KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN

Người Của Một Thời

- tiểu thuyết -

Nguyễn Văn Thịnh

 

KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN

(Nhớ Hiền và Nhàn)

 

1- MỘT BỨC THƯ:

Anh Ba….

Nghe tin dưới cứ bị đánh điểm, em lo cho anh quá! Thật may là anh không sao. Em mừng mà vẫn lo!

Hôm xuống chiến trường sao anh dấu em? Nghe nói bữa chia tay anh xỉn?! Khuya về anh còn đứng giữa xuồng đọc thơ và dám… ca cổ nữa, rồi té lộn xuống bưng! Phải anh định  làm như ông nhà thơ gì đó ngày xưa uống rượu đã rồi ôm cả vò nhảy xuống sông, định vớt trăng hay múc cho đầy bầu rượu?! Cũng may là anh biết lội. Như là anh coi thường… Còn em thì cũng hơi tin vào số mệnh. Anh đừng cười em nghen.

Tụi em sống vẫn vậy, quẩn quanh với cái kho đầy chuột! Anh biết không, mùa mưa nước nổi, họ hàng nhà chuột dưới bưng bồng bế nhau lên ở ké tụi em. Lúc đầu sợ muốn chết nhưng biết chạy đi đâu?! Chắc tụi nó cũng sợ mình nhưng cả hai đều bí! Đành vậy thôi. Mỗi khi thấy nó nghếch cái mỏ dài, giương đôi mắt thô lố nhìn mình, vểnh cái râu lên, cái bụng lép xẹp thoi thóp phập phồng… sợ run người và đáng ghét quá đi! Không có gì chán hơn phải sống chung với những vị khách không mời mà đến! Không ai dám gây chiến  nhưng cũng không thể chung sống hòa bình mãi với nhau như vậy được. Thật vô vị và vô duyên!

Nhàn nó nhắc anh nhiều lắm đó. Nó cứ ôm bụng cười hoài mỗi khi kể lại chuyện  anh ăn cơm lúc nào cũng đòi nước rau muống luộc. Mùa này nước lớn, rau muống đầy quanh nhà non và ngon lắm. Nếu có anh ở đây tụi em sẽ nấu cho anh một nồi rau muống luộc to đùng với thật nhiều nước, lại có cả hột vịt luộc dầm nước mắm, không có “bồ hóc” đâu nghen. Đã được là Bắc kỳ rặc chưa anh?

Tụi em sanh ở xứ người, chỉ nghe ba mẹ kể về quê hương như chuyện cổ tích. Lớn lên về đất Mẹ thì đồng hương lại chê là lai tạp, lại nghĩ mình đi hưởng lạc chán rồi về góp chuyện cho vui…

Em cảm thấy như anh có chuyện buồn. Chắc em chưa đủ tin để anh tâm sự. Em không trách anh đâu nhưng em không muốn anh vì buồn mà lấy rượu giải sầu! Em nhớ dạo mới ở ngoải vô, anh uống rượu còn bị sặc, thật mắc cười. Vậy mà bây giờ anh giỏi quá ta!

Ngoài trời đang mưa rất to. Lại thêm đám muỗi kéo hàng bầy vô trọ! Nó réo như ong. Em phải chun vô mùng ngồi viết. Cây đèn dầu dã chiến anh cho lật nghiêng mấy lần làm em hết hồn. Không hiểu sao mỗi khi trời mưa lớn kéo dài là em cứ có cảm giác buồn và nhớ làm sao? Chắc anh thì khác vì nhiều lần em thấy các anh dầm mưa rủ nhau đi nhậu rất vui!

Em nhớ một hôm anh tới chơi, trời cũng mưa to thế này, anh giở cuốn Literature de France của em, gặp bài thơ Pluie của ông Verleine, anh mải mê ngồi dịch. Tiếng Pháp em đọc hiểu được nhưng em không biết dịch thơ. Em rất thích mấy câu dịch cuối: Mối buồn rầu vơ vẩn / Mà không biết vì đâu / Không yêu không ghét ai / Cớ sao lòng buồn mãi… Em nhớ ông thầy già người Pháp có cái cổ dài ngẳng, đọc đến khúc này: C’est bien la pire peine / De ne savoir pourquoi / Sans amour et sans haine / Mon coeur autant de peine… mắt ông lim dim, giọng ông trầm xuống thưa và nhỏ dần như là cơn mưa rào sắp dứt mà vẫn cứ rung ngân mãi cái điệu buồn…

Thôi, không dưng em viết quá dài để anh mất nhiều thì giờ đọc. Nếu vì thế mà  thấy cảm phiền thì anh chỉ lỡ đọc một lần thôi…

                                      Chào  anh

                                                Em HIỀN

                                (Phan Thị Hằng)

*Em sinh ở xứ người, lớn lên chỉ nghe nói mơ hồ một vùng quê thành Nam xứ Bắc. Mang tiếng hồi cố hương mà chỉ toàn là ở rừng ở bưng thôi. Em mong hoài một ngày đúng nghĩa được về nơi quê mẹ.

Em hỏi thêm chút xíu thôi là anh và em cha mẹ đã cho mỗi người một tên mà sao khi thoát ly lại trùng một ý đổi tên Hiền? Phải người ta cứ ở hiền là sẽ gặp điều lành ha?  

 

2 -  MẤY TRANG NHẬT KÝ

                  

Tháng 8 năm 1970:

Mấy tháng nay không viết. Bao nhiêu biến động. Bao nhiêu gian truân. Có lúc tưởng như đời mình đến đây là hết! Mấy hôm nay vừa thóat qua cơn sốt rét ác tính, ra ngoài phum ở cho thóang vì bệnh viện nằm sâu trong rừng âm u ngột ngạt qúa. Tưởng được an dưỡng ít bữa, vậy mà hôm qua bị một trận B52… Ba bốn người nằm trong một cái chòi giữa rừng le lúp xúp, tưởng là ở sát với dân chắc sẽ được yên. Nào ngờ đang lơ mơ giấc ngủ trưa trên võng, bỗng thấy mặt đất đung đưa, sàng qua sàng lại… Biết là bị B52 rồi! Cả mấy người đều chúi đầu vào một cái ụ mối. Khói bụi, đất đá… đặc nghẹt, ào ào… Một miểng bom bằng bàn tay văng tới, tiện đứt cây xà, rớt xuống ngay bên mình, réo xèo xèo, khói khét lẹt… Chút xíu nữa nó chơi vào mông!          

Anh em bàn nhau trở vô rừng. Ngán lắm! Vô đó đội bom pháo ác liệt nhưng… sốt rét đáng sợ hơn! Mà ở đây trống trải thế này, lỡ lộ, nó đổ dò tập kích thì… chạy đi đâu? Ôi chao, mặc mẹ nó. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa! Không chết cách này thì chết cách khác! Mấy chục kilôgam thịt lột trước sau cũng hiến cho Tổ quốc!

