Lời Ví Von Của Hồng Y Ivan Dias

  ●   Bản rời

Lời Ví Von Của Hồng Y Ivan Dias

Nguyễn Trí Cảm

14 tháng 11, 2010

Đại lễ Bế mạc Năm Thánh 2010 và Đại hội Thánh Mẫu La Vang lần thứ 29  của người Ca tô giáo diễn ra và bế mạc vào những ngày đầu năm 2011, trong mưa phùn và giá rét, hậu quả của sự biến đổi khí hậu toàn cầu qua hiện tượng La Nina. La Vang được người Ca tô xem là “thánh địa”, một nơi được giáo dân tôn vinh là rất linh thiêng. Ngày xưa nơi này bổn nguyên là một ngôi chùa mang tên Lá Vằng, và sau đó ... biến thành nhà thờ mà ta có thể hình dung sự chuyển đổi người trụ trì qua các câu thơ của người dân La Vang, tỉnh Quảng Trị thời trước như sau:

Rằng Phật rằng Thần lao đao

Có Bà bên đạo phép cao lạ lùng.

Bà vào bà đánh tứ tung

Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài (1)

Trên thực tế, căn cứ theo giáo sử của Vatican của các nhà nghiên cứu, thì chẳng có “bà bên đạo” nào xuất hiện ở nơi này cả,  đây chỉ là hình thức muốn tạo hình ảnh một bà Maria đầy quyền phép để che đậy hành vi chiếm đoạt chùa của các con cái Chúa mà thôi nhưng xem ra, các câu thơ trên lại tạo ra hình ảnh một người đàn bà, mà các giáo dân tôn vinh, ca ngợi là “mẹ nhân từ”, lại hung dữ, đằng đằng sát khí và có hành vi đầy bạo lực như vậy!

Quay trở lại với Đại hội Thánh Mẫu La Vang. Trong bài diễn văn đọc trước đại hội này, Hồng Y Ivan Dias,  Đặc sứ của Giáo Hoàng, đã ví von mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội. Công giáo rằng:

  “Tôi rất thích ý tưởng Nhà nước và Giáo hội “như bậc cha và mẹ của một gia đình. Khi họ sống thuận hòa, thì con cái của họ hạnh phúc hơn”. [2]

Người Hồng y này đã quá thậm ngôn khi ví von Giáo hội Công giáo ngang hàng với Nhà Nước như cha và mẹ, cho Giáo hội Công giáo là “mẹ” và  Nhà Nước Việt Nam là ”cha”, và dĩ nhiên, theo như suy luận thì tất cả mọi thành phần, mọi tôn giáo khác trên đất nước Việt Nam này đều là “con cái” của họ. Thoạt đầu, người viết không hiểu chữ “giáo hội” mà ông Hồng Y đề cập đến là giáo hội nào, là Giáo hội Công giáo tức Công đồng Vatican hay Giáo hội Công giáo Việt Nam, nhưng thỉnh thoảng ông Hồng Y này lại phát biểu bằng tiếng Việt “Tôi yêu mến Giáo Hội Việt Nam” thì thấy đây là cách phát biểu nước đôi, mập mờ và rất lắt léo để tránh bị bắt bẻ. Nếu như đặt cương vị Nhà nước ngang hàng với Giáo hội Công giáo Việt Nam thì Nhà nước Việt Nam sẽ có vị thế thấp hơn Vatican.   

Một vị đai sứ hay đặc sứ khi đến công tác tại một quốc gia nào đó thường là người am hiểu nền văn hóa, lịch sử của nước sở tại, thậm chí có người còn thông thạo ngôn ngữ của nước đó, và Hồng Y  Ivan Dias không phải là ngoại lệ. Môt người có học vị và chức vị cao trong Tòa thánh như ông, không thể không đưa ra được  những ví dụ hợp lý hơn nếu như ví von Nhà Nước và Giáo hội Công giáo là “cha và con” chẳng hạn, vì giáo dân cũng là “con dân” trong một đất nước độc lập, hay ông có ẩn ý gì khác chăng?

