Lịch Sử Công Giáo La Mã Truyền Đạo Vào Việt Nam

Thiên Chúa Giáo Đã Mở Cửa Cho Quân Đội Pháp Và Đã Là Nguyên Nhân Trực Tiếp Của Cuộc Xâm Lược Đất Nước Này”. Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon, p. 99)

Giám Mục Puginier khẳng định rằng: "Không Có Các Thừa Sai Và Giáo Dân Ki Tô Giáo Thì Người Pháp Cũng Giống Như Những Con Cua Đã Bị Bẻ Gẫy Hết Càng” (theo tác phẩm Catholicisme et Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi)

Với mục đích cung cấp sử liệu chính xác, đa chiều nên bài viết này tương đối dài vì có trích dẫn tài liệu và tác giả để bạn đọc tiện tra cứu.

Vài Điểm Nổi Bật:

 - Chữ quốc ngữ là công trình tập thể của các giáo sỹ thừa sai và người Việt nam với mục đích truyền đạo, công đầu thuộc về giáo sỹ Francisco de Pina người Bồ Đào Nha

- Giáo sỹ Alexandre de Rhodes gửi về Vatican và Pháp một bản mô tả rất chính xác về tiềm năng thương mại, chính trị và chiến lược của Việt nam và yêu cầu triều đình Pháp xâm lược Việt nam vì bị trục xuất nhiều lần.

-Vua Gia Long dựa vào giáo sỹ thừa sai cầu viện Pháp để đánh Tây sơn nhưng nhận ra dã tâm của công giáo nên truyền ngôi cho Minh Mạng mà không phải hoàng tôn Đán (con hoàng tử Cảnh đã cải đạo công giáo) để tránh họa công giáo.

-Giám mục Bá Đa Lộc âm mưu cải đạo Hoàng Tử Cảnh (con vua Gia Long) để công giáo hóa Việt nam nhưng thất bại.

-Loạn Lê Văn Khôi chống triều đình có bàn tay của Công Giáo và thừa sai cấu kết với Xiêm La nội công, ngoại kích.

-Sách lược Thập giáo và Lưỡi gươm được áp dụng ở Việt nam. Bảo vệ Công giáo chỉ là cái cớ để thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam.

-Công giáo Việt nam tham gia trong đoàn quân xâm lược Pháp chống lại quê hương

-Ngô Đình Diệm được liên minh Vatican Mỹ dựng lên muốn Kitô hóa miền Nam và triệt tiêu Phật giáo nhưng đã thất bại.

-Việt Nam – Vatican chưa có quan hệ ngoại giao chính thức. Vẩn bất đồng trong việc bổ nhiệm giám mục.

Tổng Quan

 Công giáo La Mã có mặt tại Việt Nam từ thế kỷ 16 khi các nhà truyền giáo châu Âu tới giảng đạo. Trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi lịch sử, cho đến đầu năm 2018 Công giáo tại Việt Nam có khoảng 7 triệu giáo dân, với 4.000 linh mục, 4.500 giáo xứ, 22.000 tu sĩ với hơn 240 dòng tu, hơn 2400 đại chủng sinh

Công giáo La Mã có mặt lần đầu tiên vào năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) thời vua Lê Trang Tông do một giáo sỹ có tên là I-nê-khu (Inácio trong tiếng Bồ Đào Nha, Ignacio hoặc Íñigo trong tiếng Tây Ban Nha) lén đến truyền đạo Gia-tô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy" nay thuộc tỉnh Nam Định (theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, tờ 5-6). Sau đó có các linh mục Gaspar da Cruz đổ bộ lên Hà Tiên, hai linh mục Luis de Fonseca, O.P. (Bồ Đào Nha) và Grégoire de la Motte, O.P. (Pháp) đi truyền giáo tại Quảng Nam trong thời Chúa Nguyễn Hoàng (1580-1586). Tuy nhiên, giai đoạn này, Công Giáo không mấy phát triển. Chỉ sau khi những giáo sỹ dòng Tên đến vào những thập niên đầu của thế kỷ 17, công giáo La mã mới bắt đầu thiết lập vị thế của nó. Đây là những giáo sỹ người Bồ Đào Nha, người Ý và Nhật bản. Từ năm 1627-1630, Alexandre de Rhodes và Antoine Marquez (đến từ vùng Provence, Pháp) đã cải đạo cho trên 6,000 người. Vào thế kỷ 17, những giáo sỹ dòng Tên Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina, và de Rhodes đã phát triển một bản chữ cái cho tiếng Việt sử dụng ký tự Latin thêm vào những dấu chỉ thanh. Chữ quốc ngữ được tạo ra với mục đích để truyền Đạo Thiên Chúa vào Việt Nam. Đây là công trình tập thể của nhiều linh mục người Bồ Đào Nha, Pháp và cả các nhân sĩ trí thức người Việt bao gồm các thầy đồ, sư sãi, các trưởng tông phái (đạo lão, đạo khổng,...), quan lại hưu trí và sĩ tử là những người giỏi tiếng mẹ đẻ, am hiểu nền văn hoá dân tộc.

