo vệ tình yêu của mình”. Vào chuyện, không cần thăm hỏi, bà đi thẳng ngay vào chủ đề:

- Tôi xin thông báo với chị: gia đình tôi hoàn toàn không tán thành mối quan hệ giữa chị với con trai tôi!

A, vậy ra mâu thuẫn cha con nay trút giận vào tôi và bà thẳng thừng tuyên chiến trước! Đâu còn tình chi nữa? Hãy coi nhau như người xa lạ, càng hay:

- Thưa bác, cháu chưa hiểu bác định nói về mối quan hệ gì đây ạ? Nó tốt hay là xấu?

Em định dùng ngôi từ nhân danh xưng “bà” với “tôi” nhưng dù sao bao lâu nay đi lại mình vẫn tự coi như con cháu, cứ nhũn đi, dù bà có sai nhưng mình không phải là người tráo trở. Bà cười nhạt:

- Kể ra thì chị cũng khôn khéo thật, nhưng tôi nói thẳng: Yêu đương thì trai gái tự do nhưng tiến đến hôn nhân là không được lược quyền cha mẹ. Nền nếp nhà tôi xưa nay vẫn thế! Gia đìnhh chúng tôi đã quyết định hôn nhân cho anh Thanh với người xứng đôi vừa lứa con nhà môn đăng hộ đối rồi!

Bà đã xúc phạm đến tôi! Bà đã chà đạp lên tất cả mọi ranh giới. Nhưng để đến mức lành làm gáo, vỡ làm môi thì còn nói làm gì! Em giận run người mà vẫn phải kiềm chế lại:

- Thưa bác, đó là cái quyền đặc biệt của gia đình bác. Còn yêu ai và tiến tới hôn nhân với ai là quyền của riêng tôi!

Bà hết biết nói gì. Suy nghĩ một lúc, bà nói với giọng nhẹ hơn nhưng vẫn còn gay gắt:

- Nhưng tôi yêu cầu chị không được quan hệ với thằng Thanh nhà tôi nữa!

Tôi phải nẹt bà lại:

- Thưa bác, bác đã đi quá quyền hạn của mình. Điều ấy bác chỉ có thể đặt ra với con trai của bác!

Bà không còn nói gì được nữa, hầm hầm đứng dậy, bà buông một câu của người cùng đường, thất trận:

- Dù thế nào gia đình chúng tôi cũng không để thằng Thanh lấy cô làm vợ đâu! Đừng có mà cố đấm ăn xôi, xôi hẩm  đấy cô!

Không kiềm được nữa, tôi đứng bật dậy:

- Thưa bà, tôi sợ rằng chính bà sẽ là người được ăn xôi hẩm!

Bà te tái đi thẳng ra xe. Anh  thư ký ngồi gần đó nghe từ đầu đến cuối, trước khi ra theo bà, anh đến bên em nói giọng ôn tồn

- Thôi, cô thông cảm  cho tấm lòng người mẹ!

Em chạy về phòng, nằm vùi đầu vào đống gối chăn, nước mắt cứ trào ra. Em hiểu anh Thanh, anh ấy hiền nhưng một việc gì anh đã quyết định thì không ai cản được. Anh ấy yêu em thật sự, gia đình anh ấy không cản được đâu. Em nói điều ấy ra không phải là để trả miếng với bà, mà là sự thực, là con bà sao bà không hiểu hết?! Vậy thì chuyện tình này, quyết định chỉ ở em thôi! Đời mình đã bao nhiêu trắc trở, dù có nên vợ nên chồng thì cũng bao nhiêu đổ vỡ, đắng cay! Con người  ta sống còn có nhiều mối quan hệ nữa chứ, cái này ràng buộc cái kia. Thôi phận mình đã chẳng may, giờ lại lao vào vòng xoáy nước! Trước thì được đấy, nhưng sau rồi sẽ ra sa? Lòng em ngổn ngang trăm mối. Nhưng cứ hình dung ra nét mặt kẻ trên và cái giọng kênh đời của bà ấy, em không chịu được. Bà đã miệt thị tôi thì tôi cũng chẳng thương xót gì bà. Nào, cứ để xem ai là người thắng cuộc?!

Khoảng một tháng sau, ông cụ lên trại gặp em. Ông đi chiếc xe com măng ca và ăn mặc như một cán bộ bình thường. Xe đỗ từ ngoài cổng, một mình ông đi thẳng vào căn phòng tập thể của em. Ông vồn vã, vui vẻ, thăm hỏi thân tình từng người. Chuyện trò hồi lâu, ông đề nghị:

- Hai bác cháu ta đi bách bộ thăm Khu an dưỡng.

Ông khen cảnh, khen người, biết một số khó khăn ông hứa sẽ chuyển đạt tới những người có trách nhiệm để mong chóng cải thiện cho anh chị em thương binh – những người thiệt thòi nhiều nhất trong cuộc kháng chiến giữ nước của chúng ta!

