Lý Công Uẩn Với Chiếu Dời Đô

 

Phạm Quốc Sử*

http://sachhiem.net/LICHSU/P/PhamQuocSu.php

 30-Jul-2021

Lý Công Uẩn sinh ngày 12 tháng Hai năm Giáp Tuất (974), mất ngày 3 tháng Ba năm Mậu Thìn (1028). Ông người làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, nay là làng Dương Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, từ 3 tuổi làm con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Văn (chùa Cổ Pháp), sau làm tiểu ở chùa Lục Tổ (còn gọi chùa Tiêu Sơn, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn) do Thiền sư Lý Vạn Hạnh trụ trì. Nhờ hai vị thiền sư nổi tiếng họ Lý trực tiếp nuôi dạy, Công Uẩn đã trở thành một thanh niên tuấn tú, văn võ song toàn, được sung vào đội quân cấm vệ triều Tiền Lê (980-1009). Về sau ông trở thành một trong những nhân vật trụ cột của nhà Tiền Lê, làm quan đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1009, sau khi vua Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) qua đời, với sự ủng hộ của các thiền sư (đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh), Lý Công Uẩn được các quan trong triều đương thời (đứng đầu là quan Chi hậu Đào Cam Mộc) suy tôn làm vua vào ngày Quý Sửu, tháng Mười, lập ra nhà Lý, lấy năm sau (1010) làm niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất. Trong 20 năm ở ngôi (1009-1028), ngoài những cống hiến quan trọng, có ý nghĩa cải cách đối với đất nước trên nhiều phương diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa…, Lý Công Uẩn đã có một đóng góp mang tầm vóc lịch sử vô cùng lớn lao, đó là việc ông quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (Thăng Long). Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) ra đời trong hoàn cảnh ấy, trở thành tác phẩm tiêu biểu nhất cả về nội dung và hình thức cho thể loại văn chiếu và có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học cổ dân tộc.

 

Ảnh https://vietnam.vnanet.vn/

Vương triều Lý thành lập, công lao đó trước hết thuộc về Thiền sư Lý Vạn Hạnh - bậc cao tăng giữ vai trò cố vấn chính trị tối cao đối với nhà Tiền Lê, một người “đa mưu túc trí” và đặc biệt nhạy cảm với thời cuộc. Ngay từ khi Công Uẩn còn nhỏ, ông đã phát hiện ra ở cậu bé những phẩm chất đặc biệt và nhận xét: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”[1] .

Có lẽ cũng từ sự phát hiện đó, Thiền sư Lý Vạn Hạnh đã cùng với Thiền sư Lý Khánh Văn (em trai ông, cũng là bậc cao tăng có uy tín đương thời) dày công dạy dỗ, chuẩn bị cho Lý Công Uẩn những phẩm chất và năng lực cần thiết, rồi đưa vào triều làm một chức võ quan khi Công Uẩn mới 20 tuổi.

Vốn là người có sức khỏe, thông minh, trung hậu và chí lớn, Lý Công Uẩn ngày càng được vua Lê tin dùng và có uy tín trong triều. Sự kiện có ảnh hưởng quan trọng đối với sự thăng tiến của Lý Công Uẩn đó là năm 1005, vua Lê Đại Hành qua đời, các hoàng tử lao vào cuộc tranh ngôi, đánh nhau suốt 8 tháng trời. Thái từ Long Việt vừa lên làm vua được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết đi để đoạt ngôi. Khi Long Việt bị giết, những kẻ bề tôi thân cận đều hoảng sợ bỏ chạy, duy chỉ có một người ở lại, ôm lấy xác vua mà khóc. Người đó là Lý Công Uuẩn. Cảnh tượng ấy đã lọt mắt Lê Long Đĩnh, người chủ mưu cuộc sát hại, nhưng Long Đĩnh không giết Công Uẩn, mà còn khen là người “trung”, tin dùng và phong cho ông chức Tứ sương quân Phó chỉ huy sứ, sau thăng đến Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ [2] .

Bản lĩnh và phẩm chất trung hậu rõ ràng cũng đã giúp cho Lý Công Uẩn gặp thuận lợi trên hoạn lộ. Và, trong khi hầu hết bá quan văn võ trong triều lẫn chúng dân đều đã chán ghét nhà Tiền Lê; trong khi ông vua “Ngọa Triều” Lê Long Đĩnh ngày càng sa đọa và lâm bệnh nặng, thì trong dân gian, những bài “sấm” kỳ lạ, những bài kệ có tính chất sấm truyền xuất hiện. Những bài sấm, bài kệ đó đều được Thiền sư Lý Vạn Hạnh đọc lại và cắt nghĩa cho Lý Công Uẩn nghe (mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đều là do Vạn Hạnh làm ra). Để khích lệ Lý Công Uẩn sẵn sàng tinh thần nắm giữ ngôi báu, Thiền sư Vạn Hạnh nói: “Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại nắm binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa”[3] . Rồi những cuộc vận động ngầm trong triều của quan Chi hậu Đào Cam Mộc - một người quyết đoán và chịu ảnh hưởng của Vạn Hạnh,…Tất cả đều nhằm chuẩn bị dư luận và hậu thuẫn tích cực cho Lý Công Uẩn mọi điều kiện để có thể kế vị ngai vàng. 

Ngày Tân Hợi tháng Mười năm Kỷ Dậu (1009), Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn với vai trò Tả thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ cùng với Nguyễn Đê, Hữu thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ, mỗi người cầm đầu 500 quân Tùy long vào cung canh giữ. Giữa lúc tình hình trong triều diễn biến khẩn trương và đặc biệt nghiêm trọng, Đào Cam Mộc nói với Lý Công Uẩn: “Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che dấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm chiều. Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì nữa?” Công Uẩn nói: “Tôi đã hiểu rõ ý ông, không khác gì ý của Vạn Hạnh” [4] . Đó cũng là lý do để ngai vàng khó có thể lọt khỏi tay nhân vật vốn đã được giới sư sãi và các quan lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ủng hộ.

Vì vậy, ngay sau khi Lê Long Đĩnh mất, quan Chi hậu Đào Cam Mộc đã cùng với những người chủ sự họp bàn, chuẩn bị cho Lý Công Uẩn đăng quang. Ngày Quý Sửu, tháng Mười năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn chính thức lên làm vua, lập ra nhà Lý. Cuộc chuyển giao quyền lực từ họ Lê sang họ Lý nhìn chung đã diễn ra một cách êm thấm, hòa bình. Một triều đại mới, mạnh mẽ và tiến bộ hơn đã thay thế cho triều Tiền Lê vốn đã suy bại từ nhiều năm trước. Đất nước bước vào thời kỳ phục hưng và phát triển.

Nguồn gốc “Nhà chùa” và tư tưởng từ bi, bác ái của Phật giáo chắc chắn đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách và chính sách cai trị của Lý Thái Tổ. Nhận xét về ông thời kỳ ở ngôi, các sử thần nhà Lê sau này viết: “Vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã, có lượng đế vương” [5] .

Công việc đầu tiên của Lý Thái Tổ ngay sau khi lên ngôi là đại xá cho thiên hạ, mở cửa nhà ngục, xóa bỏ những luật lệ hà khắc, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết. Tiếp đó, truy phong cho cha mẹ, sắp đặt lại bộ máy nhà nước, phong chức tước cho những người có công với việc lập ngôi, cho những người ruột thịt trong hoàng tộc và ban y phục cho các tăng đạo.