Lm Bồ Đào Nha Francisco De Pina Là Người Đầu Tiên Latin Hóa Tiếng Việt trong giai đoạn 1617-1622, sau đó tiếp bước bởi các LM Bồ Đào Nha Gaspar de Amaral (soạn tự điển Việt –Bồ) và Antonio de Barbose (soạn từ điển Bồ - Việt). Rhodes đã thừa hưởng các công trình này, cải tiến nó và thêm phần ngôn ngữ Latin vào từ điển Việt – Bồ để thành từ điển Việt-Bồ-Latin và cho xuất bản tại nhà in Vatican năm 1651. Rhodes Được Tôn Vinh Trong Thời Pháp Thuộc Chỉ Vì Rhodes Là Người Pháp. Tuy nhiên, Chữ Quốc Ngữ Trong Giai Đoạn Này Còn Khá Thô Sơ và tiếp tục được hoàn thiện dần dần trong nhiều vài trăm năm kế tiếp để đạt đến mức hoàn thiện như ngày nay.

Alexandre de Rhodes đến Đông Dương năm 1610. Mười năm sau, ông gửi về Vatican và Pháp một bản mô tả rất chính xác về tiềm năng thương mại, chính trị và chiến lược. Nhiều giáo sĩ dòng Tên Pháp lập tức được tuyển mộ và gửi sang giúp ông ta thực hiện hai công tác: Cải đạo theo Công Giáo và bành trướng thương mãi. La Mã và Ba Lê xem những hoạt động này như những bước dẫn khởi cho việc chiếm đóng chính trị lẫn quân sự trên các quốc gia này”. Jesuit priest Alexandre de Rhodes arrived in Indo-China in 1610. A decade later he sent back to the Vatican and to France a very accurate description of the commercial, political and strategic potenial. French Jesuits were promptly recruited and sent to help him in his double work of converting to Catholicism and commercial expansion. Rome and Paris considered these activities as inseparable stepping stones leading to eventual political and military occupation of these countries, (Vietnam, why did we go, Manhattan, p.139).

Sách "Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam" là một tài liệu chuyên khảo có giá trị của giáo sư Cao Huy Thuần về một giai đoạn lịch sử u tối của dân tộc đã viết:

"Đến Bắc kỳ năm 1627, Linh mục Rhodes nhận được ân huệ của Chúa Trịnh Tráng ngoài Bắc, ông dâng cho Chúa một đồng hồ trái quit có bánh xe và một quyển sách toán mạ vàng đẹp đẽ, Trịnh Tráng cho ông nhiều dễ dàng khi mới bắt đầu giãng đạo ở Bắc. Linh mục viết trong các báo cáo gởi về cấp trên như sau: ”Vua xứ Bắc khiến chúng ta xây cất gần dinh thự của Ông, nhà cửa và nhà thờ. Tại đó chúng ta được giúp đở nhiều trong khi tiến hành phận sự ”. Cuối năm 1629, ông rửa tội cho 6.700 người, trong số có một vài công nương của triều đình và ông cũng thiết lập các phái bộ Dòng Tên Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, liền sau đó các linh mục Pháp của hội truyền giáo nước ngoài nối gót theo.

Nhưng ở đây, cũng xảy ra những phản ứng như ở Trung Quốc và Nhật Bản, chính phủ lo lắng khi thấy đạo mới tấn công thẳng vào các nguyên lý đạo đức và chính trị Nho giáo vốn là nền tảng của xã hội cổ truyền Việt nam."

Thật vậy, toàn thể cơ cấu xã hội và chính trị của nước Việt nam xây dựng trên quan niệm đạo đức của Nho Giáo, lòng hiếu thảo, sự thờ cúng Ông bà, lòng trung với Vua, nhưng đạo mới từ tây phương đến muốn lật nhào các tín ngưỡng cũ. Không những việc thờ cúng ông bà bị kết án quyết liệt và lòng sung đạo của con chiên phải thắng lòng hiếu thảo và lòng trung với vua. Triều đình càng thêm sợ các hoạt động của các nhà truyền giáo khi họ muốn tạo nên tổ chức gia tô không thèm biết đến uy quyền nào khác hơn là uy quyền các lãnh tụ tinh thần của họ.