Dạo về tới cuối đường Trường Sơn – vùng Quảng Đức, Mã Đà, mình cũng bị sốt rét, phải chia tay anh em vào nằm bệnh viện. Sợ nhất những cơn nôn ói thốc tháo tưởng ruột lộn ra… Lần này mới từ dứơi đồng bằng lên đã chịu liền mấy cơn rồi, nhưng chỉ eng eng, ớn lạnh, nóng người, mệt mỏi, chán ăn thôi. Ngày bé, lúc lên chín lên mười, cậu mợ đưa đi chạy tản cư vào vùng rừng núi Hòa Bình, mình cũng từng bị sốt rét nhưng chỉ là những cơn rét run thôi, chùm chăn một lúc rồi người lại nóng hực lên, tung chăn ra… cậu ôm lấy con… rồi hết. Cái sốt rét ở rừng gìa miền Đông này quái ác lắm, Bộ trưởng Y tế nó cũng lôi đi nhẹ hều!

Buổi sáng hôm ấy có thương binh cần cưa một cẳng chân. Mình mệt nằm trên chiếc võng dưới hầm. Khi y tá chuẩn bị xong xuôi, kêu mình qua mổ. Hầm mổ ở phía bên kia, mình gượng đi lên… bỗng thấy xây xẩm mặt mày, tất cả quay cuồng, mình ráng kêu lên… rồi không biết gì nữa.

Mở mắt ra thấy đang nằm trong lều bệnh. Anh em xúm xít chung quanh hỏi han, cấp cứu. Mình tỉnh, biết hết nhưng tai cứ ong ong… Chợt nghĩ tới những cơn sốt rét ác tính nó đưa người ta đi nhanh lắm. Anh Huyện đội trưởng Đức Huệ cùng lên đây một chuyến với mình để dự cuộc họp Tổng kết trận càn Ba Thu vừa rồi, cũng chỉ mấy cơn sốt rét thôi, một buổi tối đang ngồi chơi bài “tiến lên” thì gục xuống, đi luôn! Dạo trên đường Trường Sơn, có người vừa đến trạm nghỉ, lúi húi cắm cây cọc tăng và gục ngay tại chỗ… Mình kéo một bạn ngồi lại dặn dò: Chừng nào tớ thiếp đi là cậu phải gọi ngay cho tỉnh lại! Chết bởi mũi tên hòn đạn, bất ngờ, ặc một cái là xong. Chớ nghĩ tới lão mũi khoằm áo đen giơ cái liềm dài ngoẵng ra, kéo đi… cũng ớn!

Mấy hôm sau đỡ hơn, hết phải truyền dịch, đã ăn được tô cháo. Phải ráng nuốt thôi. Đấy là tiêu chuẩn phấn đấu để tồn tại . Ăn được thì sống, không thì chết! Húp một miếng cháo, nhắm mắt lại, dài cổ ra, nuốt cái ực, nghiến răng, mím chặt môi cho nó khỏi ộc ra, ngã người trên võng cho nó trôi xuống dạ dày… Thở vài hơi lấy sức lại ngồi lên tiếp tục cho hết một tô!

Nằm nghĩ vẩn vơ, thấy thèm miếng thịt nướng… Tưởng như ngửi được mùi thịt thơm phức lúc ăn bún chả, chảy nước dãi ra… Vĩnh – bệnh binh sốt rét, ra chợ mua về một miếng thịt heo. Anh em hì hụi nướng, khói xông lên cay xè, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng… Vậy mà nhai miếng thịt nướng, miệng lại đắng ngắt, nuốt khó trôi qúa!          

Sốt rét làm kiệt sức lâu dài lắm. Hồi mới vô, sốt rét vừa dứt cũng băng đồng chó ngáp kịp xuống đường phục vụ chiến dịch Mậu Thân. Suốt cả năm tưởng như bị liệt… Suy cho cùng thì có được bồi dưỡng gì đâu. Bữa sáng: nửa ca cơm rưới nước muối ớt hoặc muối tiêu. Trưa, chiều: một ca cơm với rau hẹ chấm tương. Cây hẹ mọc dưới đáy bưng, lúc đi xuồng, nhìn qua dòng nước phèn trong xanh, cây hẹ lả lướt đong đưa giống đám cỏ tóc tiên trong vườn cảnh… Một rổ hẹ đầy để giữa sân, người ăn mặc sức bốc chùm hẹ, cuốn lại, chấm tương… Tương đậu không xay, to bằng nửa hạt lạc, mặn mặn, chua chua nhai nghe sần sật, rát lưỡi. Vậy mà cả rổ rau cũng hết và tô tương to đùng cũng sạch.

Chảy dọc bên chợ Tà Nốt có con sông rộng, tắm bơi thoải mái nhưng nhớ phải mặc quần. Ở đấy có loại cá nóc mích đặc biệt lắm. Quân ta dưới đồng bằng mới lên, độc một bộ mặc trên người, sông vắng vẻ, cây cối um sùm, tắm trần thoải mái… Có cậu bị cá tớp mất đầu… phải vô viện đấy! Hình thù con cá giống như chiếc trực thăng nóc mích: đầu và thân liền một khối tròn vo, cái đuôi thòi lòi ngúc ngoắc… Chắc là mấy chú cá nhầm gặp bạn nên nó tớp đuôi rỡn chơi!

Qua sông là đất mình, đi vô rừng sâu hun hút, tới ngã ba cây cầy, ở Tây Nguyên gọi là cây kơ nia. Giữa rừng đại ngàn toàn cây cổ thụ chen nhau nên không mấy ai để ý tới cây nhưng ai cũng biết dưới gốc cây ấy có hai nấm mồ to tướng, người mới đi qua tưởng là gò mối. Chuyện kể rằng sau một trận B52 oanh kích, người ta phát hiện có hai người nam nữ nằm ôm nhau, thân thể nát nhừ. Không biết người của đơn vị nào, đang trên đường công tác hay có tình ý hẹn hò gặp nhau ở đây. Nhưng chắc chắn là trong lúc lâm nguy, họ che chắn cho nhau thì an táng hai người nằm kề mãi bên nhau tại đấy và thành địa danh “ngã ba tâm tình” như là cái mốc chỉ đường… Mỗi lần qua đấy, lòng mình cứ thấy nao nao và nhớ đến bài thơ của Tarat Tsepchenkô: Ba con đường lớn / Gặp nhau tại ngã ba đường / Ba anh em nhà nọ / Bỏ nhà đi tha phương / Người anh cả xa vợ / Người thứ hai xa em / Người thứ ba xa… một cô thiếu nữ… Bài thơ có âm hưởng buồn và kết cục thật não nề: Ba người đi không về / Cả ba con đường mọc đầy gai cỏ…         

Bây giờ rảnh rang, ngồi ôn lại chuỗi ngày qua…

Ông vua Shihanouk muốn tạo dựng nước Campuchia như một ốc đảo hòa bình. Ngài Quốc trưởng nghệ sỹ đánh bài nước đôi: chơi cả với tư bản và cộng sản. Nhưng ông thân thiện hơn với người Pháp và người Tàu. Với Việt Nam, hoàng triều Campuchia không quên mối hận thù lịch sử nhưng họ coi thường chính quyền Sàigòn và tỏ thiện cảm với chính phủ Cụ Hồ.