Trong quá trình xây dựng vương triều Lý ở buổi đầu, các Thiền sư Vạn Hạnh và Khánh Văn vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Lý Khánh Văn được phong làm Quốc sư. Còn về Thiền sư Lý Vạn Hạnh, cho đến nay tại chùa Thiên Tâm (tức chùa Tiêu Sơn, Lục Tổ) vẫn còn bia đá Lý gia linh thạch, tượng đồng (Thiền sư Vạn Hạnh) và bài vị ghi rõ: “Lý triều nhập nội tể tướng Lý Vạn Hạnh, thiền sư thần vị”[6].

Một trong những công việc quan trọng trong buổi đầu thiết lập vương triều, cũng như trong toàn bộ sự nghiệp của Lý Thái Tổ đó là việc dời đô. Nhận thấy thành Hoa Lư chật hẹp, “không đủ làm chỗ ở của bậc đế vương”, ngay từ khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã quyết định tìm đất để lập đô mới.

***

Trong lịch sử nước ta, kể từ nhà nước đầu tiên - Nhà nước Văn Lang cho đến nhà nước phong kiến Lý, đã diễn ra nhiều cuộc định đô và dời đô, phản ánh những yêu cầu khác nhau của từng thời kỳ lịch sử.

Thời kỳ Văn Lang, các vua Hùng định đô ở đất Văn Lang (hay Phong Châu, nay là vùng Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ) đánh dấu việc hoàn thành chặng đường đầu tiên của công cuộc “xuống núi” của cha ông ta và cắm mốc cho sự hình thành quốc gia dân tộc. Trong bối cảnh lịch sử đất nước cách đây trên dưới 2.500 năm, đó là một sự lựa chọn đích đáng, bởi kinh đô Văn Lang nằm ở đỉnh của tam giác châu thổ Bắc Bộ, nơi hợp lưu của ba con sông (sông Lô, sông Hồng, sông Đà), kinh tế, cư dân phát triển, giao lưu với các vùng, miền trong nước thuận lợi. Văn Lang không chỉ xứng đáng là đầu não chính trị của cả nước, mà còn đóng vai trò một trung tâm kinh tế, một trạm dịch - trung chuyển các sản vật từ miền thượng du xuống vùng hạ bạn và ngược lại, quyết định không nhỏ đến sự phát triển của đất nước ở buổi ban đầu.   

Thế kỷ III trước Tây lịch, Thục Phán An Dương Vương dời đô xuống miền Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Đây là cuộc dời đô lần thứ nhất, từ miền trung du xuống vùng trung châu đồng bằng, phản ánh xu thế phát triển đi lên của dân tộc. Cổ Loa xứng đáng là kinh đô đất nước ở thời kỳ mới, khi mà cha ông ta đã đủ điều kiện để chiếm lĩnh vùng châu thổ phì nhiêu và tiến ra biển, hoàn thiện một mô hình quốc gia dân tộc dựa trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước.

Thời kỳ Bắc thuộc (179 trước Tây lịch -  938 ), nước mất, kinh đô không còn, nhưng các đô thị trung tâm của đất nước vẫn hình thành. Ở nửa đầu thiên niên kỷ I, các đô thị trung tâm đó chính là Luy Lâu, Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh). Đến nửa sau của thiên niên kỳ này, vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước dưới ách cai trị của các nhà Tùy, Đường lại thuộc về Tống Bình - Đại La. Tuy vậy, nền cai trị của chính quyền Hán tộc chưa bao giờ bình yên và có đến 2 lần bị chia cắt bởi các cuộc khởi nghĩa giành độc lập của nhân dân ta, dẫn đến sự ra đời của kinh đô Mê Linh[7] của Hai Bà Trưng vào những năm 40-43 và kinh đô nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế giữa thế kỷ VI.

Đáng lưu ý là việc lập đô của Lý Nam Đế (tức Lý Bí). Khi mới khởi binh chống ách đô hộ nhà Lương, khí thế rất mạnh, quân khởi của Lý Bí tiến đánh thành Long Biên, khiến Tiêu Tư (Thứ sử Giao Châu) hoảng sợ, phải chạy về Quảng Châu. Thành Long Biên nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Ninh ngày nay, trong khu vực Thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong. Thành Long Biên từ khi Lý Bí chiếm được (năm 542) đã trở thành trung tâm của lực lượng khởi nghĩa. Năm 544, tháng Giêng, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Nam Việt Đế (sử gọi là Lý Nam Đế), đặt niên hiệu là Thiên Đức, lập triều đình trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diên (nay thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Nội), dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Như vây, vùng đất trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ (tức Hà Nội ngày nay) một lần nữa (từ sau cuộc định đô của An Dương Vương ở Cổ Loa) trở thành đất lập đô của các vương triều độc lập.

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đánh bại quân Nam Hán, năm 939 Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, kinh đô nước Âu Lạc xưa. Khu vực Hà Nội lần thứ 3 được trở thành đất đế đô, và Cổ Loa cũng là kinh đô đầu tiên của nước ta ở thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập. Tuy nhiên, nền thống nhất quốc gia chưa thật sự bền vững và việc định đô ở vùng đất trung tâm đồng bằng vẫn chưa ổn định. Năm 944, Ngô Quyền mất, chính quyền nhà Ngô suy yếu, các phe phái phong kiến nổi lên “tranh bá đồ vương”. Nhờ có Đinh Bộ Lĩnh “dẹp loạn”, chấm dứt tình trạng cát cứ, nền thống nhất đất nước mới được tái lập.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế (sử gọi là Đinh Tiên Hoàng Đế), đặt quốc hiệu là Đại Việt[8] , xác lập kinh đô mới ở Hoa Lư (khu vực xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình ngay nay), xây cung điện, chế triều nghi và định phẩm hàm cho bá quan văn võ.

Vai trò quốc đô của Hoa Lư tuy không dài (42 năm), nhưng cũng trải suốt hai triều đại Đinh (968-979) và Tiền Lê (980-1009). Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Nhà vua trước đóng kinh đô ở thôn Đàm nhưng vì ở đây đất chật hẹp lại không có thế hiểm, nên mới dựng kinh đô mới ở Hoa Lư …[9]. Như vậy, một trong những lý do để Đinh Tiên Hoàng chọn vùng đất Hoa Lư lập đô đã được sử cũ chỉ ra, đó là: không quá chật chội, và chủ yếu là có thế hiểm yếu.

Cũng bởi thế, kinh đô Hoa Lưu trước hết là một quân thành, đúng hơn, là một căn cứ phòng thủ. Dân tộc vừa ra khỏi đêm trường Bắc thuộc và hiểm họa ngoại xâm vẫn còn thường trực; các vương triều Đinh, Tiền Lê đều vừa non trẻ, vừa mới mẻ. Tất cả đều khiến ông cha ta không thể không tính đến việc phòng thủ. Không những thế, ở nước ta thế kỷ X chính là một thế kỷ từ đầu đến cuối “rền vang tiếng trống trận và ngựa hí quân reo”. Tất cả các thập kỷ và tháng năm của nó đều căng thẳng, sôi động với những kế hoạch và diễn biến bạo lực. Trong bối cảnh ấy, khi mà nền thống nhất quốc gia chưa vững chắc, khi mà chính thể trung ương tập quyền chưa thật sự vững mạnh, người ta rất cần một vùng đất lập đô, có thể không rộng lắm, nhưng phải có khả năng phòng thủ. Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập kinh đô Hoa Lư, và Lê Hoàn, người tiếp tục sử dụng Hoa Lư làm kinh đô - đều là những nhà quân sự lớn. Bởi thế, không lấy làm lạ khi các ông đều lựa chọn Hoa Lư và khai thác vùng đất này từ lợi thế quân sự.