Vì thế, Chúa Trịnh đã đuổi Alexandre de Rhodes vào năm 1630. Triều đình Nguyễn cũng ban bố đạo luật cấm đoán ẩn náo tại Macao. Linh mục Rhodes trở lại Nam Kỳ năm 1640 để rời vĩnh viễn Việt nam năm 1645.”

Chính Rhodes là gián điệp thừa sai đã vận động Pháp Hoàng xâm lược Việt nam. Rhodes đã viết cuốn “Hành trình và truyền giáo” (Divers voyages et mission):

Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương, đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Ðức Giáo hoàng.

Ngoài ra, ở trang 264, A. de Rhodes còn viết tiếp:

Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa, tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé nầy…” (đầu tr. 264), {các chữ in đậm là của tác giả muốn lưu ý}.

Như thế, chính Linh Mục A. de Rhodes (Đắc Lộ) đã vào trong triều đình, gặp bà hoàng hậu vua Louis thứ XIV, xin giúp nhiều lính chiến (plusieurs soldats) để chinh phục toàn cõi Đông Phương (la conquête de tout l’Orient), trong đó có nước ta nhưng rất may là triều đình Pháp lúc đó không đồng ý vì công giáo Việt nam chưa đủ mạnh để làm nội ứng.

Giám Mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) Và Triều Đình Nhà Nguyễn

Gần ngã tư Bảy Hiền ở Sài gòn ngày nay có một địa danh là Lăng Cha Cả. Đó là nơi chôn cất Bá Đa Lộc.

Giám mục Bá Đa Lộc đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Việt vào cuối thế kỷ 18. Ông đã đến miền Nam để truyền đạo.

Năm 1777, anh em nhà Tây Sơn giết chúa Nguyễn, sau đó, Nguyễn Ánh, người sẽ kế ngôi đã tháo chạy về khu vực đồng bằng sông Mê Kong và quen biết với giám mục Bá Đa Lộc. Bá Đa Lộc muốn tận dụng cơ hội này, hy vọng sẽ đóng vai trò quan trọng giúp Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, đổi lại ông sẽ được sử dụng đất đai để xây dựng Giáo hội ở Việt nam làm căn cứ bành trướng ra khắp Đông Nam Á. Kể từ đó, ông đã trở thành một nhà chính trị và nhà chiến lược quân sự.

In 1777, the Tây Sơn brothers killed the ruling Nguyễn lords. Nguyễn Ánh was the most senior member of the family to have survived, and he fled into the Mekong Delta region in the far south, where he met Pigneau. Pigneau became Nguyễn Ánhs confidant. Pigneau reportedly hoped that by playing a substantial role in helping Ánh attain victory, he would be in position to gain important concessions for the Catholic Church in Vietnam and helping its expansion throughout Southeast Asia. From then on he became a politician and military strategist (McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874, Praeger, P.9)

Có những lúc, quân của Nguyễn Ánh bị đại bại, Bá Đa Lộc đã xuất dương cùng với hoàng tử Cảnh làm con tin cầu viện Pháp và ông đã tuyển một được một đoàn lính tình nguyện người Pháp. Bá Đa Lộc và những giáo sỹ khác đã đóng vai trò như những đại diện thương mại cho Nguyễn Ánh trong việc mua vũ khí đạn dược. Bá Đa Lộc đã lợi dụng hoàng tử Cảnh ở Pháp đã tự ý rữa tội cho Cảnh thành con chiên để sau này về nước lên ngôi với mưu đồ cải đạo toàn nước Việt nam.

Bá Đa Lộc cũng đóng vai trò cố vấn quân sự và bộ trưởng đối ngoại không chính thức cho đến khi qua đời năm 1799. Từ năm 1794, Bá Đa Lộc đã tham gia vào mọi chiến dịch. Ông ta tổ chức phòng thủ ở Diên Khánh bị bao vây bởi quân Tây Sơn năm 1794. Khi Bá Đa Lộc mất và được chôn ở Lăng Cha Cả ở Sài gòn, điếu văn của Gia Long mô tả ông như là người ngoại quốc nỗi tiếng nhất từng hiện diện ở triều đình Nam Bộ.