Người Mỹ không chịu!                                        

Biên giới Việtnam – Campuchia là khu đệm an toàn và là căn cứ vững chắc cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Từ lâu người Mỹ muốn xoá bỏ khu cấm địa ấy mà chưa làm được. Đầu năm 1970, người Mỹ hậu thuẫn cho tướng Lolnol và Sirikmatak làm đảo chính phế truất ngôi Quốc trưởng của Shihanouk đồng thời dấy lên mối nghịch thù truyền kiếp “cap duồn (chặt đầu người Việt)! Trong nhiều điều kiện lịch sử khác nhau, người Việt đã đến Campuchia định cư từ lâu đời nhưng vẫn luôn hướng về quê hương và số đông có cảm tình với các cuộc nổi dậy chống ngoại xâm ở quê nhà. Bây giờ người Campuchia bị kích động, khủng bố họ tàn nhẫn, giết chóc rất man rợ: nhà cửa bị chiếm đoạt, tài sản bị cướp bóc. Từng đám đông người bị lùa vào trại tập trung rồi xả súng đại liên, dập cối pháo vào tiêu diệt! Nhiều người bị đập bể đầu hoặc bỏ vào bao tải trôi sông, không phân biệt đàn bà, con trẻ hay người già. Một dòng người Việt tỵ nạn dồn về các tỉnh miền Nam. Chính quyền Sàigòn viện cớ bảo vệ kiều bào, đưa quân thủy bộ ngược dòng Cửu long, quốc lộ Một, quốc lộ Bẩy, vào sâu đất Campuchia để rước đồng bào hồi hương. Đến lượt người Campuchia phải nhận hậu quả của cuộc tiến công rửa mối quốc hận này, bất kể là thường dân hay sư sãi cùng chùa chiền. Thực ra, chỉ là mượn nguyên cớ ấy để liên quân Mỹ–Sài Gòn thực hiện ý đồ chiến lược “phòng ngự từ xa” đánh sâu vào cứ địa của lực lượng kháng chiến miền Nam sau khi họ đã đẩy lùi Quân giải phóng miền Nam ra xa các thành thị và căn cứ.

Đặc biệt khu vực Tân Lèo, Hồng Ngự, Ba Thu, Mỏ Vẹt – địa giới giáp ranh là cửa ngõ đi về căn cứ phải hứng chịu toàn bộ áp lực của cuộc tấn công quy mô lớn này thực sự lâm vào thế tiến bất khả dĩ – thoái bất khả lùi! Trong trận  chiến này, phía Sài Gòn toi mạng viên đại tướng và viên trung tướng bị bắn từ trên trời rớt xuống. Còn phía ta, toàn bộ Ban Chỉ huy trung đoàn tiền phương 320 bị diệt gọn tại một cái đìa gần sóc Chân Rà! Viên Phó Tư lệnh Phân Khu II chao đảo chiêu hồi!

Mình chưa bao giờ bị điêu đứng, gian truân, cận kề cái chết và mất mát buồn thương nhiều như thế.

Sớm ngày 2 tháng 5, mình ra Ba Thu nắm tình hình, định ghé qua đơn vị của Hiền.

Vừa tới Sâm Rôn thì đột nhiên pháo địch từ mọi hướng bắn tới tấp vào toàn khu vực Ba Thu. Mình nhảy xuống công sự dưới một bụi tre lớn. Cứ sau mỗi đợt pháo, mình lại nhô lên quan sát. Ngoài đồng trống xác người, xác trâu bò rải rác… Một người con gái chạy qua, mình nhận ra Nhàn và kêu lại. Nhàn lăn xuống hầm như người hết hơi :

- Em định vô bưng kiểm lại số hàng mới chuyển vô…  Pháo cứ từng đợt dồn dập không cho chúng tôi thoát khỏi công sự. Mỗi người một mối lo: Nhàn thì không biết cứ nên đi hay quay trở lại. Mình thì chưa biết tình hình cụ thể ra sao để về bàn với anh em. Trong tâm trạng bộn rộn ấy, mình chỉ có thể hỏi thăm đôi điều về Hiền là cô ruột của Nhàn. Hai cô cháu trạc tuổi nhau, cùng ở chung Kho quân dược. Mới quen ai cũng tưởng hai người là cặp bạn thân nên khi đã thân thiết với người này thì cũng thành bạn thân thiết của người kia. Là cô nhưng Hiền rụt rè và cả nể khác hẳn cô cháu Nhàn mạnh dạn và cứng cỏi. Mãi xế chiều pháo địch mới ngưng. Mình quyết định đưa Nhàn quay về đơn vị với Hiền .

Trời sập tối, mọi người nhốn nháo, đồ đạc bề bộn ngổn ngang. Mới nhận tin truyền đạt: Địch mở cuộc tấn công lớn vào toàn khu căn cứ. Các đơn vị để lại một bộ phân nhỏ bám trụ, chỉ chiến đấu khi cần. Số còn lại tự tổ chức vượt lộ Một rút về căn cứ trên có rừng sâu.

Đơn vị của Hiền đang hối hả sắp xếp lại để gọn gàng di chuyển. Biết tôi đói bụng, Hiền cuống quýt lo. Chén đũa văng vãi đi đâu, Hiền chặt một cành tre nhỏ cho tôi làm đũa. Cơm nguội ăn với muối tiêu thôi! Bỗng nhiên tôi thành người lạc lõng bơ vơ, Hiền khuyên tôi nên đi theo đơn vị của Hiền. Tôi đâu dám bỏ ngang như vậy. Lúc ấy ai cũng nhớn nhác bộn rộn mà Hiền thì cứ líu ríu với  tôi:                

- Anh đi một mình nguy hiểm lắm. Nghe nói xe tăng và lính nó áp sát Gò Cỏ Đỏ rồi!                  

Tôi đã quen với  cảnh lính nó í ới bao quanh, một mình gọn nhẹ có khi dễ lách. Tôi yên tâm vì Hiền đã có đồng đội lo rồi. Hiền đưa tôi ra tận đầu ngõ, dưới rặng tre tối om, Hiền dặn tôi giọng đầy lo lắng:

- Anh Ba đi phải coi chừng đó nghen!                            

Bước đi vài bước, mỗi người chỉ còn là cái bóng nhập nhòa…

Chia tay Hiền, tôi tới nhà anh Mười. Anh đã cho vợ con chạy về Hội đồng Sầm. Anh ở lại với mấy anh chị em cơ sở đều biết tôi. Yên tâm vì đã có HBM (Hầm Bí Mật), chúng tôi ngồi nhậu lai rai…

Vừa tảng sáng, tiếng máy nổ và tiếng rít nặng nề của xích xe tăng nghe rõ lắm, lẫn vào đó là tiếng lính nó gọi nhau í ới… Khi trời sáng bạch thì cả xe và lính nó ào tới nơi.