Trên thực tế, địa thế tự nhiên của Hoa Lư đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu phòng thủ đó. Những dãy núi đá vôi hiểm trở, quây gần kín, khoanh lại vào trong lòng núi một thung lũng khá bằng phẳng. Chỉ cần kết nối bịt kín kẽ hở giữa các dãy núi bằng những đoạn hào lũy là có ngay được một vòng thành lợi hại, bảo vệ vững chắc cho các cung điện, kho tàng, doanh trại,… được xây dựng bên trong. Thành Hoa Lư rộng khoảng 300 hécta, chia làm hai khu vực: Khu thành Ngoại và khu thành Nội, với tất cả 10 trường thành nhân tạo. Nặng về khía cạnh phòng thủ, nhưng Hoa Lư vẫn có những điều kiện nhất định về giao thông để liên lạc với các vùng miền trong nước, đảm bảo vai trò của một kinh đô.

Về đường bộ, Hoa Lư nằm giữ hai tuyến đường quan trọng bậc nhất của nước ta thời ấy, đó là con đường cổ thiên lý mã ở phía Đông (nay là quốc lộ 1A) chạy dọc dài đất nước, cách kinh thành chừng 5 km chiều ngang; và con đường thượng đạo (đường Lai Kinh) cũng rất cổ, có trước cả đường thiên lý mã, chạy trên các triền núi phía Tây, nối miền Bắc với miền Trung đất nước, được sử dụng cho đến tận thế kỷ XVIII mới bị sạt lấp. Hồi thế kỷ X, từ Hoa Lư đều có các đường ngang nối với các tuyến đường cổ nói trên. Năm 967, chính Đinh Bộ Lĩnh đã kéo quân từ Hoa Lư qua Đồng Chiêm, Hang Nước (sát Hương Sơn) tới Đỗ Động (Thanh Oai) để đánh dẹp sứ quân của Đỗ Cảnh Thạc bằng con đường cổ phía Tây.

Về đường thủy, một con sông cổ với nhiều tên gọi: Đại Hoàng, Thủy Tiên, sông Điềm…song phổ biến nhất là vẫn tên gọi Hoàng Long, chạy ngang qua thung lũng Hoa Lư và trở thành tuyến đường thủy quan trọng bậc nhất nối liền quốc đô với các địa phương. Theo sông Hoàng Long có thể ngược lên miền núi, đên tận miền biên giới phía Bắc đất nước, hay xuôi về biển. Năm 990, chính các sứ thần nhà Tống từ đất Trung Hoa đã theo theo đường biển vào sông Bạch Đằng, qua sông Luộc, nhập sông Đáy (ở Phủ Lý) rồi đến cửa sông Hoàng Long (ở cầu Gián Khẩu) và theo sông này mà tới kinh thành Hoa Lư yết kiến vua Lê Đại Hành. Một nhánh sông Hoàng Long là sông Sào Khê (Khe Sào) chảy uốn lượn vào kinh thành. Tương truyền, cũng từ bến Sào Khê này, vua Thái Tổ nhà Lý đã giong thuyền về Đại La, mở đầu cho cuộc dời đô vĩ đại vào năm 1010.

Từ kinh thành Hoa Lư, bằng đường thủy có thể theo sông Chanh vào sông Trường, sông Vân mà ra biển ở các cửa Đại Hoàng, cửa Tiểu Khang, cửa Càn, cửa Thần Phù..., gần hơn cả con đường theo sông Hoàng Long ra sông Đáy rồi cũng ra biển. Ra tới biển thì ngược lên Bắc hay xuôi vào Nam cũng đều thuận lợi.

Như vậy, kinh thành Hoa Lư nằm giữa hai trục đường bộ xuyên Việt, lại gắn với mạng lưới sông ngòi, bởi thế dù nằm sâu trong nội địa, giữa một thung lũng núi đá vôi hiểm trở nhưng vẫn dễ dàng liên lạc với mọi miền.

Giao thông cũng giúp cho Hoa Lư có điều kiện nhất định để phát triển kinh tế đô thị. Trong kinh thành không có khu dân cư với các phường nghề và chợ búa, song phần “thị” của Hoa Lư lại nằm bên ngoài thành, nơi bến sông Hoàng Long với kho tàng, bến bãi, thuyền bè và hoạt động buôn bán tấp nập. Khảo cổ học đã tìm thấy chứng tích về khu dân cư và các hoạt động buôn bán ở mạn sông Hoàng Long, đoạn giữa chân núi Nghẽn và chùa Bà Ngô, cách trung tâm thành Hoa Lư khoảng 2 km, dưới độ sâu độ sâu từ 1 đến 3-4m. Đó là các đồ đất nung và gốm tráng men, tiền cổ, gạch: “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, “Giang Tây quân”…, gáo múc kim loại (dùng cho lò nấu đồng), dấu vết của thóc, gạo, xương voi, ngựa (động vật chuyên chở),…

Về phong thủy, thành Hoa Lư có núi Trường Yên phía trước làm tiền án, núi Đại Vân phía sau làm hậu chẩm, có hệ thống núi đá xung quanh bao bọc, địa thế vững chãi.

Như thế có nghĩa là Hoa Lư cũng có đủ điều kiện để thực hiện vai trò của một kinh đô. Đó cũng là lý do chủ yếu để Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư làm kinh đô, và các vua tiền Lê về sau vẫn lấy nơi này làm quốc đô cho triều đại mình.

Thế nhưng, một vấn đề đặt ra: Rằng tại sao Hoa Lư đáp ứng được yêu cầu lập đô của các vị vua sáng nghiệp nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhưng lại không thỏa mãn yêu cầu của vị vua sáng nghiệp nhà Lý? Câu trả lời ở đây là: Vấn đề thời đại. Yêu cầu của các vua sáng nghiệp không đơn thuần chỉ là yêu cầu của cá nhân, dòng tộc, mà còn là yêu cầu của thời đại. Bước sang đầu thế kỷ XI, sau 3 triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê có vai trò đặt móng xây nền cho nền độc lập, nhưng khi sự thống thống nhất quốc gia đã tương đối ổn định, đất nước cần phải bước sang thời kỳ mới, phục hưng và cất cánh. Lý Thái Tổ cùng với các vị quân sư của ông (như các Thiền sư Vạn Hạnh, Khánh Văn…) đã nhìn ra yêu cầu lịch sử ấy. Để thực hiện được yêu cầu mới của lịch sử, vấn đề đặt ra là phải tìm được vùng đất mới để đóng đô, khả dĩ thực hiện tốt hơn vai trò của môt trung tâm đất nước ở thời kỳ phát triển. Kinh đô mới không chỉ là đầu não về chính trị, mà còn là đầu mối về kinh tế, nơi hội tụ văn hóa và khí thiêng sông núi; không chỉ lợi về đối ngoại mà còn phù hợp với triết lý giữ nước mới trong kháng chiến chông ngoại xâm, chứ không chỉ dùng làm căn cứ thủ hiểm cho các cuộc nội chiến như ở thời kỳ trước đó. 