Năm 1802, Nguyễn Ánh đã chinh phục toàn cõi Việt nam và lên ngôi hoàng đế Gia Long. Công giáo Việt nam chia là 3 giáo khu: Đông Bắc Bộ (140,000 chiên, 41 linh mục Việt, 4 giáo sỹ truyền giáo và 1 giám mục), Tây Bắc Bộ (120,000 chiên, 65 linh mục Việt, 46 giáo sỹ truyền đạo, 1 giám mục), Trung Nam Bộ (60,000 chiên, 15 linh mục Việt, 5 giáo sỹ truyền đạo, 1 giám mục).( Catholic Church in Vietnam with 470 years of Evangelization". Rev. John Trần Công Nghị, Religious Education Congress in Anaheim. 2004.)

Gia Long đồng ý cho công giáo truyền đạo như một động thái trả ơn. Hoạt động truyền giáo ở Bắc Kỳ chủ yếu được Tây Ban Nha truyền giáo, Trung Kỳ và Nam Kỳ chủ yếu được Pháp truyền giáo. Lúc Gia Long băng hà, ở Việt nam có 6 giám mục châu Âu và 300,000 chiên ở Bắc Kỳ, 60,000 chiên ở Nam Kỳ.

Triều Đình Nhà Nguyễn Sau Thời Gia Long

Sự chung sống hòa bình giữa Công Giáo và Khổng Giáo không kéo dài bao lâu. Vua Gia Long là người theo Khổng Giáo. Do thái tử Cảnh mất sớm, đáng lý ra con trai của Cảnh là hoàng tôn Đán lên kế vị Gia Long, tuy nhiên Gia Long đã chọn Minh Mạng là con của thứ phi bởi vì Minh Mạng có cá tính mạnh, lại bảo thủ tôn trọng truyền thống văn hóa và có ác cảm với người phương Tây, trong khi con cháu của hoàng tử Cảnh đã cải đạo sang Công Giáo và không sẵn lòng duy trì truyền thống nho giáo, nhất là tục thờ cúng tổ tiên. As Crown Prince Nguyễn Phúc Cảnh had already died, it was assumed that Cảnhs son would succeed Gia Long as emperor, but, in 1816, Nguyễn Phúc Đảm, the son of Gia Longs second wife, was appointed instead. Gia Long chose him for his strong character and his deeply conservative aversion to Westerners, whereas Cảnhs lineage had converted to Catholicism and were reluctant to maintain their Confucian traditions such as ancestor worship.( Buttinger, Joseph (1958), The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam, p.268-69)

Lê Văn Duyệt và nhiều quan chức cấp cao đã phản đối sự truyền ngôi này. Duyệt và nhiều cộng sự miền Nam có thiện chí với công giáo và muốn phò tá con cháu hoàng tử Cảnh lên ngôi vua. Do vậy, Duyệt được cộng đồng công giáo tôn trọng. Theo nhà sử học Mark McLeod, Duyệt quan tâm nhiều đến lĩnh vực quân sự hơn là nhu cầu xã hội và do vậy muốn duy trì quan hệ tốt với châu Âu để có thể kiếm được vũ khí từ họ hơn là bận tâm về việc “bị tây hóa”.

Vua Gia Long đã nhận thức được rằng các giáo sỹ sẽ chống đối việc truyền ngôi cho Minh Mạng bởi vì họ muốn một vị vua công giáo (con của Cảnh đã rữa tội) sẽ cho họ những đặc quyền và cơ hội cải đạo toàn nước Việt.

(Gia Long was aware that Catholic clergy were opposed to the installation of Minh Mạng because they favored a Catholic monarch (Cảnhs son) who would grant them favors) (McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874, Praeger, p.24)

Minh Mạng bắt đầu hạn chế phát triển công giáo. Ông ban hành “Sắc lệnh cấm truyền giáo” và cáo buộc công giáo là “dị giáo” (heterodox doctrine). Ông ta xem công giáo như là nguồn gốc của chia rẽ, đặc biệt khi số lượng giáo sỹ đến Việt nam mỗi ngày mỗi tăng. Tuy nhiên, Duyệt lại bảo vệ con chiên cải đạo và người phương Tây bằng cách bất tuân chiếu chỉ (McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874, Praeger, p.27-28).

Minh Mạng ban hành chiếu chỉ, lệnh cho tất cả giáo sỹ phải tập trung về Huế lấy cớ là triều đình cần thông dịch viên nhưng thực chất là ngăn cản hoạt động cải đạo. Trong khi quan lại ở miền Trung và Bắc tuân lệnh, Duyệt ở miền Nam chống lệnh và Minh Mạng bị buộc phải đợi thời cơ (McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874, Praeger, p.28).