Hai bác cháu ngồi nghỉ trên chiếc ghế ghép cây dưới một bụi tre ở chân đồi. Sau ít phút trầm ngâm, ông nói:

- Bác mới đi công tác xa về. Hôm nay bác lên thăm cháu và xin lỗi cháu. Bác gái nông nổi để cháu bất bình là đúng nhưng thôi cháu bỏ qua đi. Thực ra cháu là ân nhân của  gia đình bác, là người bạn tốt nhất của Thanh, gia đình bác hiểu rõ điều đó. Bác cũng cảm thấy giữa cháu và Thanh có mối cảm tình đặc biệt với nhau từ lâu, có đúng không cháu?

Em lặng thinh.

- Các cháu đã trưởng thành có học, lại sống trong gia đình có giáo dục, đã qua nhiều thử thách, có cách sống vững vàng, chững chạc, còn mong gì hơn thế?

Tự nhiên hai hàng nước mắt em chảy ròng ròng. Giọng ông vẫn đều đều thấm thía:

- Là cha mẹ ai cũng thương và mong cho con hạnh phúc bền lâu. Hạnh phúc này không phải chỉ là của riêng đôi lứa, cũng là hạnh phúc của cả gia đình, nhất là cha mẹ, cho nên mỗi người cần phải cân nhắc kỹ.

Em cố ghìm những cảm xúc của mình để lắng nghe lời ông:

- Cháu đã từng nói với Thanh trong tình yêu phải bình đẳng, đúng không?

Em gật đầu nhưng chột dạ.

- Về ý chí và nghị lực cháu có nhiều ưu điểm hơn Thanh nhưng về…

Ông ngần ngừ rồi nói chậm rãi, rõ ràng từng câu:

- Sức khỏe cháu ạ! Sức khỏe cũng là điều rất quan trọng trong đời sống vợ chồng!

Em giật mình: Ông đã đánh thẳng vào điểm yếu của em – đó chính là điều bấy lâu nay em bị giằng xéo, dày vò.

- Đã yêu thương nhau thật lòng thì phải biết sống vì nhau, hy sinh cho nhau, cháu ạ!

Và ông nói thẳng ra một lẽ đời:

- Phải chăm lo cho sự nghiệp của Thanh. Đấy là điều các bác lo lắng nhất, mong cháu hiểu cho!

Em như người chết lặng!

Anh có biết những người bị thương phải cắt đoạn chi không? Cái mỏm cụt hở toác ra, chưa được khâu lại, thịt xương còn trắng hếu, đỏ lừ, đầu dây thần kinh bị cắt chưa có gì bao che, vậy mà hàng ngày người y tá cứ xối nước rửa lên cái mỏm cụt ấy, mỗi lần miếng gạc chạm vào các đầu dây thần kinh chết tiệt ấy là nó nhói lên tới tận đỉnh đầu, đau điếng, cái chi tàn tật cứ nẩy tâng lên! Mỗi lời nói của ông cứ như một lần ai đó đập vào cái đầu dây thần kinh ấy! Em tái tê, mê mẩn. Trong trạng thái tâm thần ấy, ông nói như năn nỉ:

- Cháu hãy thông cảm với bác gái vì bác ấy đã hứa hẹn với một người bạn thân từ khi hai đứa còn đang đi học, hai gia đình đã coi nhau như một từ lâu. Bác cũng day dứt, suy tư lắm! Bác trông vào cháu. Mong cháu hãy thương Thanh, thương các bác!

Em không biết mình đã nói gì, chỉ nhớ ông đưa em trở về phòng và vui vẻ chào từ biệt mọi người.

Em như người bị vết thương tái phát, cái đau đớn hồi nào lâu rồi đã quên đi, giờ nó trỗi dậy còn đau gấp bội vì không còn phải là một cái chân đã mất, mà đang mất đi tất cả những gì mình đã cố công gây dựng, mất đi niềm hy vọng chứa chan là mất cả đời mình! Tinh thần em suy sụp, có lúc bi quan tưởng như đến bước đường cùng.

Đúng lúc ấy gia đình em tính chuyện bán nhà.

Sau này em mới biết rằng khi anh Tân em rao sang nhượng lại nhà, có người đến xem đặt giá bốn cây, trong khi anh Tân cứ nói đại sáu cây. Nhà dưới biết chuyện xin chấp nhận ngay, không bớt chút nào và “trồng” vàng ngay một lúc!

Khi bình tâm nghĩ lại, giá mà không có lá thư của anh Thanh chắc rằng em cứ mãi tin đó là sự hạ mình cầu xin chân thành của một người cha quyền cao chức trọng vì tương lai và hạnh phúc của đứa con mình!

Trên chuyến tàu vào Nam, em như người mộng du. Lần trước đi Btrên chiếc xe tải quân sự chật ních người và xóc lộn đi vào nơi khói lửa đạn bom chết chóc mà lòng phơi phới: đi vì một mục đích cao cả và đi để lột xác mình! Bây giờ cũng đi vào hướng Nam đây nhưng là đi chạy trốn tình yêu mà mình hằng mong đợi! Đi để tìm một cuộc sống cho cả gia đình mình đang bế tắc.