Lần đầu tiên trong đời tôi biết HBM là thế nào đây. Bảy người, 5 nam , 2 nữ ngồi sát vào nhau. Nghe rõ ở trên tiếng bước chân rầm rập, tiếng người quát tháo lao xao… Đột nhiên nghe tiếng thét:                       

- Hầm đây rồi! Đầu hàng đi! Lên mau!                Mọi người đều nín thở… Một tiếng nổ ùng… âm trong lòng đất, mọi người xô áp lại và níu chặt nhau không rời ra nữa. Chắc là căn hầm của đơn vị bạn bị lộ rồi, cùng một rặng tre này, ở đầu kia thôi. Tiếng chân người dậm, đạp huỳnh huỵch, lào xào. Đất vụn rơi xuống theo lỗ thông hơi rào rào. Tụi nó đi xăm hầm! Yên lặng tới mức không biết tim mình còn đập hay không. Cả hầm không nghe được dù chỉ là một hơi thở nhẹ…     

Không ai nghĩ đến thời gian. Những bước chân nhẹ và xa dần. Tiếng người, tiếng xe ì ì nhỏ hơn, rồi yên lặng quá. Trong hầm, những tiếng thở lúc một rõ. Có ai đó thở hào hển gấp gáp. Một lời nhắc nhẹ:     

- Thở nhín nhín thôi! Thở mạnh mệt lắm!           

Cái lỗ thông hơi nhỏ xíu, hun hút thông vào bờ tre còn lùa xuống chút ánh sáng… Tự dưng mình có cảm giác ở nơi sáng kia là dương thế và nơi tối om nàý khác chi  địa ngục… Nhưng mình còn tỉnh để nhận ra rằng ở trên ấy cái chết đang rình rập và ở trong căn hầm tối này sự sống còn hy vọng.

Đến khi qua lỗ thông hơi không còn chút ánh sáng nào, người ngồi ngoài cùng hé nắp hầm nhô lên. Tụi nó đã đi xa rồi. Mọi người đun đẩy lôi kéo nhau lên, tự tản đi theo công việc của mình.

Lò mò, dáo dác, lom khom, vừa đi vừa quan sát dò đường. Rặng tre lào xào đung đưa theo gió, nhấp nhoáng bóng cây lay động. Tôi ngồi thụp xuống bên bờ ruộng. Bất giác hít vào một hơi thở mạnh, mới thấy được hít thở khí trời trên mặt đất này là quý vô cùng. Nếu ngày qua lỡ chết ở dưới hầm tối om, ngột ngạt ấy thì bức bối tức tưởi quá! Bây giờ lỡ chết ở đây, ngay trên bờ ruộng hay giữa bưng này cũng đã. Tôi bật đứng lên, mạnh dạn định hướng cắt đường mà đi…

Tìm đường vô bưng. Anh em nhiều đơn vị tản lạc gặp nhau, nháo nhác!

Suốt ngày chém vè ở giữa đồng bưng cỏ cháy. Máy bay trực thăng rà sát cuốn tung cây cỏ, oang oang báo tin chiến thắng của nó, đọc rõ phiên hiệu đơn vị E 320 của ta bị tổn thất, tên những cán bộ chỉ huy đã hy sinh và ra rả kêu gọi chiêu hồi. Ớn nhất là mấy con chó hoang ở trong phum sóc phần sơ súng đạn ì ùng, phần sợ bị truy bắt tới cùng, phần đói khát nó lang thang vơ vẩn ngoài bưng, nghe tiếng máy bay rít, nó quýnh lên chạy quanh chỗ có người ẩn nấp, nó không dám sáp lại vì không biết người quen hay lạ nhưng nó cũng không dám bỏ đi vì dù sao nó cũng đã quen ở với người rồi. Lỡ máy bay nhìn thấy nó, bắn  chơi bừa đi, không đâu mình bị vạ lây. Xì ! Xì ! cho nó sợ xéo đi mà nó cứ cúp đuôi lùi lũi luẩn quẩn loanh quanh, đầu vẫn còn ngoái lại. Kiểu này coi chừng dễ lộ lắm!         

Đêm, chiếc C130 lên quần thảo, bắn rải khắp bưng. Luồng đạn 12 ly 7 rạch thành những đường đỏ lừ  lia xuống trong đêm tối mung lung và tiếng đạn réo liên tục nghe ồ… ồ… hệt như bò đái!

Không có tham mưu, tin tức gì. Xe tăng, lính nó bao quanh bốn bề! Mấy anh em rủ nhau vượt lên Sóc Nóc. Gặp toàn những anh không quân, không tướng, nghe kháo tin từ tổ cơ yếu báo ra chiếc trực thăng chở tên trung tướng Nguyễn Viết Thanh bị rớt ở Chân Rà, không xa chỗ mình chém rè hôm trước! Phải tìm đến một đơn vị quen để tá túc chớ lang thang thế này không ổn. Nghe tin Bệnh xá quân y đóng ở phum bên, chỗ ấy mình quen thân. Tình cờ cặp đại với một chú lính lạc. Hai anh em rủ nhau cùng đi. Đầu phum có một ngôi chùa. Trưa nắng, mệt, đói và khát, rủ nhau vào đó nghỉ chân. Toàn là người tứ xứ, quân lẫn với dân chạy loạn. Cùng là dân ly tán đang lỡ bước, gian nan vất vả mấy ngày nay, gặp nhau xáp vô, tào lao tiếu lâm đủ chuyện. Cả tá sư trong chùa áo vàng phơ phất, đi vào đi ra lượn lờ ý muốn lộ rõ ra đây là chốn tu hành nhà Phật trong khi mấy chiếc trực thăng hung hăng quần đảo cao, thấp, gần, xa. Đột nhiên chúng đáp xuống giữa đồng, lính nhẩy ào ra đánh thốc vào cuối phum và rượt ngược lên. Mạnh ai nấy chạy tán lọan cầu may. Hai anh em chạy đại một khúc rồi tắp vào bụi tre bên đường. Trên đầu, máy bay bắn loạn xạ. Sau lưng lính nó hò hét sộc tới. Mình hỏi:

- Sao?                                                                  

- Chạy thôi anh! – Chú vọt đi…

Đạn từ máy bay cầy xới, chỉ thấy khói bụi mịt mù. Quay lại, lính nó thấp thoáng ở cửa chùa! Một phản xạ tự nhiên: mình phóng vọt vào gốc bụi tre. Không thể hiểu nổi tại sao bụi tre lủa tủa gai góc vậy, trong tay mình ôm cái bòng mà nhẩy lẹ làng gọn gàng tới mức toàn thân không vết xước, áo quần vẫn lành nguyên. Và cha mẹ ơi… ngay tại đó là một công sự đã được những cành tre gãy do bom pháo, phủ kín mít miệng hầm! Giật mình nhận ra trong đó dã có một người, cũng vừa lúc lính nó rầm rập đuổi tới, có đứa rẽ qua đứng bên bụi tre dáo dác một hồi rồi băng qua đồng đuổi theo những người đang chạy. Đột nhiên người đó gạt mình qua định chui lên. Mình xô anh ta lại. Một giọng nói lơ lớ lập cập:                    - Tui người Miên! – Anh ta run lẩy bẩy.