Hoàng đế bắt đầu rút bớt quyền hành quân sự của Duyệt. Khi Duyệt chết, Minh Mạng ra lệnh đóng gông ngôi mộ của Duyệt, xử tử 16 thành viên gia đình Duyệt và bắt giữ những cộng sự của Duyệt. Con trai của Duyệt là Lê Văn Khôn đã cùng với những người miền Nam nỗi lên khởi nghĩa.

Khôi tuyên bố ủng hộ tôn lập con cháu hoàng tử Cảnh với mục đích tranh giành sự hỗ trợ của các thừa sai và công giáo Việt nam và hứa sẽ bảo vệ công giáo. Năm 1833, Khôi đã chiếm miền Nam Việt nam với sự giúp đỡ to lớn của công giáo với 2000 lính công giáo dưới sự chỉ huy của cha Nguyễn Văn Tâm. In 1833, the rebels took over southern Vietnam, with Catholics playing a large role. 2,000 Vietnamese Catholic troops fought under the command of Father Nguyễn Văn Tâm. (McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874, Praeger, p.31)

Cuộc nỗi loạn bị dập tắt sau 3 năm, giáo sỹ người Pháp Joseph Marchand bị bắt vì đã hỗ trợ cho Khôi khi cầu viện Xiêm La thông qua việc bắt nối liên lạc với cha Jean-Louis Taberd ở Xiêm. Điều này cho thấy sự hiệp thông mạnh mẽ trong cuộc nỗi dậy của Khôi và cha Marchand đã bị xử tử (Chapuis, Oscar (1995), A History of Vietnam: From Hong Bang to Tu Duc, Greenwood Publishing Group, p.192).

Cuộc nỗi loạn của Khôi thất bại đã gây ảnh hưởng thảm khốc cho con chiên Việt nam. Triều đình ra nhiều chỉ dụ cấm đạo mới đối với công giáo và truy lùng những giáo sỹ thừa sai lẫn trốn.

Sắc lệnh chống Công Giáo được Minh Mạng ban hành vào năm 1836 và 1838. Trong năm 1836-37, có 6 giáo sỹ thừa sai bị hành quyết: Ignacio Delgado, Dominico Henares, José Fernández, François Jaccard, Jean-Charles Cornay, và giám mục Pierre Borie. Những làng Công Giáo bị phá hủy và tài sản bị sung công. Nhiều gia đình ly tán. Nhiều con chiên bị đóng dấu “tà đạo” trên trán. 117 người sau này được phong thánh tử đạo. (McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874, Praeger, p.31-32).

Lấy cớ để bảo vệ các giáo sỹ thừa sai và con chiên Công Giáo, thực dân Pháp đã nỗ sung xâm lược Việt nam vào năm 1858 theo đúng sách lược Thập giá và Lưỡi gươm.

Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon, p. 99) như sau: “Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”.

Theo tác phẩm Catholicisme et Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi, Giám Mục Puginier khẳng định rằng:"Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù, họ sẽ không thể tin cậy vào một ai, họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ, họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện hữu của họ sẽ bị nguy hại."

(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes. La comparison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés dennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouvaient donc réduits à limpossibilité dagir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils se verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

Vào nửa cuối thế kỷ 19, có khoảng 600,000 người Việt Nam cải đạo sang công giáo. Họ đã dễ dàng lìa bỏ nếp sống văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, trước khi Pháp đổ quân xâm chiếm Việt Nam, những người Công giáo được coi là những công dân lầm lạc vì nhẹ dạ và ngu dốt nên Triều Đình và nhân dân Việt Nam không nỡ ra tay tiêu diệt họ. Nhưng kể từ khi Pháp chiếm Đà Nẵng năm 1858, đa số giáo dân Công giáo đã trắng trợn ra mặt theo giặc và phản bội Tổ Quốc.

Hiện tượng đầu tiên là nhiều ngàn giáo dân rời bỏ Bắc Kỳ kéo vào Đà Nẵng xin đi lính tập cho Pháp. Đô đốc Rigault de Genouilly tiếp nhận họ tại Sơn Trà và huấn luyện họ tại đây. Sau đó, Genouilly đã tuyển chọn 6000 người trong số họ để nhập vào liên quân Pháp-Tây Ba Nha đánh chiếm Saigon.