Bao nhiêu năm nay em vẫn chờ anh ấy. Những ngày đầu cồn cào, nung nấu tưởng như không chịu được. Nhiều lần em đã viết thư và cũng nhiều lần em đã xé đi những bức thư đẫm nước mắt. Em cứ ngỡ mãi cái ngày em đứng làm cọc tiêu bên ngầm trên đường Trường Sơn ngày ấy, trong đêm tối ầm ì tiếng đạn bom mà anh ấy vẫn nhận ra em! Bây giờ, giữa ban ngày em đi trên đường cái lớn rộng thênh thang, người xe nườm nượp, suốt bao ngày, bao tháng, bao năm, em vẫn chờ đợi một tiếng gọi thân quen: Tâm ơi!

Tôi thấy cay cay mắt. Tâm ngồi đấy,giọng nhỏ nhẹ, nét mặt buồn buồn. Tôi nắm tay Tâm như nắm tay người em gái yêu thương, thông cảm và tôi gạt đi nỗi buồn, nói câu vui vui, an ủi:

- Thôi, coi như bão tố qua rồi! Bây giờ là lúc Thúy Kiều–Kim Trọng tái hồi đây!

Yên lặng hồi lâu, Tâm nói:

- Kim–Kiều là tái hồi chứ đâu tái hợp! Thời xuân trẻ, tình yêu cần thiết phải có sự sống chung. Bây giờ già rồi, điều cần hơn cả là sự chung ý, chung tình!

Tôi nói một câu vun vào lửng lơ :

- Vậy thì tái hồi hay tái hợp đều đúng cả!

Tôi phải về thành phố trước.

Trong bữa cơm chia tay, mỗi chúng tôi còn lộ vẻ xúc động bồi hồi. Anh Tân nói như động viên hết cả:

- Thôi, chuyện quá khứ cho qua! Cái gì hay giữ lại. Cái gì dở bỏ đi. Chúng mình già rồi, phải sống để cho con cái nó tin, nghĩa là phải sống thật. Hình như ông Diderot có nói: “Cái lợi của sự dối trá chỉ trong chốc lát. Cái lợi của sự thật là vĩnh viễn”!

Trước lúc lên xe, tôi kéo anh Thanh lại:

- Ông phải trả nợ cho tôi khổ thơ sau của Tế Hanh đi! 

Anh ghé sát tôi, đọc nhỏ chỉ tôi nghe được: “Anh tìm em khắp nơi / Đến nơi này mới gặp / Anh tìm em suốt đời / Đến bây giờ mới gặp”!

Chúng tôi nắm chặt tay nhau cười sung sướng!

 

VỀ VỚI CỘI NGUỒN:

Từ đấy, tôi có nhiều dịp đến với các bạn tôi.

Anh Thanh đã xin chuyển công tác từ một Viện lớn ở trung ương về Phòng ây dựng của huyện. Chuyện nói ra chẳng ai tin vì sao lại có chuyện ngược đời như thế. Vậy mà cũng không suôn sẻ, mới hay lòng  dạ người đời. Anh kể cho tôi nghe:

“Tôi có món nợ lớn với Tâm, phần đời còn lại tôi phải trang trải cho xong! Trách nhiệm với xã hội thì vô cùng nhưng sức người có hạn. Trong khoa học dừng lại nghĩa là lùi. Anh em trẻ bây giờ tiếp cận rộng lắm nên sức bật của họ rất mạnh. Không thiếu gì người làm được việc của mình. Vả lại, làm việc theo cơ chế mới không dễ dàng đâu. Đừng tưởng thoáng mà làm bừa. Nhưng nếu cứ đắn đo lưỡng lự, suy  trước tính sau thì mất thời cơ, lỡ việc. Lớp chúng mình bao nhiêu năm làm việc trong thời bao cấp, bây giờ nới ra như gà mắc tóc! Ngày nay người ta làm việc sòng phẳng lắm, suy hơn tính thiệt đủ điều, không như thời mình nghĩ hụt chỗ này, đầy chỗ khác, cơm chung một nồi chẳng thiệt đi đâu. Xưa rồi! Cho nên làm việc theo kiểu đúng chủ trương, chờ chỉ thị, được tới đâu hay tới đó là không hợp thời nữa rồi! Nhiều khi phải táo bạo như tướng ngoài biên ải, trảm trước tấu sau, dễ thành dễ bại. Ngán lắm! Song có điều tự rời bỏ cái ghế ấy vào thời buổi này là một việc bất thường. Ở một viện đầu ngành quan trọng trong thời cuộc đang mở cửa và phát triển thế này: đủ các cuộc hội họp, giao dịch đó đây, người ta thay nhau đi nước ngoài như cơm bữa; bao nhiêu các hợp đồng chỉ cần một chữ ký là đã có tỷ lệ phần trăm thích đáng không cần phết phẩy.

Thực ra tôi chẳng cần gì. Bố mẹ, vợ con tôi chẳng phải lo. Bản thân tôi cũng không đến nỗi nào. Tôi có hỏi Minh Tâm, nàng bảo:

- Anh hãy làm vì anh chớ đừng vì em!