Vậy đâu là vùng đất lý tưởng cho Lý Thái Tổ dựng đô mới, xác lập vị thế cao hơn cho triều đại của ông và cho nước Đại Việt? Đó chính là vùng đất Đại La, trung tâm của tam giác châu thổ Bắc Bộ, rất gần với châu Cổ Pháp quê hương của họ Lý-dòng họ đang nắm ngai vàng.

Như đã trình bày, vùng đất trung tâm của châu thổ Bắc Bộ (tức Hà Nội ngày nay) từ thế kỷ III TCN, thế kỷ VI, thế kỷ X đã từng là đất đóng đô của lần lượt các triều An Dương Vương, Lý Nam Đế và Ngô Vương. Các cố đô Cổ Loa (của nhà Thục, nhà Ngô), Ô Diên (nhà tiền Lý) đều nằm kề cận đất Tống Bình-Đại La. Khoảng những năm 454-464 thời Bắc thuộc, huyện Tống Bình ra đời, cùng với trị sở của nó là thành Tống Bình. Có tài liệu cho rằng Lý Nam Đế đã từng cho xây dựng một tòa thành bằng tre gỗ ở ven sông Tô Lịch, khu vực thuộc về huyện Tống Bình.

Tuy nhiên, cho đến hết thời thuộc Tùy (581-619), đầu thời thuộc Đường (618-907), cơ quan quyền lực cao nhất của chính quyền Hán tộc ở nước ta vẫn đóng ở thành Long Biên (trị sở Giao Châu). Năm 766, sau khi nhà Đường thành lập An Nam Đô hộ phủ, phủ Đô hộ mới được chuyển từ thành Long Biên về thành Tống Bình. Từ đây, thành Tống Bình có điều kiện để phát triển, trở thành đô thị lớn nhất của nước ta thời bấy giờ.

Năm 767, Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cho khởi công xây dựng thành mới tại Tống Bình, gọi là La Thành, cao 2 trượng 2 thước, tức 7,70 mét. Thành có cửa ở ba hướng: Hướng Đông và Tây mỗi hướng có 3 cửa, mỗi cửa đều có lầu; hướng Nam có 5 cửa. Trong thành xây 20 tòa nhà. Năm 808, Kinh lược sứ Trương Châu lại sửa sang La Thành, xây thêm 30 gian nhà có lầu để chứa trên 300.000 khí giới.

Năm 866, tự coi như đã hoàn toàn bình định được An Nam, nhà Đường đổi nước ta từ Đô hộ phủ (An Nam đô hộ phủ) thành Tĩnh hải quân, ngang hàng với các đơn vị hành chính cùng cấp khác của Trung Hoa, phân biệt với các vùng đất thuộc địa, ngoại vi như An Bắc, An Đông, An Tây. Cao Biền được cử sang làm Tiết độ sứ, đã cho sửa sang, mở rộng La Thành với quy mô lớn hơn để làm thủ phủ Tĩnh hải quân. Từ đó La Thành được gọi là Đại La Thành.

Theo Lĩnh Nam chích quái, khi thành vừa đắp xong, một buổi sớm Cao Biền dạo xem phía cửa Đông thì bỗng thấy trời nổi cơn giông gió rất mạnh, khí đất ngùn ngụt bốc lên, ánh sáng chói lòa. Một dị nhân áo màu sặc sỡ, dáng điệu phi thường, cưỡi con rồng đỏ lơ lửng giữa mây khói, khí bốc một hồi lâu mới tan. Biền kinh sợ, cho là ma quỷ, muốn thiết đàn để cầu cúng. Đêm ấy, Biền nằm mộng thấy có thần nhân đến nói rằng: “Ông đừng có nghi ngờ, ta không phải là yêu khí đâu. Ta là Long Đỗ Vương Chính khí thần. Vì muốn xem kỹ thành nên mới hiện ra đó thôi!”. Biền tỉnh dậy, hôm sau họp đám dưới quyền than rằng: “Ta không khuất phục được người phương xa chăng? Đến nỗi để cho loài ngoại quỷ dòm ngó điều không hay của mình ru!”. Có người khuyên Biền lập đàn và dùng sắt nghìn cân đúc tượng theo hình dạng thần nhân để làm bùa yểm. Biền y theo kế đó. Vừa đọc thần chú bỗng trời đất mù mịt, mưa gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn và bay tan tác lên không trung. Biền sợ hãi, từ đấy có ý muốn về phương Bắc. Người đương đời lấy làm lạ, bèn lập đền thờ thần nhân ở mạn phía Đông thành. Cũng từ đấy, thành Đại La còn có tên gọi khác, đó là thành Long Đỗ, tên của vị thần cai quản tòa thành.

Truyền thuyết nói trên cho thấy rằng, cái vượng khí đế vương (hay cái ý chí độc lập) của nước Nam ta (tượng trưng là thần Long Đỗ) còn mạnh lắm, lấn át cả cái tà khí phương Bắc, khiến cho Cao Biền vốn là nhà phong thủy, đồng thời cũng là một phù thủy cao tay của Trung Hoa phải hoảng sợ. Một khi cái vượng khí đế vương còn mạnh thì nước nhà sẽ có cơ hội độc lập, Đại La sẽ trở thành quốc đô.

Từ khi chế độ Bắc thuộc chấm dứt (năm 938), trong vòng hơn 70 năm (939-1010), thành Đại La chỉ còn là một “đô thành cũ”. Không có cơ quan cai trị nào đóng tại đây cho đến trước khi vua Lý Thái Tổ lấy đất này lập đô mới cho nước Đại Việt.

Trở lại vấn đề lập đô của Lý Thái Tổ, để có quyết định dời đô ra Đại La, ông đã có chuyến khảo sát kỹ tòa thành này trước khi quyết định lựa chọn làm quốc đô mới và ban Chiếu dời đô.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: “Ngày xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, [10], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?[11].

Xét trong lịch sử của nước ta, mặc dù đã diễn ra nhiều cuộc thiên đô, nhiều sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn, nhưng chưa có sự kiện nào có được một công bố thiêng liêng và giàu ý nghĩa như Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ. Đó thực sự là văn bản có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển về sau của đất nước và là một tác phẩm có giá trị trên nhiều lĩnh vực: Sử học, chính trị học, địa lý, triết học, văn học…

Ở góc độ sử học, đó là sự ghi nhận một bước chuyển giao của lịch sử, từ thời kỳ củng cố, xây đắp nền tảng cho nền độc lập và thống nhất quốc gia sau hơn một ngàn năm đất nước bị đô hộ, sang thời kỳ phục hưng và phát triển toàn diện. Đó cũng là văn bản đầu tiên xác nhận vùng đất Thăng Long với vị thế của một kinh đô và xác nhận sự kiện mở đầu cho toàn bộ lịch sử phát triển của tòa kinh đô cổ kính và lâu đời vào bậc nhất Đông Nam Á này.