Thì ra anh ta sợ chết lây. Mình đẩy anh chàng vô trong, ném cái bòng xuống, tay phải lăm lăm khẩu súng ngắn, tay trái giơ lên trái lựu đạn, vừa dọa vừa dỗ cho anh ta yên lòng:          

- Lính Sài Gòn ghét người Miên lắm! Bộ đội Việt Nam nó bắt chớ người Miên  nó bắn bỏ liền! Nếu lộ, tôi nhẩy lên bắn, chạy hướng này, anh chạy hướng kia!      Không nhìn rõ mặt anh ta nhưng anh ta run quá mình cũng nhột, trong khi lính nó chạy xông xổng vừa la hét chửi bới tùm lum vừa bắn tứ tung.

Trời tối dần, nghe yên ắng, mình kéo anh ta lên, chỉ cho anh ta đi một hướng và mình đi hướng khác…

Sự may rủi thật lạ kỳ. Hồi chiều, tụi nó đánh thẳng vào Bệnh xá mình đang tìm đến!

Hôm sau chỉ còn lại một mình! Cứ đi đại theo đám người bơ vơ… May quá, gặp Đội phẫu đang trong đội hình trung đoàn hành quân, nhiều anh em biết mình. Đội trưởng Lê Hai bảo:              

- Thôi, anh Ba nhập với tụi tôi, sống chết cùng nhau, chớ anh đi đơn lẻ thế này nguy hiểm lắm, lỡ có làm sao không ai biết mà tìm!

Thế là mình nhập vào đội hình của trung đoàn .

Trung đoàn này thật đặc biệt: các đơn vị chiến đấu đều nằm ở tiền phương, ở tuyến sau chỉ là khung thu dung, huấn luyện, hậu cần… quân số chẳng là bao. Đột nhiên chiến sự ập tới, trung đoàn phải tự vực dậy: tập hợp lính tứ phương rải rác, thu gom vũ khí, đạn dược không đủ cơ số, thực lực chiến đấu chưa được một tiểu đoàn. Lính quân y cũng đồng thời nằm trong đội hình chiến đấu… Bám theo trung đoàn còn vô số cán quân đủ loại: cán bộ cơ quan kè kè khẩu súng ngắn bên hông; lính hậu cần cuốc, xẻng, nồi niêu lỉnh kỉnh; lính quân nhu số đông là nữ lúc nào cười cũng được; thương binh cụt tay, cụt chân, hỏng mắt… chạy lạc vừa đi vừa chửi; cán bộ cơ sở, du kích địa phương hở ra là nhậu lai rai, nằm giữa đội hình chiến đấu nhưng thấy căng là tông khỏi công sự, ào ào chạy trước.

Cả tháng trời bị dồn đuổi mệt nhoài. Tối hành quân di chuyển, 1-2 giờ khuya tới điểm mới, lao vào đào công sự. Bộ phận có vũ trang nằm ở tiền duyên, tiểu liên xen với súng trường. Bộ phận hỏa lực súng ít, đạn phải bắn dè. Có hai khẩu B40, B41 còn mấy viên đạn chỉ chờ quyết tử. Trung đội cối chỉ có một khẩu 60 ly, chả biết đạn có bao nhiêu, chỉ thấy pháo thủ chia nhau vác nòng với bàn đế, không thấy ai vác đạn! Anh khẩu đội trưởng nói chỉ dùng nó để tập kích bất ngờ khủng bố tinh thần địch quân thôi! Khẩu đội 12ly8 có lúc bị hở sườn, xạ thủ vác súng chạy ngời ngời trước bộ binh. Số lính tá túc may lắm có được trái thủ pháo trong tay!

9-10 giờ, xe tăng nó bò đến lóc nhóc như cua. Bọn lính lăng xăng í ới vang đồng. May là binh lực nó tuy hùng hổ ghê gớm vậy mà cũng nhát. Pháo nó đủ loại dập nát địa hình, xe tăng nó dàn hàng ngang rú ga nhức óc, có chiếc nào liều lĩnh lò dò như sên mò gần hơn tới địa hình, chỉ cần một loạt AK chống trả là khựng lại, lùi ra. Bọn lính nó túm tụm ngồi tít mãi xa, kêu pháo bắn yểm trợ, chờ ngả chiều thì cụm lại. Ta chờ đêm tối là cuốn gói rút êm, lâu lâu dội mấy trái cối vào cụm đóng quân của nó. Coi như cả hai bên đều thắng: nó thì chiếm được một cứ điểm của cộng quân, ta thì bảo toàn được lực lượng! Cứ thế xoay như đèn cù, chờn vờn nhau như mèo với chuột. Có điều không biết ai là mèo và ai là chuột.

Tự lo chiến đấu trong tình thế hoàn toàn bị động, lại còn phải lo tự túc kiếm ăn. Dân bỏ chạy khỏi các phum sóc, tụ lại thành những cụm di tản giữa đồng trống bóc, lựa lúc êm êm mới lén về thăm nhà, sợ cả hai bên! Quân ta lại dựa vào các phum sóc lập địa bàn phòng ngự. 

Một chiều êm, không phải hành quân. Mấy anh em ngồi xúm xít uống nước lã, nói chuyện tào lao. Thằng Phúc có máu hảo ngọt, chỗ nào có gái là xáp vô rôm rả lắm. Vừa ăn xong đã biến mất tăm rồi, chắc là mò qua bên mấy em quân trang. Thằng Quân bảo:                   

- Mặt rỗ chằng chịt mà cứ ham trưng ra cho gái ngó!             

Thằng Rớt binh:                                        

- Vậy mà ngon lắm hen! Nó tán rỡn vậy mà các em xin chết hằng hà!

Chúng tôi chưa hiểu nó nói ý gì, nó cười mủm mỉm chứng minh:              

- Các em mê lắm, xin được hun, nó không chịu, các em thương quá cắn… vào mặt! Vết răng thành sẹo hằng hà trên mặt đó thôi!                                                     

Chúng tôi cười rũ ra:                                         

- Nó ở đây chắc mày lãnh đủ một trái da láng đó!         

Thằng Phúc mặt rỗ nhưng được cái có nước da trắng nên cũng đỡ. Thằng Rớt thì đen  nhẻm lại loang lổ những nốt lang ben bự tổ chảng cùng mình, nghe người ta mách giã củ giềng lấy nước thoa vô, vì vậy trong túi nó lúc nào cũng có dăm bảy củ giềng nên còn gọi là Rớt giềng. Thằng Phúc vẫn bảo:                

- Má thằng Rớt đi làm đồng đẻ nó rớt xuống xình nên da nó mới đen và bị nhiễm phèn như vậy!               

Hai đứa nó chơi với nhau nhưng lại hay nói đế nhau. Tuy nhiên chưa có sự cố xảy ra.