Tôi có thể làm được gì cho nàng? Cái đã mất đi làm sao lấy lại! Vâng, tôi làm vì tôi thật sự. Tôi có biên thư hỏi ý vợ tôi, cô ấy trả lời:

- Suy cho cùng, việc ấy cũng chẳng ảnh hưởng gì tới mẹ con em !

Gia đình tôi biết chuyện, mẹ tôi hỏi:

- Anh điên à?!

Ông anh tôi nói:

- Thằng gàn!

Em trai tôi bảo:

- Ông anh sám hối để thành Phật sống cho cả nhà hưởng lộc. Lộc trần, lộc thánh gia đình mình có đủ!

Cô em gái tôi khuyên:

- Anh nên nhớ rằng người đời bây giờ kỳ lắm, họ quỳ lạy năm mớ vạn bái đấy mà họ có tin gì đâu, họ cứ làm theo ý họ!

Cha tôi vẫn cẩn trọng như xưa:

- Bố đã làm tất cả vì các con. Nay con đã đủ khôn để tự quyết định cho mình!

Ở cơ quan người ta nghĩ tôi bị bệnh tâm thần! Có người cho là tôi chán đời muốn đi ở ẩn!

Bỏ ngoài tai những định kiến và những lời thị phi ấy cũng nhức nhối lắm rồi. Nhưng khi đặt vấn đề với địa phương đâu phải dễ! Họ đắn đo suy nghĩ chán. Họ tìm hiểu xem mình có bị kỷ luật gì không? Có phải là anh hay đấu đá bị thất trận tới cùng kỳ bí? Rồi là mình có học hàm, địa vị cao, lương còn hơn cả lãnh đạo địa phương thì sắp xếp thế nào? Mình thanh minh không nổi! Nhờ có anh Tân đã nói thật chuyện của mình với Tâm nên họ rất nhiệt tình. Vậy chính là Minh Tâm đã bảo lãnh cho tôi về đây!

Anh nhận làm chuyên viên ở Phòng xây dựng huyện.

Với tài trí của anh cùng những mối quan hệ rộng rãi, anh làm được nhiều việc và được nể vì. Nhưng anh cuốn hút mọi người ở chỗ anh làm việc miệt mài, say sưa, như đã lấy lại được sinh khí của thời trai trẻ. Anh tâm tình:

- Tuổi trẻ phải có hoài bão lớn nhưng lúc luống tuổi cần thiết thực. Mình đã từng mơ ước được xây dựng tiếp con đường Trường Sơn hiện đại nhưng suy cho cùng không ai xuyên suốt được thời gian. Mỗi người chỉ có một khoảng thời gian ngắn ngủi để hoàn thành sứ mạng của mình. Bây giờ mình làm việc nhỏ: coi như nối mạng con đường lớn tới từng buôn sóc và trên mạng đường ấy hàng ngày Tâm cùng những học trò bé nhỏ yêu thương hôm sớm đi về…

Có lẽ đó là nguồn vui và niềm an ủi của anh. Anh sắp xếp có thời gian hàng ngày đưa đón Tâm đến trường dạy học, tới những mái nhà hẻo lánh trong nương rẫy, nơi có những học trò nghèo khó cần cô Tâm giúp đỡ.

Anh dựng một căn nhà ngói ba gian ngay trong khuôn vườn của anh Tân. Nhà anh ít khi vắng khách: bạn bè xuôi ngược, bà con chòm xóm, những cán bộ chức sắc địa phương qua lại bàn chuyện xây dựng và phát triển vùng quê mới. Người ta gọi nơi đó là Câu lạc bộ đa hệ, mỗi người hiểu theo ý của mình: là nơi hội tụ người ở mọi lứa tuổi, đủ mọi ngành nghề giới chức và bàn về nhiều lĩnh vực liên quan thiết yếu tới đời sống hàng ngày của người dân ở đây. Bộ ba Tân–Thanh–Tâm là linh hồn của Câu lạc bộ. Mọi người đều chung một ý, chung một nỗi suy tư và cùng xoay trở để có được bốn mạng lưới: Đường xá, Điện nước, Trường học và Trạm y tế – gọi là  ĐIỆN – ĐƯỜNG – TRƯỜNG – TRẠM. Đó là điều kiện tiên quyết để quê hương họ đi lên. Các anh còn kêu gọi người hùn vốn xây dựng cơ sở chế biến hàng lâm thổ sản loại nhỏ và vừa. Anh Tân nói

- Người trực tiếp sản xuất có nhiều nỗi khổ: Mùa vụ thất thu thì đói! Được mùa lại bị o ép nhiều bề! Để yên tâm cho người sản xuất vừa phải mở rộng thị trường vừa phải có cơ sở chế biến để không bị động. Dù thời thế giờ đã khác rồi, nhưng ta vẫn là người nghèo, phương châm thời kháng chiến: Từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ nhỏ đến to vẫn là cơ sở để mình đi lên vững chắc.