Giám mục Gauthier (1810-1877) (tên Việt là Ngô Gia Hậu) được cử làm giám mục Đàng Ngoài từ năm 1846, có 66,350 giáo dân rải rác trong 346 xứ dạo (TSCGP, trg 528-530). Trong bức thư gửi đô đốc Dupré ngày 15-1-1874, giám mục Gauthier và Puginier đã thúc giục chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập một chính phủ Công giáo tại Bắc Việt (theo “Christianisme et Colonialisme au Vietnam 1857-1914 par Cao Huy Thuần – Paris 1960, p. 306).

Năm 1874, Gauthier khuyến khích các làng Công giáo tổ chức các đội dân quân võ trang, sau đó ra lệnh cho họ kéo quân đi đánh phá các làng bên lương ở Nghệ An và Hà Tĩnh.

Giám mục Gauthier và Puginier có nhiều tên đệ tử trung thành xuất sắc, trong số đó có Nguyễn Trường Tộ (theo hầu Gauthier 10 năm) và hai linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Điều.

Năm 1886, giám mục Puginier ra lệnh cho linh mục Trần Lục ở Phát Diệm tăng viện cho Pháp 5,000 giáo dân binh để phá chiến lũy Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. Về sự kiện này, linh Mục Trần Tam Tĩnh, Giáo sư đại học Laval, Québec, Canada, viết trong cuốn Dieu et César, trg. 41-42 (bản tiếng Việt: Thập Giá và Lưỡi Gươm) như sau:

"Trung tâm kháng chiến khốc liệt nhất là ở Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Đó là một làng được tăng cường bởi một vòng đai lũy tre, những ụ kháng chiến, những hầm trú ẩn, và một hệ thống hầm giao thông được xếp đặt một cách tinh vi. Để "bình định" làng này, quân đội Pháp đã kéo tới 2,250 binh sĩ với 25 khẩu đại bác, 4 tàu chiến dưới sự chỉ huy của đại tá Metzinger. Cuộc tấn công của Pháp ngày 18 tháng 12/1886 bị đẩy lui. Quân Pháp bao vây để tìm kiếm một chiến thuật mới. Sung sướng thay cho họ, một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này trở thành thống chế nổi tiếng của Pháp trong đệ nhất Thế Chiến), đã nghĩ đến việc cầu sự trợ giúp của Trần Lục, cha xứ Phát Diệm và là Phó Tướng đặc trách bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tịnh. Trần Lục, được giám mục Puginier ban phước lành, mang 5000 giáo dân Gia Tô đến giúp quân Pháp. Và Ba Đình bị thất thủ."

Nhưng lạ thay, Trần Lục được con chiên tôn vinh là "danh nhân anh tài không những của Giáo hội Công giáo mà còn của dân tộc Việt Nam chúng ta" (LM Trần Quí Thiện), "danh nhân không những trong nước Việt Nam mà còn cả ngoài nước" (Đức Ông Trần văn Khả) , "đức độ và tài ba", "LM Trần Lục là một vĩ nhân của lịch sử hiện đại" (ông Sơn Diệm Vũ NgọcÁnh), "gương chung cổ cho người cả nước đời đời soi chung" (ông Vũ Huy Bá).

Giám mục Puginier là người đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trên chính sách bình định Việt Nam của thực dân Pháp. Chính ông ta đã cung cấp cho Pháp rất nhiều tin tức tình báo do giáo dân khắp nơi thu thập báo cáo về các cuộc phản công của triều đình Huế và các cuộc binh biến của quân kháng chiến. Puginier chết tại Hà Nội năm 1892. Ông được chính phủ Pháp truy tặng Bảo Quốc Huân Chương và truy phong Sĩ Quan Danh Dự của quân đội Pháp để xác nhận công lao to lớn của giáo sĩ thừa sai này trong việc Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ hồi cuối thế kỷ 19.