Ở góc độ chính trị học, Chiếu dời đô có thể được xem như một cương lĩnh về phát triển đất nước, một tuyên cáo về quan điểm trị nước, cũng như phương pháp chính trị của người đứng đầu nhà nước khi tiến hành một sự nghiệp lớn. Bài Chiếu gồm ba nội dung chính:

Trong phần mở đầu, Lý Thái Tổ dẫn việc dời đô của các nhà Thương, Chu, hai triều đại nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, để nói rằng việc dời đô đã có tiền lệ, xuất phát từ yêu cầu khách quan, “không phải theo ý riêng mà tự tiện chuyển dời”. Trên bước đường xây dựng một quốc gia phong kiến hùng mạnh “bất tốn Hoa Hạ” (không thua kém Trung Hoa) thì sự thịnh trị của các triều đại Thương, Chu thời Tam đại chính là tấm gương để giai cấp phong kiến Việt Nam noi theo. Yêu cầu khách quan của việc dời đô đó là “mệnh trời” và” ý dân”, kết hợp với mục đích “mưu nghiệp lớn” và “làm kế cho con cháu muôn vạn đời”. “Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi…”.

Đó chính là quan điểm, là phương pháp chính trị và phương châm hành động của người làm vua, biết nắm lấy cái “thiên thời” và cái “nhân hòa”, là sự linh hoạt hành động, không câu chấp nếp cũ đã lỗi thời. “Mưunghiệp lớn”, “làm kế cho con cháu muôn vạn đời”chính là nói đến mục đích cuối cùng của việc dời đô, việc trị nước.

Trong phần tiếp theo, bài Chiếu nhận xét và phê phán hai triều đại Đinh, Tiền Lê vì câu chấp nếp cũ, coi thường mệnh trời, cứ đóng mãi ở nơi chật hẹp mà vận số ngắn ngủi, triều đại không dài, trăm họ hao tổn, muôn vật không được hòa hợp.

Hoa Lư là vùng đất bằng phẳng, nhưng chật hẹp và bị bao vây bởi các núi đá dựng đứng, ra vào bằng độc đạo. Rõ ràng đó là địa thế hiểm yếu, lợi về phòng thủ và đã phát huy tác dụng ở thế kỷ X trong việc ngăn chặn các thế lực chống đối muốn tiến đánh kinh thành. Từ Hoa Lư, các vua Đinh, Tiền Lê cũng đã nhiều lần phát quân dẹp loạn và chinh phạt Chămpa thắng lợi. Đặc biệt, thế thủ hiểm của Hoa Lư đã giúp cho Lê Hoàn có được lòng tin vững chắc khi phát quân chặn đánh giặc Tống ở phía Bắc, giành chiến thắng trong trận đại thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 981. Song, thế thủ hiểm của Hoa Lư chỉ phát huy tác dụng trong thời loạn, và cái “ưu điểm” đó đã biến thành “nhược điểm”, thành trở ngại cho việc xây dựng và phát triển vương triều, phát triển quốc gia, dân tộc.

Không những thế, hai triều Đinh, Tiền Lê đóng đô ở nơi thủ hiểm nhưng lại luôn tồn tại nguy cơ phản loạn. Loạn không phải từ ngoài đánh vào, mà là từ trong dòng họ thống trị, từ nội bộ triều đình. Cảnh vua - tôi, cha - con, anh - em dòng hoàng tộc nghi kỵ nhau, ám hại nhau để giành giật ngôi báu liên tục xảy ra. Đinh Liễn giết em là Thái tử Hạng Lang trong lúc vua cha (Đinh Tiên Hoàng) còn sống, rồi Đỗ Thích là bề tôi trong cung lại giết cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn; Lê Đại Hành vừa mất thì ba hoàng tử lao vào đánh nhau, tranh giữ ngai vàng, rồi Lê Long Đĩnh giết anh là Lê Long Việt mới lên ngôi ba ngày để tự mình làm vua,... Thực tế đó khiến một người làm vua có lương tri, luôn nung nấu cho số phận dân tộc như Lý Thái Tổ phải đau lòng. Đó là cái lý do bắt buộc để vị vua sáng nghiệp vừa mới lên ngôi phải nghĩ đến việc dời đô. Ông viết: “Trẫm rất đau đớn, không thể không dời”. Bởi thế, khác với các triều Đinh, Tiền Lê, quan điểm lập đô, dời đô của Lý Thái Tổ là không chấp nê thói cũ, mà “nếu có chỗ tiện thì dời đổi”. Cũng không xuất phát từ mục đích phòng ngự, mà bắt đầu từ sự mong muốn làm sao "để vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh".

Trong phần ba, bài Chiếu đề cập đến những lợi thế của thành Đại La, nơi được lựa chọn để lập đô mới: Từng là “đô cũ của cao Vương”, tức là đã được lịch sử khẳng định, lại ở trung tâm của đất nước, bốn bề bát ngát, thế đất cao mà bằng phẳng, sông núi tiện nghi sau trước, phong thủy đắc dụng, muôn vật tốt tươi, phồn thịnh, đáng là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương. Đề cập đến những điều này, tác giả của bài Chiếu, tức vua Lý Thái Tổ tỏ ra có kiến thức rất uyên bác về địa lý, phong thủy, và đến đây, với tư cách của một nhà chính trị có tầm nhìn lớn, ông đã hội đủ cả ba điều kiện cho cuộc chuyển đô, đó là: thiên thời, địa lợi và nhân hòa“Thiên thời”, đó là “mệnh trời” (trên kính mệnh trời); “địa lợi”, đó là đã chọn được nơi “thắng địa” (thành Đại La); và “nhân hòa”, đó là “ý dân” (dưới theo ý dân). Một khi đã hội đủ cả ba điều kiện ấy, thử hỏi công cuộc thiên đô còn có điều gì trở ngại (!). Tuy nhiên, yếu tố “nhân hòa” là yếu tố lòng người, cần có thời gian để chuyển biến nhận thức, bởi thế nhà vua tỏ ra khá kiên trì, câu cuối cùng của bài Chiếu còn đặt ra câu hỏi: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”, để bá quan văn võ, để muôn dân được đóng góp ý kiến, và tự trả lời. Phải chăng, đó là “thủ pháp chính trị” vừa khôn ngoan, vừa chân thực ít người có được, nhất là ở bậc đế vương.  

Ở góc độ địa lý học, bài Chiếu chỉ ra những hạn chế lớn về mặt địa thế của cố đô Hoa Lư đã gây nên hậu quả: “…thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp”, đồng thời nêu lên cái ưu thế, cái “đắc địa” của Đại La: “Huống chi thành Đại La,…ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Đây rõ ràng là phương pháp phân tích và so sánh rất lợi hại được vận dụng khéo léo trong bài Chiếu để tạo ra sức thuyết phục.

Đáng lưu ý là kiến thức về địa lý, bao gồm cả kiến thức phong thủy và tinh thần của nó quán xuyến toàn bộ nội dung bài chiếu. Điều đó phản ánh đúng tính chất của một bài chiếu dời đô là trước hết và chủ yếu phải nói đến yếu tố “địa lợi”. Nếu không có yếu tố này thì “ý chí” của con người sẽ không có kết quả, có thể còn đi đến làm trái với “mệnh trời”.