Thúy Liễu mỗi lần về nước cũng lên đây. Cô ít nói, vẻ mặt luôn bình thản, ít biểu lộ vẻ buồn vui nhưng ẩn sau là những nét suy tư sâu lắng, mắt đăm đăm nhìn xa, không hiểu cô đang chú ý lắng nghe và phân tích hay là cô để những lời nói đó thoảng qua. Ít khi cô bộc lộ chính kiến của mình.

 

Tiếng con chim cu văng vẳng khi gần, khi xa trong buổi trưa tĩnh mịch. Khung cảnh ấy thật hiếm hoi quý giá với những người thành phố phải sống nơi ồn ào náo nhiệt suốt ngày đêm. Trong ngôi nhà là Câu lạc bộ thôn dã này, đung đưa trên cánh võng, tôi đắm mình trong cái không khí thoáng đãng, u tịch, cảm thấy lòng mình nhẹ tênh, thanh thản. Góc kia, Thúy Liễu và anh Thanh, người đọc sách, người cặm cụi với bản vẽ trên bàn. Không một tiếng động, dường như không ai dám khuấy động sự yên tĩnh giăng mảnh như tơ này.

Tiếng lọc cọc đều đều cùng với bước đi lẹt xẹt từ ngoài sân đã phá tan bầu không khí ấy. Minh Tâm tay phải chống nạng, tay trái dắt đứa bé trai liệt nửa thân bên trái khó nhọc bước lên thềm. Anh Thanh nhanh nhẹn ra dìu cháu bé đỡ Tâm. Vừa thấy tôi, cô lộ vẻ mừng rỡ như gỡ được mối lo canh cánh

- May quá anh ơi! Mẹ cháu bé này lên cơn động kinh nặng lắm, anh đi giúp em với!

Cháu bé vẻ mặt khôi ngô, đôi mắt đen lanh lẹn, thân hình mảnh dẻ, lại thêm tay và chân trái teo đét, lòng thòng, đứng nép bên Tâm càng cảm thấy cháu mỏng dính như con cá ép! Tôi đoán cháu trạc mười ba, mười bốn tuổi. Lời nói của Tâm như một yêu cầu giúp đỡ khẩn thiết cho bản thân cô. Cả ba chúng tôi vội vàng ra lấy xe máy chở Tâm và cháu bé cùng đi.

Con đường đi vào bon xa khá rộng và có những kè đá giữa hai chân đồi làm giảm bớt độ dốc nên xe đi khá dễ dàng. Nhìn kè đá và dòng nước chảy dưới khe, tôi nhớ đến những ngầm đá ngày xưa và nghĩ thầm:

- Những kinh nghiệm một thời dù đã qua nhưng vẫn là điều có ích!

Xe chúng tôi dừng tại sân ngôi nhà gỗ nhỏ hai gian xinh xắn. Bóng cây trùm mát rượi. Bước vào căn nhà bài trí đơn sơ nhưng gọn gàng, sạch sẽ nhưng vắng lạnh. Trên giường một thiếu phụ nằm chân tay co quắp, cứng đờ, mắt ngước lên trần nhà chỉ thấy đôi tròng trắng không động đậy, nước miếng sùi nọt trắng chảy thành dòng hai bên mép, mớ tóc lòa xòa trên vầng trán bệch bạc đẫm mồ hôi, chăn chiếu xô lệch. Dường như đã quen với cảnh này. Tâm chỉnh trang giường chiếu, lau sạch sẽ và sửa lại tư thế nằm cho người bệnh. Cô nói vẻ ái ngại:

- Lâu lâu chị ấy lại lên một cơn như vậy, có khi ngã ở ngoài đường, ngoài sân rất nguy hiểm. Anh xem có thể nào chữa khỏi hẳn được không?

Trong khi Tâm và cháu nhỏ lúi húi ở dưới bếp, sân sau, tôi kiểm tra và khám xét toàn thân người bệnh. Anh Thanh giải thích:

- Thằng bé là học trò cưng của cô Tâm, cô ấy thương cháu lắm. Chị này là mẹ cháu và cũng là cô giáo, phận hồng nhan đa truân lắm!

Tâm đã làm được một chén nước lá thuốc nam. Đứa bé trèo lên giường, cầm thìa đổ từng chút thuốc cho mẹ uống. Tâm ngồi bên cầm khăn lau những giọt thuốc chảy ra ngoài và thoa bóp khắp chân tay cho người bệnh nóng lên. Cô nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:

- Chứng này gọi là động kinh, phía Nam bà con gọi là bệnh phong xù. Nguyên nhân của nó có thể là tổn thương thực thể ở não bộ hoặc có thể xảy ra sau một chấn thương tinh thần mạnh. Dù là nguyên nhân nào thì việc chữa chạy hiệu quả cũng chưa chắc chắn!

Tâm chép miệng, giọng buồn rầu như muốn chia sẻ với nỗi đau của người bệnh nằm đây:

Vậy là chịu hả anh? Đời cô ấy đa đoan lắm!