Chuyện đang rôm rả bỗng có tiếng chó kêu rít ăng ẳng ở đầu phum… Rồi một con chó chạy thục mạng rúc vào ngay giữa vòng chúng tôi ngồi, nằm rũ ra, thở đứt hơi như mong được sự chở che. Thằng Rớt nhanh tay ôm nó thảy vào giữa đống ba lô, quân dụng và phủ kín lên. Mấy chú lính ở bộ phân cối đảo qua, dáo dác nhìn vào, anh em tôi kêu vô chơi uống “trà thái đức” (!) nhưng các chú ngơ ngáo ngó quanh rồi bỏ đi. Lật đống ba lô lên: con chó to nằm… chết queo vì bị cú đập chấn thương nặng quá! Nó chạy tới thí mạng cho chúng tôi. Thằng Rớt giềng rất được việc. Chúng tôi còn cải tiến ướp muối xả ăn dè. Tất cả đều bí mật.

Ở đất chùa tháp này người ta kiêng ăn thịt chó. Nhà nào chó cũng hàng bầy mà chúng hiền lắm, không cắn người bậy bạ đâu. Chó chạy rông khắp các phum sóc không sợ đói vì tới bữa ăn, chủ nhà rải cơm thí ra khắp mặt sân. Nhưng từ khi cuộc càn quét mở rộng ra nhốn nháo thế này thì dù có bói cũng khó tìm được một con vật hoang nào! Ngay cả các bạn Rùm đo (giải phóng) Khmer vớ được con chó cũng áp giải nó đến cho xmamít (đồng chí) Việt Nam cùng nhau cải thiện. Dân lúc đầu cho không, sau thì đôikhơnia (đổi chác) lấy chiếc áo, chiếc quần tô châu hoặc là chiếc nón cối. Giá trị vật đổi cứ tăng dần lên. Có lần lính ta đi xóm về, chỉ còn vận chiếc quần tà lỏn, trên vai trần lặc lè vác chú cẩu mà miệng vẫn cười hả hê trước sự hoan hỷ của anh em.

Từ sáng, xe tăng nó ì ì ở tiền duyên. Có mấy chiếc lò mò rủ nhau tiến vào gần, bị bắn trả, nó lùi ra, kêu pháo dội. Bọn lính gom lại từng đám ăn trưa. Quân ta cũng giở gạo rang, cơm nắm ra ăn ngay tại công sự.

Xế trưa, xe tăng nó rù máy quay đầu đổi hướng. Tưởng là nó bỏ đi, quân ta chuẩn bị rời công sự. Đột nhiên mấy chiếc đi sau vòng qua đánh thọc sườn, đúng chốt của đội phẫu. Công sự có năm người, anh em ấn mình ngồi tút vô trong. Thằng Phúc ở ngoài, ló đầu lên bắn trả quyết liệt. Các công sự cũng đồng loạt hợp đồng, súng nổ râm ran. Pháo và 12ly7 trên tăng nó bắn ùng ùng, tặc tặc xối xả, bụi khói văng cả xuống hầm. Nghe chán tai rồi buồn ngủ. Bỗng thằng Phúc quay lại hét:  - Chuẩn bị lựu đạn. Tăng đang vô cánh phải!          

Mỗi người tỉnh ra, nhấp nhổm đủ mọi tư thế, tay lăm lăm trái lựu đạn.

Súng các loại rộ lên rát rạt, âm xuống hầm tiếng ùng… oàng! Thằng Phúc hét lên:         

- Cháy rồi! B41 chơi rồi!

Chúng tôi hiểu xe tăng nó bị cháy rồi nhưng một khi hoả lực đã bộc lộ cũng có nghĩa là quyết tử! Mọi người nín lặng, hồi hộp đợi chờ. Súng bé, súng lớn tặc tặc… đùng đùng nổ như pháo tết. Nóc hầm có lúc bị cày rung lên, đất đá rớt xuống ào ào. Tiếng súng thưa dần rồi đột nhiên ngưng hẳn. Tiếng tăng nghe rì rì nhỏ dần như nó lùi ra xa. Thằng Rớt ngồi sau sốt ruột hỏi ra:

- Sao rồi bay?                                            

Thằng Phúc đứng chắn ở cửa hầm không động đậy. Thằng Rớt tức hết chịu nổi chửi toáng lên:             - Mẹ kiếp, tán gái tía lia, giờ hỏi như câm! Điếc hà?!

Có thể là thằng Phúc bị điếc thật vì tai mọi người đều ù đặc. Thằng Rớt xô thằng Phúc qua bên, chòi đầu lên. Thằng Phúc chết từ lúc nào, đầu gục trên súng! Tất cả đều yên ắng. Trời sập tối, thằng Rớt trườn lên, bò qua mấy công sự bên, chút sau trở lại nó vừa thở hổn hển vừa chửi:                

- Trung đoàn rút mẹ hết ráo rồi, chỉ còn cánh quân y mình thôi. Lính nó cũng rút rồi!

Anh em từ các công sự trồi lên, phán đoán hướng địch, hướng ta và quyết định phải rút thật mau kẻo ăn pháo chụp bây giờ. Thằng Phúc được bọc trong tấm nylon, đặt nằm lại trong hầm. Chúng tôi quên mệt, chạy thật nhanh một hơi. Pháo địch bắt đầu dập vào trận địa. Anh em thúc nhau chạy xa để tránh những trái pháo lạc mồ côi nhiều khi bất tử không chừng lắm.

Anh em bàn lảng, không tìm về trung đoàn thử xem họ dám bỏ mình không? Mấy cha nhanh chân vọt lẹ lúc B41 triệt xe của nó. Hoả lực lộ rồi, nó có thể tập trung thọc vô giữa đội hình chiến đấu. Chiều hôm sau một tổ trinh sát tìm được chúng tôi. Cự nự nhau um xùm. Cái nghiệp quân y là vậy: lúc lâm sự mặc ai nấy lo nhưng khi khói lửa qua rồi người ta mới nhớ tới để giao ôm mớ thương binh!

Giá như hôm ấy xe tăng nó lướt đại vào, chắc là cả Đội phẫu đều độn thổ và không ai biết ở đâu mà tìm!

Bắt đầu mùa mưa! Chiều mưa lớn lắm. Lúc cơn mưa vừa dứt lại có lệnh hành quân. Mọi người lục tục chuẩn bị lên đường thì có mấy người hớt hải chạy đến. Chúng tôi nhận ra cùng anh em quân y mình thôi nhưng số này ở hậu cứ. Cậu nào cũng te tua, bơ phờ nhưng gặp chúng tôi thì mừng lắm, cứ như thuyền đắm gặp được bãi cạn. Thế là các cậu cùng nhập theo đoàn, vừa hành quân vừa kể chuyện:            

- Một đoàn các đơn vị khối hậu cần hàng trăm người chạy xà quần, vòng vo mãi. Khi qua được lộ Một thì trời sáng rõ, đành tản khai giữa một rừng tràm lúp xúp thoi loi giữa đồng. Chừng xế chiều thì bị lộ! Xe tăng nó dàn hàng ngang, rù máy lùi lũi bò vào cùng lúc pháo, cối, đại liên các cỡ xả liên hồi. Lính hậu cần không hoả lực, nhiều đàn bà con gái tay không, chỉ biết nằm khơi chịu trận! May là đổ trận mưa rào đột ngột, thật như là Trời cứu. Trận mưa lớn lắm, xe nó phải dừng lại, súng nổ thưa hơn. Những ai còn sức chạy bung tứ phía. Người ta chết, bị thương, bị bắt nhiều lắm!      