Đi xa hơn các kiến thức về địa lý thông thường, bài Chiếu còn thể hiện khả năng phân tích và tầm nhìn lớn của Lý Thái Tổ về vấn đề phong thủy của vùng đất lập đô. Thông thường, trong ý thức phương Đông truyền thống, tất cả các công trình kiến trúc đều phải đảm bảo những yếu tố về mặt phong thủy. Kinh đô và lăng tẩm của vua chúa càng phải ở những vị trí “đắc địa”, “vạn niên đại cát”,… nhằm đảm bảo sự trường tồn cho triều đại. Tiêu chuẩn phong thủy thường thấy đó là: tiền án, hậu chẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ và minh đường. Cố đô Huế của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn sau này là một ví dụ mẫu mực về các tiêu chuẩn phong thủy ấy. Các kinh đô khác trong lịch sử phong kiến Việt Nam cũng đều có liên quan đến những tiêu chí nhất định về phong thủy, ví dụ như thành Tây Đô của nhà Hồ. Tương truyền, sự hạn chế của tòa thành này về phong thủy đã khiến cho nó chỉ tồn tại được 7 năm, thay vì 60 năm như dự đoán của Hồ Quý Lý, vị vua sáng nghiệp vương triều Hồ.

Với Lý Thái Tổ và Chiếu dời đô, từ việc nhìn ra những hạn chế của đô thành Hoa lư về mặt phong thủy để quyết định dời bỏ, ông đã tìm thấy sự tối ưu của thành Đại La để kiên quyết lập đô mới tại đây.

Về phong thủy, Đại La khác với nhiều vùng đất khác, không theo nguyên tắc tiền án - hậu chẩm - tả thành long - hữu bạch hổ,… Phong thủy của Đại La là thế “rồng cuộn hổ ngồi” (long bàn hổ cứ), “chính giữa Nam Bắc Tây Đông, tiện nghi núi sông sau trước,…”. Đó là địa thế của bốn phương sông núi chầu vào, “sơn chầu thủy tụ”, cũng là “tụ linh tụ phúc” cho muôn đời, nhưng với một tầm nhìn rộng rãi, bởi các dãy núi đều ở xa, đặc điểm của vùng trung châu đồng bằng. Địa hình cao mà bằng phẳng, khiến cho cư dân không phải chịu nạn úng thủy, có phần thiên về “dương”, lợi cho sự phát triển. Đây cũng là nơi có nhiều sông hồ, vừa lợi về giao thông đi lại, giao lưu với mọi miền, vừa là “tụ thủy”, vừa là “chỗ quan yếu của bốn phương”. Điều đặc biệt là sông Hồng chảy qua đất Đại La đã lại “dùng dằng” chảy vòng, tạo nên một “vành tai” (Nhĩ hà). Sông Hồng cùng với các sông Kim Ngưu, Tô Lịch ôm ấp lấy tòa thành. Dân gian sau này tổng kết: “Nhĩ hà quanh bắc sang Đông: Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này” cũng chính là sự khái quát cái địa thế của Đại La - Thăng Long vậy. Muộn hơn một chút nữa, thời Nguyễn, vua Minh Mạng sắp đặt hành chính mới, thành lập tỉnh Hà Nội. Tên chữ Hà Nội cũng lại nói đến cái thế trong sông của vùng đất này, khi mà có đến hai con sông bao bọc Hà Nội từ vòng ngoài, đó là sông Hồng và sông Đáy.

Đặc điểm chung nhất của phong thủy Đại La đó là: Địa hình bát ngát, sông nước rộng dài, quanh co uốn lượn, núi lớn từ xa chầu về. Địa thế “hùng vĩ” thì “vận số” cũng lâu dài. Ở nước ta chưa có tòa thành nào, kinh đô nào có lịch sử trường cửu như Đại La - Thăng Long - Hà Nội, đã hơn 1.000 năm còn vững chắc ở vị thế kinh đô. Nhận ra được địa thế hùng vĩ của Đại La cũng phải là người có tầm nhìn lịch sử, xuyên thấu thời đại. Lý Thái Tổ là người như vậy. Triều đại của ông cũng nhờ vậy mà tồn tại lâu bền, suốt hơn 200 năm (1009-1225). Các triều đại tiếp nối đóng đô ở Đại La - Thăng Long cũng có “vận số” lâu bền. Duy chỉ nhà Hồ tự tiện dời bỏ đất này mà “vận số” ngắn ngủi (1400-1407), làm hệ lụy đến vận mệnh của cả dân tộc. Cũng chính bởi cái địa thế trường cửu của Đại La - Thăng Long - Hà Nội được Lý Thái Tổ nhìn ra từ năm 1010, mà gần 900 năm sau, một học giả người Pháp đã cho rằng: “Thật là một sai lầm lớn nếu ta di chuyển Thủ đô của xứ này đi nơi khác” (Cousin, Avenir du Tonkin – 15.1.1885).

Một vấn đề đặt ra có tính chất “phản đề” là: Vậy thì nhược điểm về mặt địa thế của Đại La là gì? Có thể trả lời: Dưới góc nhìn quân sự thì Đại La quả là trống trải. Nếu như lợi thế của Hoa Lư là khả năng thủ hiểm nhờ các dãy núi đá giăng thành bao bọc, thì Đại La không có lợi thế ấy. Điều này, chắc chắn một nhà quân sự như Lý Thái Tổ cùng các vị quân sư của ông phải nhận ra. Mặc dầu vậy, Lý Thái Tổ vẫn dứt khoát dời bỏ Hoa Lư và chọn Đại La làm kinh đô. Đó không chỉ là bởi Đại La cần cho đất nước ở thời kỳ phát triển, mà còn bởi nó phù hợp với một triết lý giữ nước mới của thời đại độc lập, triết lý lấy chiến tranh nhân dân làm nền tảng, không thiên về phòng thủ, lợi dụng thành cao hào sâu, mà “dĩ đoản chế trường”, “lấy kỳ binh chế trường trận”, làm kế “thanh dã” (vườn không nhà trống) và toàn dân đánh giặc (chứ không chỉ quân đội chính quy của triều định). Bởi thế, đã nhiều lần triều đình kháng chiến chủ động rút khỏi đô thành, cho giặc “ở nhờ vài hôm” để rồi sinh lòng kiêu căng mà không lo phòng bị, để rồi đói khát, dịch bệnh, quân số hao tổn vì bị vây khốn và tập kích, khi đó cha ông ta mới phản công lấy lại, để rồi “Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”(Ngô Ngọc Du) [12] .Như thế cũng có nghĩa rằng cái nhược điểm “trống trải” của Đại La không phải là điều đáng lo ngại, và không ảnh hưởng đến mục tiêu làm “nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” như đã nói trong Chiếu dời đô.

Ở góc độ triết học, Chiếu dời đô đề cập đến mối quan hệ giữa trời, đất và người, đồng thời áp dụng việc xử lý mối quan hệ ấy để giải thích sự suy vong của các triều Đinh, Tiền Lê, cũng như củng cố niền tin cho một tương lai tươi sáng của trăm họ xã tắc và của vương triều Lý, khi Lý Thái Tổ quyết định dời đô về Đại La. Đó còn là sự trình bày quan điểm của Lý Thái Tổ về “mệnh trời”, về thế đất, về “số vận” và lẽ hưng vong của các triều đại, cũng như cách thức mà ông vận dụng để thuyết phục bề tôi.