Vừa chăm sóc thuốc thang cho người bệnh, Tâm vừa kể cho chúng tôi nghe về một thân phận má hồng trong cơn gió bụi:

- Con gái Sàigòn đấy. Ngày trước thương yêu một chàng sinh viên sĩ quan Đà lạt, đã bỏ đô thành lên cao nguyên theo tiếng gọi của tình yêu. Tháng 4 năm 1975, trong cơn hỗn loạn, mạnh ai nấy chạy. Chờ chàng không thấy, quay về Sàigòn cũng chẳng biết chàng đâu! Lỡ đã mang bầu với chàng nên không dám về nhà! Bơ vơ hoảng hốt ở Sàigòn, gặp mấy sỹ quan bạn của người yêu đang lẩn trốn cải tạo, chưa biết nương tựa vào đâu, họ rủ nhau lên Tây Nguyên nhập vào tổ chức FUNRO. Thân gái trong đám loạn quân đành phận sang ngang lỡ bước! Cái thai đầu bị sẩy! Cô được gã cầm đầu một nhóm bảo bọc, bao che. Gã này vốn là thiếu tá thủy quân lục chiến, trên đường tẩu tán vượt biên bị ta bắt giam ở Hàm Tân, anh ta vượt trại về Sàigòn thì vợ đã qua tay một viên sĩ quan đồng đội. Hận tình. Anh ta tìm lên Tây Nguyên nhập với FUNRO để có quân, có súng, có chỗ nương thân chờ ngày trả hận! Mối tình gá nghĩa trong rừng, cô ấy sinh ra một quái thai: không chân tay, đầu chỉ là một cục thịt đầy lông lá! Từ đấy cô ấy lên cơn hoảng loạn thần kinh như một người điên! Trên đường lẩn tránh, bọn  phỉ bỏ cô ấy bơ vơ đói khát trong rừng, may gặp đồng bào dân tộc đem về Bệnh viện Tâm thần Đà lạt. Cô ấy như người ngớ ngẩn, bỏ đi lang thang ngoài phố chợ. Tuy vậy, trông cô vẫn hiền lành, sạch sẽ, không quậy phá, may gặp được người quen thương tình đem về nuôi. Cô ấy phụ giúp công việc gia đình, có khi giúp việc chợ búa nhưng hay lên những cơn động kinh còn dữ hơn thế này, nhiều lần tưởng chết. Viên thiếu tá lang bạt trong rừng chả làm nên tích sự gì, tàn quân tan tác, y lén về Đà Lạt định trốn về xuôi, tình cờ gặp cô ta ngoài chợ. Lỡ đã gá nghĩa đèo bồng, giờ tuy cô thân hình tàn tạ, xác xơ nhưng gã kia cũng muốn có nơi nương dựa, hai người đem nhau về vùng này làm cái chòi ở mãi trong rẫy, như người miền dưới sa cơ lỡ vận lên đây làm kinh tế, lần hồi sống qua ngày, chưa biết tương lai liệu sẽ về đâu. Không hiểu sao bọn FUNRO biết được, cho người về lôi kéo anh đi. Anh ta lẩn tránh nhiều lần, cuối cùng cũng không thoát đươc. Bọn chúng bắt đem đi, ít ngày sau thấy xác quăng ở cửa rừng, khắp mình đầy vết đạn! Khi ấy cô đang mang thai thằng nhỏ này, chứng động kinh dồn dập, lúc tỉnh lại như người ngơ ngẩn. Bà con quanh đây tìm đến cưu mang. Thằng nhỏ này sinh ra đã mang tật từ trong bụng mẹ. Hồi ấy chưa mấy ai quan tâm đến chuyện dị hình của trẻ sơ sinh. Gần đây báo chí nói nhiều đến tác hại của chất độc màu da cam, cô ấy liên hệ vào con? Suốt đời lính, bố nó thường đi càn quét, lùng sục ở vùng rừng đước Cà Mau rồi quanh ra Vùng Một, Vùng Hai chiến thuật, là những nơi người Mỹ rải nhiều thuốc độc diệt cỏ để quân giải phóng hết nơi ẩn nấp, dễ bề tiêu diệt!.