Và khi ông Hồng Y này phát biểu “khi họ sống thuận hòa”, ý nói là Nhà nước và Giáo hội Công giáo nếu sống đồng thuận với nhau,  thì “con cái của họ hạnh phúc hơn”, và “con cái” là ai nếu không chỉ là toàn thể các con chiên, nhưng ông quên rằng  “cha” của người Ca tô là Chúa cha, nơi Jesus bay lên trời ngồi bên phải ông ấy. Người Ca tô nào lại không biết đến bài Kinh Lạy Cha? Tuy nhiên, nếu đây chỉ là sự ví von khập khểnh do căn tính thậm xưng chung của các vị chủ chăn, và vì não trạng chung của con chiên, nên khi cha đã cất tiếng, thì các con chỉ biết lắng nghe! Có thể ông Hồng Y muốn ám chỉ rằng, nếu có sự thuận hảo với nhau, nghĩa là nếu Nhà Nước đáp ứng các yêu cầu của họ như tái lập bang giao cấp nhà nước với Việt Nam, phục dựng lại tòa khâm sứ tại Hà Nội, trả lại đất đai mà thực dân Pháp ban phát cho họ thì con chiên mới có hạnh phúc, còn nếu như không hạnh phúc thì sẽ có sự bất an trong xã hội như các vụ cầu nguyện đòi đất lùm xùm bằng gạch đá và xà beng như trước đây chăng ?  

Việc người Ca tô tin cái gì, như mặt trời xoay quanh trái đất hay trái đất hình vuông chẳng hạn, cũng chẳng ai cần quan tâm tới vì đó là niềm tin, là tự do tôn giáo, dù đó là niềm tin mang đậm tính chất hoang đường. Nhưng khổ nỗi, họ lại khẳng định rằng đạo của họ là chân lý, là đường đi, là ánh sáng, là duy nhất thánh thiện, tông truyền, và ông tuyên xưng trong sự xác tín rằng:

“Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4, 5-6).

Và dĩ nhiên theo như suy diễn qua sự khẳng định trên thì niềm tin của phần nhân loại còn lại đều là của người vô thần, ngoại đạo hay dị giáo.

Danh từ “dị giáo” không phải chỉ được dùng trong thời Trung cổ, nó được sử dụng ngay trong thế kỷ thứ 21 này, những cặp hôn nhân không cùng theo đạo Chúa cũng được gọi là hôn nhân “dị giáo” hay “ngoại giáo”. Để chứng minh cho thái độ trịch thượng, tự cho mình là duy nhất  thánh thiện, công bình, ta có thể nhận biết thêm qua một khía cạnh khác là trong lãnh vực hôn nhân giữa những người  không cùng tôn giáo với họ như sau. Thánh kinh dạy các con chiên rằng:

"Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hòa hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng" (2 Cô-rinh-tô 6:14)?

Sự khẳng định trần trụi, cố chấp và có tính chia rẽ những kẻ yêu nhau không có cùng niềm tin tôn giáo như trên không thể hiểu một cách khác đi được, do đó, ta thường thấy những người lập gia đình với người có đạo thường bị ép buộc cải đạo. Nhưng cũng có đôi lứa quá gắn bó với nhau nên đối phó theo cách của họ để lách giáo luật mà thực chất là sức ép của gia đình hay giáo xứ qua câu thơ trào phúng:

Con quì lạy Chúa ba Ngôi,

Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ!

Trong phần cuối bài diễn văn, ông tri ân những tên thừa sai như sau:

Các ngài (các thừa sai) đã tưới gội cho hạt giống Tin Mừng được sinh hoa kết quả trên cánh đồng Việt Nam này bằng chính dòng máu thắm của mình, đã làm trổ sinh một Giáo Hội hùng hậu với 6 triệu tín hữu trải dài trên khắp mọi nẻo đường 26 giáo phận.

Hầu hết các tên thừa sai trong số đó là những kẻ từng cấu  kết chặt chẽ với  thực dân để truyền đạo và làm mật thám cho Pháp. Nhiều tài liệu lịch sử đã ghi nhận một số giáo sĩ  thừa sai như Alexandre de Rhôde, linh mục Huc, giám mục Puginier, Pellerin, Gauthier v.v.. là những tên tuổi trong số này. Để hiểu rõ hơn các hoạt động của các tên thừa sai này, đọc giả có thể tìm hiểu qua tài liệu Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai của tác giả Công giáo Charlie Nguyễn.

Sự câu kết giữa Giáo hội với thực dân Pháp thông qua các giáo sĩ thừa sai có thể nhận biết qua vai trò của mỗi bên: Lực lượng quân sự của thực dân Pháp với vũ khí có ưu thế vượt trội trấn áp các phong trào kháng chiến yêu nước được trang bị vũ khí thô sơ, chủ yếu là súng hỏa mai, và giáo, mác. Thực dân Pháp đánh chiếm nhiều vùng lãnh thổ của nước ta, đặt nền móng đô hộ, trong khi đám thừa sai nỗ lực truyền đạo, xây dựng đám tân tòng tay sai làm đạo quân thứ năm nhằm phá bỏ nền tảng văn hóa, tôn giáo dân tộc, họ thành hình thành hai lực lượng liên kết cùng tiến hành song song và đồng bộ với nhau - vật chất quân sự và cải đạo tinh thần.