Công Giáo Ở Miền Nam Việt Nam Giai Đoạn 1945-1975

 Theo “Việtnam, why did we go” của Avro Manhattan, chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc và sau đó Việt minh đã cướp chính quyền và tuyên ngôn độc lập vào tháng 9 năm 1945 vàsau đó thành lập chế độ Việt nam dân chủ cộng hòa ở miền Bắc dẫn đến Vua Bảo Đại thoái vị. Nước Anh thắng trận thế chiến thứ hai đã trao cho Pháp quyền giải giáp Nhật ở miền Nam và Pháp âm mưu quay trở lại Việt nam và áp đặt chế độ thuộc địa trên cả nước Việt. Tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ công nhận chính quyền Bảo Đại và sau đó gửi 2 chiến hạm đến Sài gòn để hỗ trợ Bảo Đại. Hoa Kỳ còn tài trợ cho Pháp 10 triệu Mỹ kim để tham chiến ở Việt nam để Mỹ rãnh tay tham gia vào chiến tranh Triều Tiên. Đến năm 1952, Hoa Kỳ đã gửi 200 chuyến thuyền chứa khí tài, 222 máy bay chiến đấu, 225 tàu chiến, 1300 xe tải và chỉ trả 1/3 chi phí chiến tranh ở Việt nam cho Pháp. Đến năm 1954, Hoa kỳ đã chi 2 tỉ Mỹ kim chiếm 80% chi phí chiến tranh giúp Pháp duy trì hệ thống thuộc địa. Tháng 5 năm 1954, Pháp bị thua trận Điện Biên Phủ và đến tháng 7, hiệp định Geneva được ký kết lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời chia cắt miền Bắc và miền Nam trong khi chờ tổng tuyển cử cả nước để bầu ra chính phủ. Công giáo đã vận động chính phủ Mỹ ngăn cản không cho tổng tuyển cử với lo ngại 80% chính quyền sẽ về tay Hồ Chí Minh mà không phải là Bảo Đại.

Từ 1954-1975, Việt Nam bị chia cắt thành Bắc Việt và Nam Việt. Dưới sự vận động của GM Ngô Đình Thục và sự hỗ trợ của hồng y Spellman Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm đã được Bảo Đại mời làm thủ tướng ở miền Nam. Sau đó Ngô Đình Diệm đã tiến hành cuộc bầu cử gian lận lật đổ Bảo Đại để lên làm tổng thống.

Trong giai đoạn 300 ngày ranh giới giữa 2 miền được mở của tạm thời, nhiều người công giáo Bắc Việt đã nam tiến do lo sợ sẽ bị Việt Minh ngược đãi. Ở một đất nước với phật giáo chiếm 70-90%, tổng thống Ngô Đình Diệm đã thi hành những sách lược thiên vị tôn giáo.

Là một con chiên của thiểu số công giáo, ông đã theo đuổi những chính sách chống lại đa số phật giáo. Chính phủ đã thiên vị công giáo trong việc thăng chức những người phục vụ công quyền và trong quân đội, cũng như việc phân phối đất đai, ưu đãi kinh doanh và thuế má.

As a member of the Catholic minority, he pursued policies which antagonized the Buddhist majority. The government was biased towards Catholics in public service and military promotions, and the allocation of land, business favors and tax concessions (Tucker, Spencer C. (2000), Encyclopedia of the Vietnam War, Santa Barbara, p.291)

Diệm từng nói với một viên chức cao cấp là không được đề bạt một người có tôn giáo phật giáo, “Hãy đề bạt những viên chức công giáo vào những vị trí nhạy cảm bởi vì họ có thể tin cậy được”. Nhiều quân nhân đã cải đạo sang công giáo để được thăng tiến (Gettleman, Marvin E. (1966), Vietnam: History, documents and opinions on a major world crisis, p.280-82).

Vũ khí được trang bị duy nhất cho Lực lượng dân quân tự vệ chống du kích cộng sản của công giáo mà không cho dân lương. (South Vietnam: Whose funeral pyre?". New Republic. 29 June 1963. p. 9.).

Một số linh mục còn có quân đội riêng và ở một số vùng bị cưỡng bách cải đạo, nạn cướp bóc, bắn phá và phá hủy chùa chiền xãy ra khắp nơi. Some Catholic priests ran their own private armies, and in some areas forced conversions, looting, shelling and demolition of pagodas occurred (Fall, Bernard (1963), The Two Viet-Nams, p.199).

Một số làng cải đạo hàng loạt để được nhận viện trợ hoặc tránh bị cưỡng bức tái định cư bởi chế độ Diệm. Some villages converted en masse in order to receive aid or avoid being forcibly resettled by Diệms regime (Buttinger, Joseph (1958), The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam, Praeger, p.993)

Giáo hội công giáo là chủ đất lớn nhất đất nước, và những đất đai của nó không bị quy hoạch và được trao những quyền được phép bành trướng thêm, trong khi vẫn hạn chế phật giáo. The Catholic Church was the largest landowner in the country, and its holdings were exempt from reform and given extra property acquisition rights, while restrictions against Buddhism remained in force (Karnow, Stanley (1997), Vietnam: A history, New York: Penguin Books, p.294).