Thằng bé 16 tuổi rồi mà ai cũng nghĩ nó là con nít! 9-10 tuổi đầu mới được cắp sách tới trường. Hận đời, mẹ nó đặt tên là Trường-Hận! Hồi đó có khai sanh, khai tử gì đâu. Đến trường, em xin làm giấy khai sinh cho cháu, mới bàn với cô ấy sửa tên là Trường Hạnh, mong cho đời cháu được tốt lành, thù hận mãi làm chi! Lúc đầu nó nhút nhát và sợ mọi người lắm, như nó không muốn cho ai thấy cái thân tàn tật. Biết gia cảnh cháu gieo neo, em tìm đến nhà thăm. Cô ấy mặc cảm cứ lánh mặt hoài. Lâu dần hai chị em thông cảm với nhau. Biết được cô ấy từng qua những nỗi đoạn trường lại càng thương mẹ con cô ấy. Cả hai mẹ con yếu đuối ốm đau luôn, ngày ngày chỉ trông vào gánh hàng rau sang tay rong ruổi khắp chợ cùng quê, vừa cực vừa chẳng đủ ăn. Em nghĩ cô ấy đã có bằng Tú tài, ở đây đang thiếu giáo viên, em vừa động viên cô ấy ra dạy học vừa thuyết phục để lãnh đạo địa phương chấp nhận. Lúc đầu khó cả hai đằng: một bên thì mặc cảm không dám có mặt trước đám đông người, một bên thì còn khe khắt và định kiến với những người liên quan đến ngụy. Cũng không nên trách họ, vì suốt mấy mươi năm chiến tranh, vùng rừng núi, nông thôn mới thực sự là nơi chiến địa, mỗi người dân từng thường xuyên chứng kiến bản chất man rợ của kẻ tội phạm chiến tranh, nỗi đau của họ sâu đậm lắm, làm sao quên được. Em phải vận động mãi mới xong. Từ ngày ra làm cô giáo, cô ấy gần gũi với mọi người, được các cháu học sinh và bà con chòm xóm quí mến, mọi người góp của góp công làm cho hai mẹ con căn nhà gỗ này. Xem ra cô ấy đã yên phận với cuộc sống bình lặng ở đây. Bệnh tình lâu lâu, khi trái nắng trở trời đặc biệt mới phát ra, năm một, hai lần. Gần đây người ta nói nhiều đến tai họa của chất “dioxin” trong thuốc diệt cỏ mà người Mỹ đã rải ở Việt Nam. Cô ấy lo cho con liệu có bị biến cố bất kỳ? Hoặc như cháu được gặp may thì liệu có khả năng di truyền mãi về sau? Cô ấy thương con nên hoang mang lo sợ, xem ra những cơn động kinh có dày hơn trước. Thằng bé hiền lành, ít nói nhưng sáng dạ và sống tình cảm lắm.

Nét mặt người đàn bà nằm đó dần tươi lại, da mặt chị không còn vẻ căng thẳng vô hồn và trên vẻ mặt thanh tú xanh xao phảng phất nét đẹp thời con gái đã hiện dần lên vẻ hiền hậu dưới những nếp hằn khổ đau, cam phận. Đôi mắt đen mệt mỏi nhìn Tâm hàm chứa sự biết ơn.

Chúng tôi ngồi đấy, lặng lẽ suy tư…

Chiến tranh qua đã lâu rồi nhưng trong ngôi nhà nhỏ vẻ thanh bình thơ mộng này những vết thương chiến tranh vẫn hành hạ những con người bình dị, thơ ngây. Hai người phụ nữ ở hai đầu đất nước, với những nỗi đau khắc khoải một đời và đứa nhỏ sinh ra khi đất nước đã hòa bình nhưng trong dòng tuần hoàn vẫn âm ỉ một mầm chết chóc!

Thúy Liễu xoay mặt ra phía cửa, kín đáo lau sạch đi những dòng xúc cảm. Tôi nhớ tới lời nhận xét của anh Thanh: Cô là sự mâu thuẫn của lòng vị tha đầy trắc ẩn với những nhu cầu thiết thực của đời thường!.

 

Dịp này trên huyện tổ chức Đại hội mừng công cuối năm. Các bạn rủ tôi cùng đi dự.

Những người lao động xuất sắc đáng biểu dương, trên ngực được gắn bông hồng to đỏ chói. Các bạn tôi ngồi lẫn trong số ấy, vẫn khiêm nhường giản dị. Những người tiêu biểu báo cáo hiệu quả công việc của mình rất cụ thể, kèm theo con số thu nhập hàng năm đều có tăng lên. Mọi người xuýt xoa, vỗ tay hưởng ứng nhiệt tình. Ông Chủ tịch tươi cười:

- Chúng ta khuyến khích mỗi người làm giàu chính đáng. Dân giàu nước mạnh! Ai có của, có sức cứ mạnh dạn làm ăn. Ai có công mà ít vốn thì hùn hạp liên kết với nhau cùng làm. Chúng tôi sẽ trợ vốn cho những dự án thích hợp, khả thi. Trước hết, chúng tôi tập trung lo: Đường sá thuận tiện tới từng thôn sóc. Điện đến từng nhà và mở rộng mạng lưới thông tin. Chúng tôi ưu đãi và khuyến khích các nhà đầu tư đến với chúng tôi. Chúng tôi ý thức được rằng mỗi người dân của chúng ta có no cơm, ấm áo; mỗi cháu nhỏ đều được cắp sách đến trường; mỗi người khi ốm đau đều được thuốc thang chữa trị tận tình; mỗi gia đình có một mái ấm yên vui –   Đó là cơ sở để đồng bào tin yêu và tín nhiệm chúng tôi!

Cả hội trường vỗ tay không muốn dứt.