Lòng thấy nao nao. Mấy ngày rồi hành quân liên miên. Chưa biết cuộc càn này đến bao giờ dứt? Trời mưa làm đường trơn trượt. Người tôi lâng lâng nhưng không cảm giác một điều chi cụ thể. Mệt bã người. Cả đoàn dừng chân nghỉ tạm. Tôi gục đầu trên ba lô người trước ngủ thiếp đi. Tôi thấy Hiền, đôi chân lủng liểng, máu me đầy người. Hiền không nói gì, chỉ lắc đầu thôi, đôi mắt dài và đen nhìn tôi thăm thẳm, đôi môi nhợt nhạt khô quắt. Tôi cúi xuống nâng Hiền lên.  Bỗng Hiền giơ tay đẩy mạnh. Tôi bừng tỉnh giấc! Đơn vị tiếp tục hành quân, ai  đó ngồi sau thấy tôi còn ngủ nắm vai giật mạnh. Tôi đi như một cái máy. Ruộng còn nứt nẻ sau một mùa khô, làm trật chân đau nhói tận lên đầu. Tôi đi khập khiễng. Trong lòng không nghĩ, không cảm một điều chi.

3 -  MỘT BÀI THƠ :                                                                                         

Sang năm 1972, tôi đã chuyển qua nhiều đơn vị. Lần này tôi lại có dịp xuống chiến trường miền Nam theo ngã Ba Thu. Nơi đây đã có một thời được coi như là chợ trời ở vùng giáp ranh. Vậy mà bây giờ thưa vắng lắm! Không có bóng dân, kể cả người Campuchia và người Việt. Chỉ có du kích của mấy xã ven biên giới và mấy trạm giao liên ở luồn lách, len lỏi các bụi bờ và gò nổi giữa bưng. Cây cỏ um tùm. Đường đi  chỉ là những vết cỏ vẹt chưa mòn dấu đất. Dưới kia lính nó đang hành quân, chúng tôi tạm dừng lại ở đây chờ đợi. Ngày đêm, lúc nào cũng canh chừng biệt kích. Chúng tôi chỉ quẩn quanh một chỗ, không dám đi đâu. Địa hình thay đổi nhiều quá, khó mà nhận ra dấu tích xưa. Có lúc ngồi buồn, tự dưng tôi nhớ một bài hát hồi nào: Đất này buồn lắm ai ơi / Chẳng có cờ hồng, chẳng có bài ca / Xóm làng điù hiu xơ xác… Một anh bạn hỏi:

- Ông có nhớ ai không mà hát buồn thế?   

Đêm không ngủ được. Đang mùa khô, không phải căng tăng, nằm trên võng vẫn phải giăng mùng. Muỗi Đồng Tháp không bao giờ ít. Nhìn ra phía bưng mông lung, trời và đất gần nhau quá. Đêm không trăng nhưng sao vằng vặc. Sao đầy trời, ngôi nào cũng sáng, cũng nhấp nháy tưởng như mắt ai. Ngôi sao sáng nhất kia lúc chiều là sao Hôm lấp ló trên ngọn tre phía tây đầu xóm nhưng giờ nó đã lên cao tít giữa trời, đến gần sáng nó lại sà xuống tưởng đậu trên ngọn rặng tràm ở phía đông kia để thành sao Mai. Chợt nhớ hồi ấy có sự cố sao Chổi. Nó chính là sao Halley, cứ 76 năm một lần, nó đi tới gần Mặt Trời làm cho những đám bụi tuyết từ nó tung lên, tạo thành chùm sáng xanh khổng lồ đẹp lắm, toả ra như cây chổi quét vào vũ trụ, vừa lúc trái đất đụng vào chùm sáng ấy. Dân gian lưu truyền rằng nơi nào bị sao Chổi quét tới thường kèm theo đại họa. Trong Chiến tranh và Hòa bình, Lev Tolstoi có nói đến hiện tượng sao Chổi năm 1813, sau đó là tai họa đã giáng xuống nước Nga và Cutudôp đã dần cho Napoléon một trận ra trò ngay trước cửa ngõ Maskơva. Bây giờ đứng ở Ba Thu đây, nhìn về hướng đông thấy những quầng sáng xanh rọi chiếu rực lên bầu trời ở phía tây này. Anh Ba Tửu – một cán bộ cơ sở Việt kiều ở đây lâu năm bảo:

- Đấy là điềm xấu! Cán chổi ở phía Sài Gòn, đầu chổi quét lên mình đây!

Hiền cũng hỏi:                                           

- Anh có tin không ?                                  

Tôi cười…

Trong cuộc càn ấy, vợ chồng anh Ba và cả năm đứa con nhỏ chết chung trong một căn hầm. Còn Hiền, không biết làm sao? Vậy là cái chổi ấy quét lên đây thật! Bao nhiêu người bị nó quét bay đi.  Còn mình may là hạt bụi lọt trong kẽ chổi!

Tin tức về Hiền tôi chỉ biết thế thôi. Cuốn sổ nhật ký của tôi kẹp trong đó lá thư của Hiền là vật bất li thân, nó nằm trong cái sắc cốt tôi đeo kè kè tối ngày. Thư của Hiền tôi đã thuộc lòng nhưng nhiều khi vẫn cầm lên đọc. Nét chữ to mềm mại rõ ràng, đủ nét, đủ dấu. Tôi muốn thanh minh với Hiền.

Không phải là Hiền chưa đủ tin để tôi tâm sự đâu mà vì tôi chưa giải đáp được những điều Hiền hỏi. Chẳng là có lần Hiền thắc mắc:                       

- Làm sao đi làm cách mạng mà vẫn có bất công?!

Hiền cũng như tôi, chúng ta đi vào kháng chiến không phải là để thoát cái nghèo mà để mong được gần hơn cái thiện. Tôi đã từng có tâm trạng ấy và đã có lần hỏi một anh lớn hơn, từng trải. Anh trầm ngâm suy nghĩ trả lời:  

- Cái đích của chúng ta không phải hôm nay!     

Hôm ấy tôi đã nói lại với Hiền nguyên văn như thế. Đến lúc này tôi vẫn còn ân hận: Hiền đang gặp chuyện buồn vậy mà tôi lại nói vấn an! Cái đích ấy Hiền đi chưa tới! Và tôi sẽ đi được tới đâu?