Thực tế, công giáo cũng được miễn lao động công ích mà chính phủ bắt buộc mọi công dân thực hiện. Viện trợ của Hoa Kỳ được chính phủ phân bổ bất bình đẳng cho phần lớn những làng công giáo. Vào năm 1959, Diệm đã dâng nước Việt cho Đức mẹ Đồng Trinh (Jacobs, Seth (2006), Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of Americas War in Vietnam, 1950–1963, Lanham: Rowman & Littlefield, p.91).

Cờ trắng vàng của Vatican được treo thường xuyên ở tất cả các sự kiện công cộng trọng yếu ở miền Nam ( "Diệms other crusade". New Republic. 22 June 1963. pp. 5–6.). Những đại học mới xây ở Huế và Đà Lạt được đặt dưới quyền quản trị của công giáo để vận hành theo môi trường học thuật công giáo (Halberstam, David (17 June 1963). "Diệm and the Buddhists". The New York Times.)

Vào tháng 5 năm 1963, ở cố đô Huế nơi anh trai Diệm là Pierre Martin Ngô Đình Thục là Tổng giám mục, Phật giáo bị cấm treo cờ trong lễ Phật đản. Vài ngày trước đó, công giáo được khuyến khích treo cờ Vatican để vinh danh lễ kỷ niệm Thục được phong tổng giám mục. Điều này dẫn đến sự phản đối chống lại chính phủ, sau đó biến thành bạo động và bị đàn áp dã man bởi chính quyền Diệm dẫn đến sát hại 9 thường dân. Phong trào biểu tình rầm rộ chống lại chế độ Diệm xãy ra trong khủng hoảng phật gáo. Diệm sau đó bị hạ bệ và ám sát vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 (Karnow, Stanley (1997), Vietnam: A history, New York: Penguin Books, p.295).

Công Giáo Sau Năm 1975

Giám mục công giáo người Việt đầu tiên là John Baptist Nguyễn Bá Tòng được thụ phong vào năm 1933. Năm 1976, Tòa Thánh đã lần đầu tiên phong hồng y cho TGM Joseph Mary Trịnh Như Khuê, sau đó là phong hồng y cho Joseph Mary Trịnh Văn Căn năm 1979, và Paul Joseph Phạm Đình Tung năm 1994.

Hồng y Nguyễn Văn Thuận bị cầm tù từ 1975–88 và 9 năm quản chế sau đó được đề cử làm Thư ký của hội đồng giáo hoàng về Công lý và Hòa Bình rồi được GH John Paul II đưa vào Hồng y Đoàn năm 2001. GH John Paul II cũng “phong thánh” 117 người chết cho công giáo từ năm 1533 vào năm 1988.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp GH Benedict XVI vào 25/1/2007. Phái đoàn của Vatican cũng đến Việt nam hầu như mỗi năm kể từ 1990 để gặp chính phủ và thăm các giáo khu.

Tháng 10, 2014, GH Francis đã tiếp kiến TT Nguyễn Tấn Dũng ở Roma. Cả hai đã liên tục thảo luận về khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường nhưng chưa đề ra lịch trình cụ thể về trao đổi đại sứ.

Việc tấn phong giám mục vẫn là trở ngại giữa hai bên. Tháng 3 năm 2007, linh mục Thaddeus Nguyễn Văn Lý bị tuyên án tù 8 năm cho hoạt động chống chính quyền.

Vào 16/9/2007, kỷ niệm lần thứ 5 cái chết của hồng y Nguyễn văn Thuận, công giáo bắt đầu phong chân phước cho ông.

Vào tháng 12 năm 2007, hàng ngàn con chiên công giáo diễu hành, cầu nguyện đòi nhà cầm quyền trả lại Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội cho nhà thờ. Đây là mãnh đất có nguồn gốc của phật giáo bị thực dân Pháp tịch thu và cấp cho công giáo xây dựng, sau đó bị chính quyền cộng sản Bắc Việt lấy lại từ Vatican vào năm 1959. Đây là hoạt động dân sự rầm rộ đầu tiên do công giáp Việt nam tổ chức kể từ những năm 1970. Sau đó phong trào được hiệp thông bởi công giáo ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Đông cũng đòi đất tương tự ("Vietnamese Catholics broaden their protest demanding justice" ArchivedNovember 24, 2015, at the Wayback Machine, Asianews, 15 January 2008).

Tháng hai năm 2008, chính quyền hứa trả lại đất cho nhà thờ, tuy nhiên vào tháng 9 năm 2008, nhà cầm quyền thay đổi lập trường và quyết định phá bỏ tòa nhà để xây dựng công viên công cộng.


Thi Nguyen