Người ta giới thiệu nhà doanh nghiệp Việt kiều. Thúy Liễu bước lên diễn đàn, giọng run run, xúc động:

- Thưa quí vị! Vì tôi sống nhiều năm ở nước ngoài nên trở thành kiều! Giờ đây tôi chỉ xin được là một đồng bào cùng quí vị! Vâng, đúng là có đi xa mới biết dân mình còn quá nghèo, quá khổ! Nhưng cũng nhờ đó mới biết tấm lòng của đồng bào mình đáng quí, đáng trọng biết bao nhiêu! Và hôm nay, ở đây, tôi vừa ngạc nhiên vừa sung sướng thấy bà con mình công khai trao đổi với nhau về cung cách làm ăn, cùng bàn cách giúp nhau thoát cảnh đói nghèo để vươn lên làm giàu chân chính. Tôi xin được góp vốn đầu tư cùng quí vị ở đây trong lĩnh vực thông tin điện tử, dẫu rằng lãi suất tuy có thấp hơn nơi khác. Ngày nay, tin học là người trợ thủ đắc lực trong kinh doanh và sản xuất. Hẳn có vị đặt dấu hỏi: Tại sao tôi chọn một huyện chưa phát triển để đặt vào đó vốn liếng của mình? Lý do thật rõ ràng và đơn giản: Vì quê hương của quí vị rất trù phú mà khai thác chưa được bao nhiêu, vì ở đây tôi đã chứng kiến sự đồng lòng từ người dân thường đến các vị quan chức đều muốn bằng sức mình biến đổi quê hương từ nghèo khó trở thành giàu có và nếu như có một chút riêng tư đặt ngoài lợi nhuận thì đó là từ thâm tâm tôi muốn làm một việc gì thiết thực chung sức, chung lòng với những người tôi hằng kính trọng và thương yêu nhất đang dốc toàn tâm toàn lực cùng các quí vị xây dựng sự nghiệp trên mảnh đất này.

Trong tiếng vỗ tay vang dậy, từ hàng ghế đầu danh dự, Minh Tâm dắt cháu Trường Hạnh đi lên diễn đàn. Hai người với ba cánh tay và một đôi chân, dìu dắt nhau như hai mẹ con, hân hoan, chững chạc, tự tin, mang những bông hoa tươi thắm trao cho Thúy Liễu. Thúy Liễu dang rộng vòng tay ôm chặt hai người đó vào lòng. Ba mái đầu chụm sát bên nhau yêu thương, thông cảm. Đôi vai Thúy Liễu rung lên...

Nhìn vẻ vui mừng phấn chấn của mọi người, tôi nghĩ rằng ngoài chúng tôi là những người thân thích, cả mấy trăm con người đang có mặt ở đây hôm nay chỉ biết Tâm là một cô giáo thương binh, đầy lòng nhân hậu với học sinh của mình, cùng chia sẻ vui buồn với cuộc đời của chúng. Cô đã cảm hóa được nhiều người bởi lòng vị tha và nhân ái. Nhưng đã mấy ai hiểu được và chia sẻ cùng cô những đau thương, mất mát một đời?!

Tôi quay sang nhìn anh Thanh ngồi bên ghế Tâm bỏ trống: đôi hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống hai gò má sạm pha màu nắng gió, tay anh đập mạnh hòa chung nhịp vỗ với mọi người. Tôi thấy lòng mình trào dâng niềm cảm xúc, tất cả mọi hình ảnh trước mặt tôi mờ nhòa, hư ảo, tôi nghe như rào rào tiếng sóng reo vui, lòng tôi ngất ngây, sung sướng được cùng với các bạn tôi chia sẻ những thương đau và những niềm vui hạnh phúc...

 

NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ

 Thành phố HỒ CHÍ MINH

 – 1998 –

 

Tác giả 

NGUYỄN VĂN THỊNH

Sinh tại Hà Nội – Bác sỹ Y khoa

Hội viên Hội Nhà văn TPHCM

ĐT: 08/38 943279 – DĐ: 01278505858

EMAIL: nguyenvanthinh1940@gmail.com

Tác phẩm:

- OAN NGHIỆT (tiểu thuyết)

NXB Thanh niên – 2002

- PHÚT THĂNG HOA (tiểu thuyết)

NXB Thanh niên –  2005

- THỜI BI TRÁNG (tiểu thuyết)

NXB Hội NVVN – 2011

- HÀ NỘI BỂ DÂU (truyện ký)

- MỘT CHUYỆN TÌNH (tập truyện)

NXB Văn nghệ TPHCM – 1998

- CHỊ TÔI (tập truyện)

NXB Thanh niên – 2000

- LÁ THƯ CỦA NGƯỜI TỬ TÙ (tập truyện)

- NGƯỜI CỦA MỘT THỜI (tập truyện)

NXBVăn hóa-Văn nghệ TPHCM-2016

 - HẠNH PHÚC TÌM ĐÂU – Kịch nói

(VTV trình diễn 2007)

- HOÀNG HÔN MÀU DA CAM – Kịch nói

(VTV trình diễn 2008)

- OAN TÌNH (Nguyễn Thị Lộ – Ngàn thu

bạc mệnh một đời tài hoa) – Kịch nói  

- Y ĐẠO (GsBs.HỒ DẮC Di) – Kịch nói

- THƠ & TẠP VĂN

 

 

   

Link http://sachhiem.net/VANHOC/N/NguyenvThinh_NCMTc.php