Không chỉ dừng ở đây, một cách gián tiếp, ông Hồng Y lên án các triều đại quân chủ nước ta cấm đạo, bức hại giáo sĩ  thừa sai qua lời phát biểu “bằng chính dòng máu thắm của mình”. Ông  ngụ ý  bênh vực và tôn vinh những người có sứ mạng đi  “khai hóa” và gieo rắc “tin mừng” bằng việc đô hộ, bóc lột các nước thuộc địa, mang đến cho dân tộc Việt Nam những thống khổ của kiếp nô lệ, thuế thân, thuế muối, dạy giáo dân bản xứ những tín lý hoang đường, chối bỏ tổ quốc, phá bỏ nền phong hóa của dân tộc mình để mong được hưởng phước lành của Chúa và cái bánh vẽ thiên đàng! Người Ca tô giáo không bao giờ tự đặt câu hỏi vì sao các triều đại phong kiến xưa lại cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ thừa sai trong khi trước đó, cái đạo này vẫn được phép hoạt động tự do, nhưng lại cứ lên án các triều đại cấm đạo, và nay lại có con chiên còn bắt “Tổ Quốc Ăn Năn”. [3]

Dân tộc Việt Nam vốn rất khoan dung tôn giáo, nhưng không bao giờ khoan nhượng với mọi âm mưu làm xâm hại đến đất nước, truyền thống văn hóa , tôn giáo và tín ngưỡng dân tộc, vốn là bản sắc riêng để đất nước Việt Nam ngày nay vẫn vững vàng phát triển, và vẫn là kẻ “bề trên” trong việc quyết định có nên bang giao với Vatican hay không.

 

SG, 1-2011

Nguyễn Trí Cảm

 


[1]

[2] Diễn văn của Đức Hồng Y Ivan Dias - Nguồn: hdgmvietnam.org

[3] Sách của NGK.

 



Các bài cùng tác giả


▪ Công Cuộc Truyền Giáo Ở Bắc Kỳ Trong Thời Thuộc Địa - Nguyễn Trí Cảm chuyển ngữ

▪ Sự “thống hối” của Giáo hoàng - Nguyễn Trí Cảm chuyển ngữ

▪ Xâm lược Châu Á: Giáo hoàng thúc dục mở mang nước Chúa - BBC

▪ Nghĩ Về Đạo Thiên Chúa và Các Lễ Hội Truyền Thống Việt Nam - Nguyễn Trí Cảm

▪ Anh Ba Láng Giềng - Nguyễn Trí Cảm

▪ Lại là thầy Thích Không Tánh - Nguyễn Trí Cảm

▪ Tin lành, Thiên Chúa giáo có đơn thuần chỉ là tôn giáo ? - Nguyễn Trí Cảm

▪ Vatican và "mùa gặt các linh hồn” - Nguyễn Trí Cảm

▪ Hoa hồng ngày Vu lan - Nguyễn Trí Cảm

▪ Tin Tức Các Tu Sĩ TCG Lạm Dụng Tình Dục - Nguyễn Trí Cảm

▪ Xin giữ cho đạo Phật được trong sáng - Nguyễn Trí Cảm

▪ Susanna Maiolo - Người phụ nữ quay lưng lại với Đức Chúa Trời - Nguyễn Trí Cảm

▪ Cải đạo bắt đầu từ trẻ con - Nguyễn Trí Cảm

▪ Tại Sao Chúa Trời Lại Để Cho Thảm Họa Thiên Nhiên Xảy Ra ? - Nguyễn Trí Cảm

▪ Ăn theo World Cup.. - Nguyễn Trí Cảm

▪ Mode Chơi “Phạm Thánh” - Nguyễn Trí Cảm

▪ Suy Nghĩ về Việc Thành Lập Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình - Nguyễn Trí Cảm

▪ Thời Mạt Đạo - Nguyễn Trí Cảm

▪ Nơi Trồng Người - Nguyễn Trí Cảm

▪ Cuộc thánh chiến mới nhất của Giáo hoàng - Nguyễn Trí Cảm


▪ 1 2 3 ▪ >>>


Bài khác