Trên thực tế, dời đô là cả một “sự nghiệp” lớn, nhiều vất vả, hao tổn tài vật, đặc biệt nó trái với thói quen yên vị của giai cấp thống trị và trái với nếp cũ của các triều đại đi trước. Sẽ có nhiều kẻ không thần phục và lấy đó làm cơ sở chống đối, kích động tâm lý phản loạn. Để thuyết phục dư luận, Lý Thái Tổ đã viện dẫn và đúc kết lịch sử: “Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Thang ba lần dời đô". Tuy vậy, vẫn chưa đủ. Tình thế còn buộc ông phải tìm ra lý luận để làm cơ sở cho chủ trương và hành động thực tiễn. Lý luận đó được nêu ra, trong đó có tư tưởng quan trọng là: “Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy chỗ tiện thì dời đổi”. Luận điểm này vừa là sự kế thừa tư tưởng của quá khứ, vừa thể hiện sự sáng tạo.

Viện dẫn tư tưởng “mệnh trời” (thiên mệnh), nhưng không có nghĩa Lý Thái Tổ là con người duy tâm thần bí. Trong truyền thống của triết học phương Đông, khái niệm “mệnh trời” có nhiều nghĩa, là “mệnh lệnh của ông trời có nhân cách”, nhưng cũng có nghĩa là xu hướng vận động tất yếu của thế giới khách quan. “Mệnh trời” trong Chiếu dời đô thuộc nghĩa thứ hai. Lý Thái Tổ dùng tư tưởng “Mệnh trời” chỉ với một mục đích duy nhất là việc dời đô là tất yếu, là hợp quy luật. Có dời đô ra Đại La thì vận nước mới lâu dài, muôn vật mới hưng thịnh.

Nêu ra tư tưởng “theo ý dân” là thể hiện quan điểm chính trị khác với hai triều Đinh và Tiền Lê của Lý Thái Tổ. Theo “ý dân” là theo sự hiểu biết của dân, một vấn đề có ý nghĩa về nhận thức luận mà không phải người làm vua nào cũng nhận thức được.

“Trên kính mệnh trời”, “dưới theo ý dân”, đó là hai vế của một tư tưởng, hay đúng hơn chỉ là một. “Mệnh trời”ở đây cũng là “ý dân”. Sách Thượng Thư từng viết: “Trời trông thấy là ở dân ta trông thấy, trời nghe thấy là ở dân ta nghe thấy” (Thiên thị tự ngã dân thị, Thiên thính tự ngã dân thính). Chỉ riêng “dân”đã là sức mạnh, “ý dân” mà phù hợp với quy luật khách quan, tức là “mệnh trời” thì sức mạnh càng nhân lên gấp bội. Câu “Trên kính cẩn trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi” có nghĩa là phải dời đô, vì đó là tất yếu, là thể theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa trời - đất - người, giữa đế đô và vận nước, và với tiền đồ của triều đại, Lý Thái Tổ tỏ ra là người có tầm nhìn lớn và có tư duy sâu sắc. Tư duy đó không thể không xem là có giá trị về mặt triết học.

Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư sau này có ý chê Lý Thái Tổ quá tin vào đạo Phật, đạo Lão, chê cơ cấu tổ chức triều đình của ông còn chưa phù hợp…, song cũng đều phải thừa nhận Lý Thái Tổ là người sáng suốt. Sử gia Ngô Sĩ Liên nói: “Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược đế vương ” [13].

Ở góc độ văn học, Chiếu dời đô là một áng văn hay đáng để lưu danh thiên cổ. Đó là tác phẩm mẫu mực của thể văn chiếu, nhưng giàu chất nghệ thuật. Với lối văn biền ngẫu, ngôn ngữ cô đúc, chọn lọc, lại sử dụng các thủ pháp so sánh, đối chứng, sử dụng các yếu tố tâm linh như một dẫn chất diệu kì, lan tỏa, khiến cho người đọc, người nghe bị lôi cuốn, bị chinh phục. Câu hỏi cuối bài Chiếu như để ngỏ, khiến cho dư âm còn mãi, khiến cho người ta phải suy nghĩ, rồi phấn chấn như thấy gần gũi, như thể sẽ được giáp mặt bậc quân vương để có dịp tâu bày. Hiếm có một “văn bản chính trị” nào lại dạt dào cảm xúc và có sức dẫn truyền mạnh mẽ đến như vậy. Có thể xếp Chiếu dời đô ngang hàng với những áng văn chương bất hủ trong kho tàng văn học cổ Việt Nam.

 

***

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết khi bài Chiếu của Lý Thái Tổ được công bố, bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”. Vua cả mừng[14] .

Vẫn theo Đại Vỉệt sử ký toàn thư, mùa thu tháng 7 năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất (1010), “vua từ thành Hoa Lư dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở nơi thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long”[15] .

Đến nơi lập đô mới, việc đầu tiên của Lý Thái Tổ là cho đắp lại tòa thành. Trước đây, thành Đại La do Cao Biền xây dựng cao 2 trượng 5 thước (8,06 m), chu vi 3000 bộ (5,58 km), trong đó có 80 gian nhà. Đến Lý Thái Tổ, sử cũ cho biết thành Thăng Long không đắp theo phạm vi của thành Đại La. Thành có hai lớp, lớp ngoài đắp bằng đất, lớp trong xây bằng gạch, phía Bắc và phía Tây men theo sông Tô Lịch, phía Nam đoạn đầu men theo sông Kim Ngưu, phía Đông vẫn nhìn ra sông Hồng. Thành có bốn cửa: Tường Phù (phía Đông), Diệu Đức (phía Tây), Quang Phúc (phía Bắc) và Đại Hưng (phía Nam). Thành Thăng Long có hai khu. Khu ngoài là hoàng thành, gồm dinh thự các quan lại, các cung điện Hàm Quang, Hoa Thôn, Thái Đường và đàn Nam Giao. Khu trong là Cung thành, gồm nơi vua ở, điện Càn Nguyên (nơi các quan vào chầu), điện Tập Hiền (nơi các quan văn hội họp). Ngoài ra còn các điện Cao Minh, cung Nghinh Xuân, Long Hoa, Long Thụy, Thúy Hoa, Ngọc Bội và các kho lẫm… Tổng chiều dài của hai lớp thành lên tới 25 km. Trong thành có cung điện cao tới 4 tầng. Nhìn chung, Thăng Long thời nhà Lý là một công trình thành lũy có quy mô lớn nhất so với các thành lũy được xây dựng ở nước ta từ trước đến bấy giờ.

Tại thành Đại La, từ thế kỷ thứ IX đã có đền thờ thần Long Đỗ. Tương truyền, khi Lý Thái Tổ mới đến lập đô, cho đắp thành, thành cứ đắp lên lại sụp đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Từ đấy, thần Long Đỗ còn được gọi là thần Bạch Mã. Thần được vua phong làm Thăng Long Thành hoàng Đại vương. Đền thờ thần được gọi là đền Bạch Mã, sau trở thành một trong bốn ngôi đền trấn giữ bốn hướng của Thăng Long thành (tức “Thăng Long tứ trấn”)[16]. Đến đây, có thể coi như một sự hoàn chỉnh mạch tư duy mang tính thần bí giải thích sự “đắc địa” của vùng đất Đại La - Thăng Long, nơi hội tụ của khí thiêng sông núi. Mạch tư duy đó bắt đầu từ truyền thuyết về thần Long Đỗ làm thất bại âm mưu triệt yểm long mạch ở thành Đại La của Cao Biền, kế đến là truyền thuyết rồng vàng hiện lên khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Đại La, và kết thúc bằng truyền thuyết thần Bạch Mã giúp vua Lý xây thành. Tư duy dân gian là vậy, vừa minh triết và hiện thực, lại vừa hoang đường, khiến cho lịch sử Thăng Long trở nên hấp dẫn vô cùng. Đó cũng là câu trả lời cho những gì mà vị vua sáng nghiệp triều Lý đã tin cảm khi viết những lời thiêng liêng trong Chiếu dời đô: “Huống chi thành Đại La,…, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước...Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.

Bài Chiếu ra đời trước lúc diễn ra việc dời đô. Những phân tích và nhận định lúc ấy vẫn còn là giả thiết, song sự việc diễn ra ở Thăng Long sau này dưới triều Lý Thái Tổ cũng như toàn bộ lịch sử vương triều Lý cho thấy giả thiết đó đã trở thành hiện thực. Sự tiện lợi của Thăng Long về mọi mặt đã làm cho triều Lý vững vàng về chính trị, hùng mạnh về quân sự, kinh tế, văn hóa phát triển thịnh đạt. Mặc dù triều Lý đã đi vào quá khứ từ cách đây gần 800 năm, song nói một cách khách quan, đây là triều đại đã tồn tại dài lâu nhất, không phải chỉ so với hai triều Đinh, Tiên Lê trước đó, mà là so với tất cả các triều đại trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.

Cùng với công cuộc dời đô, Lý Thái Tổ còn thực hiện một loạt các biện pháp nhằm củng cố quyền lực vương triều và phục hưng dân tộc. Công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của quốc gia phong kiến độc lập. Tấm gương mẫu mực của vị vua khai mở triều đại đã được các vua kế nghiệp nhà Lý noi theo. Năm 1042, Lý Thái Tông cho ban bộ Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên của lịch sử pháp quyền Việt Nam. Điều này chứng tỏ nhà nước trung ương tập quyền lúc đó tương đối ổn định và đã xây dựng được một thiết chế khá hoàn bị. Năm 1070, Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử, chính thức thừa nhận Nho giáo như một học thuyết cai trị. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, nền đại học Việt Nam bắt đầu hình thành. Việc chủ động đào tạo nhân tài và chế độ tuyển dụng quan lại bằng con đường khoa cử dưới triều Lý đã đưa Đại Việt lên hàng các nước phát triển và văn minh của phương Đông thời bấy giờ.

Từ sự lựa chọn sáng suốt của Lý Thái Tổ ở thế kỷ XI, Thăng Long đã đi vào lịch sử đất nước như một Thủ đô của muôn đời. Điều đó cũng chứng tỏ giá trị trường tồn của Chiếu dời đô, tác phẩm thể hiện tư tưởng sáng suốt và tầm nhìn xuyên thế kỷ mà Lý Thái Tổ đã công bố cách đây 1011 năm.

Đối với lịch sử Việt Nam, Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ ngoài ý nghĩa là một tuyên cáo cho kỷ nguyên độc lập và phát triển lớn mạnh của dân tộc, còn là những phác thảo đầu tiên cho cả một hệ tư tưởng Lý. Ở đây, các yếu tố Nho-Phật-Đạo, các yếu tố tín ngưỡng và truyền thống tinh thần của dân tộc đã hòa quyện để làm nên một áng văn thiên cổ. Những ảnh hưởng của tư tưởng “mệnh trời”, kết hợp với ngôn ngữ giàu sức truyền cảm, thấm đượm tinh thần thương dân và đề cao nhân dân đã giúp cho bài Chiếu làm sống dậy hồn thiêng sông núi và chứa chan nhân tình. Tiếp sau bài Chiếu dời đô, lịch sử dân tộc và lịch sử Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội còn được chứng kiến nhiều áng văn hùng tráng như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt[17] Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải chăng đó chính là sự tiếp nối dòng văn hùng khí Thăng Long nổi tiếng mà Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp triều Lý đã khơi nguồn.

  Hà Nội, ngày 1 tháng 6 năm 2021

 

* PGS. TS. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 

1). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003. tr. 357.

2). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 357.

3). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 352.

4). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 353.

5). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I. Sđd, tr. 356.

6). Chu Quang Chứ: Xung quanh nhân vật Lý Công Uẩn, Nghiên cứu Lịch sử, số 5, 1994, tr. 61.

7). Vùng đất này trước thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ từ 1.8.2008 mới hoàn toàn được sáp nhập vào Thành phố Hà Nội ngày nay.

8). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Quốc hiệu này vẫn được dùng trong suốt các thời Đinh, Tiền Lê và sang cả giai đoạn đầu thời Lý. Mãi đến năm 1054, nhà Lý mới đổi quốc hiệu thành Đại Việt. Nhưng trên thực tế, những viên gạch mà giới khảo cổ học tìm được trên nền điện cũ của cố đô Hoa Lư và hoàng thành Thăng Long trong buổi đầu lập đô chỉ thấy hai chữ Đại Việt (mà không phải là Đại Cồ Việt). Những viên gạch có chữ đề Đại Việt quốc quân thành chuyên (gạch chuyên xây dựng quân thành nước Ðại Việt) được tìm thấy ở cố đô Hoa Lư hiện vẫn được trưng bày tại hiện trường khảo cổ của khu di tích (đền vua Lê). Rất có thể, Đại Cồ Việt chỉ là tên gọi tồn tại trong dân gian nước ta thời ấy, biểu lộ một tinh thần tự tôn dân tộc cao độ. Song, với trình độ Hán học uyên bác của vua tôi nhà Lý lúc bấy giờ, (mà Chiếu dời đô là một bằng chứng), đặc biệt là các vị Thiền sư từng giữ vai trò cố vấn chính trị cho triều đình phong kiến, ông cha ta thừa hiểu rằng hai chữ Đại Việt (nước Việt lớn) đã là đủ để đối sánh với hai chữ Đại Tống chỉ nước Trung Hoa, mà không cần phải là Đại Cồ Việt (nước Việt lớn lớn), vừa thừa chữ nghĩa, vừa dùng lẫn cả từ Hán (Đại) và từ Việt (Cồ).

9). Dẫn theo: Đô thị cổ Việt Nam, Viện Sử học, Hà Nội, 1989, tr 96.

10). Cao Vương: Chỉ Cao Biền.

11). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr 358. 

12). Ngô Ngọc Du, “Long thành quang phục kỷ thực” (Ghi lại sự thật việc khôi phục thành Thăng Long). Xem Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3), Nxb Văn học, 1978, tr. 355-361.

13). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I. Sđd, tr. 381.

14). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd, tr. 358.

15). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Sđd., tr. 359.

16). “Thăng long tứ trấn” gồm: Đền Quán Thánh (hay Trấn Vũ quán) – trấn Bắc, đình/đền Kim Liên – trấn Nam, đền Bạch Mã – trấn Đông, đền Voi phục – trấn Tây.

17). Không có tài liệu đáng tin cậy xác nhận bài thơ này (Nam Quốc sơn hà) của Lý Thường Kiệt. Nhưng tương truyền bài thơ được cất lên qua một giọng hùng tráng trong đêm tối, từ đền thờ Trương Hống - Trương Hát, giáp với chiến trận chống giặc Tống do Lý Thường Kiệt chỉ huy đang diễn ra trên sông Như Nguyệt, nên nhiều người tin tác giả bài thơ là Lý Thường Kiệt.

Phạm Quốc Sử

Nguồn tác giả gửi