Có một điều bấy nay tôi khắc khoải: Những tình cảm Hiền dành cho tôi ấy là chi? Chỉ là tình đồng đội, tình thương trắc ẩn của người con gái đa sầu, đa cảm như Hiền? Còn tôi bây giờ được nói thật lòng: Lúc nào tôi cũng nhớ Hiền, cả lúc vui lúc buồn, cả lúc tỉnh lúc say. Tôi không mượn rượu để giải sầu đâu mặc dù nhiều lúc rất buồn. Nhưng thật ra có còn gì vui hơn là… uống rượu! Uống rượu để vui và vui quá thường say! Duy chỉ nhớ tới Hiền là tỉnh. Nhưng tôi lại ít diện kiến với Hiền. Không hiểu tại sao lúc đó tôi đã nghĩ là để xem Hiền có nhớ tới mình không!

Bưng Đồng Tháp này mênh mông quá, khác chi biển bao la. Dù xa nhau nhưng chúng mình vẫn ở trong một bưng này – mé bên ni, mé bên tê thôi. Vậy là đã bao lần ta chung đội một trời mưa: Dưới ni, tôi co ro chùm tấm nilon, hé mắt nhìn trời, lòng nao nao khúc nhớ: Mưa đầy bưng đầy trời / Đầy mắt một trời mưa / Đầy lòng niềm nhung nhớ / Đầy trời màu nhớ thương! Trên tê, Hiền chong đèn thao thức, nghe mưa rào rào mà lòng vấn vương: Không thương không nhớ ai / Cớ sao lòng buồn mãi?!

Đêm hôm ấy, lúc chia tay Hiền có cảm thấy nao núng điều chi để lòng bịn rịn? Sao tôi không hiểu được đấy là buổi gặp gỡ cuối cùng!

Bây giờ tôi đang ở chỗ chia tay năm nào. Cảnh cũ đổi thay và người xưa không thấy. Nhớ lại những ngày gian truân ấy, Hiền lo cho tôi nhiều mà sao tôi không lo được cho Hiền?

Chưa lúc nào thấy dâng lên nỗi nhớ và thương như thế. Giấc mơ hôm nào chập chờn, nhập nhòa hư ảnh. Tôi ghi lại bằng thơ :

HIỀN  ƠI !                                             

Ai ngờ buổi gặp em chiều ấy                  

Là buổi cuối cùng xa cách nhau

Chiều nay nghe tin em bị giết

Trong rừng tràm lòng anh quặn đau

 

Xe tăng giặc rú gầm đây đó

Ngày chống càn, đêm lại hành quân

Chợp mắt ngủ trong giờ tạm nghỉ

Bỗng gặp em lặng lẽ âm thầm

 

Em đau đớn lắc đầu không nói

Và mắt em dòng lệ ngập ngừng

Đôi chân em… Ôi… có còn đâu!

Khắp mình em máu đỏ một màu!

Tiếng đồng đội kêu anh tỉnh giấc

Lại hành quân để mai chống càn

Ruộng nứt nẻ chân đau, ruột rát

Nỗi đau này biết bao giờ tan ?!

Sau ngày ấy, không nghe tin chính xác về Hiền. Tôi vẫn mong một điều gì…? Thời chiến này có những điều bất ngờ kỳ lạ lắm. Cái chết đến thật dễ dàng nhưng cũng không phải là dễ chết. Căn cứ bên kia, có anh bị khui hầm. Anh bật nắp vọt lên, tung trái nổ và xông thẳng vào đám lính. Chúng phải giạt ra rồi bắn đuổi như mưa. Vậy mà anh không chết. Nhưng khi thoát vòng nguy hiểm, anh dừng lại thở phào, chửi đổng thì một phát đạn mồ côi găm trúng màng tang! Người chết nằm gục tại chỗ, không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Kẻ bắn cũng không biết viên đạn lạc loài trúng đích. Cái sống, cái chết đều là sự ngẫu nhiên và tôi hi vọng, cầu mong Hiền không chết dù gặp nghịch cảnh nào.

 

4 -  MỘT BẢN CHẦU VĂN:

 

Một ngày cuối năm, anh em tổ chức cuộc gặp mặt về nguồn tại khu căn cứ  tiếp giáp Ba Thu (nay đã nằm bên kia biên giới). Tôi xếp công việc lại để đi gặp các bạn một thời và sâu xa trong lòng, tôi hồi hộp, mong rằng biết đâu sẽ gặp người xưa.

Hội trường đầy ắp mấy trăm người. Mặc cho người ta nói oang oang những gì theo nghi lễ trên kia và các cháu thiếu nhi bận lễ phục rất đep rộn ràng tiếng trống chào mừng các bậc lão phu, lão phụ, cô, bác, chú, dì… Chúng tôi cứ thoải mái ôm chầm lấy nhau, nói, cười, nước mắt nhòa sau kính. Người nào tóc cũng bạc ít nhiều. Có anh chị run run tay gậy, phải nói to vài lần mới nhớ bạn xưa. Không ít người giàu sang, quyền chức nhưng người thiếu nghèo lam lũ cũng nhiều. Người khá lên thì dễ nhận ra nhưng người vất vả phải nhắc tên mới nhớ. Tôi bùi ngùi nghĩ tới những anh chị đang bương chải mưu sinh, chân tay gân guốc, da xám xạm màu phèn, bộ đồ rộng mặc vội đến với bạn xưa rồi lại tất bật chia tay về với bao lo toan cho cuộc sống hàng ngày.

Cả Hiền và Nhàn không có ở đây! Bao lâu nay, sự tồn tại ấy thật mơ hồ vậy mà tôi vẫn thấy bàng hoàng… Hiền chết ngay tại chỗ, Nhàn bị thương, bị bắt. Nó kéo lên xe thì… chết! Những người trong cuộc vẫn nhớ như in trong đầu hôm ấy là ngày 14 tháng 5… Những người sau đó quay về tìm đồng đội vẫn không quên cảnh chiến trường thê lương, lạnh lẽo. Ánh trăng mờ tỏ chiếu trên xác người ngổn ngang. May ra nhận được một ai chỉ bằng di vật!

“Phải người ta cứ ở hiền là sẽ gặp điều lành ha?”. Cuối đời thế nhân thường tìm đến một tôn giáo nào để gửi niềm tin vào cõi hư vô khi hiểu ra ở thế gian này chẳng có gì là thật! Biết đâu cái sự diệt của con người thế tục hôm nay là sự giải thoát để họ thảnh thơi về cõi vĩnh hằng Chân-Thiện-Mỹ?

Tôi cảm thấy có một khoảng trống trong lòng. Khoảng trống ấy lúc một lớn hơn, rộng ra. Ngừơi tôi nhẹ hẫng, bồng bềnh. Trước mắt tôi những bóng người mờ tỏ. Bên tai tôi những tiếng người lao xao. Tôi lần ra xa, lánh vào chổ khuất.

Đây kia vẫn là cánh đồng bưng, dù cảnh đổi khác nhiều nhưng nước phèn vẫn xanh ngằn ngặt, những cụm tràm lúp xúp. Nắng chiều trải vàng nhạt nhòa trên những bãi cỏ năn. Gió bưng rào rạt đung đưa những bông hoa cỏ và dòng nước xanh sóng sánh xôn xao. Tôi thấy trào dâng lên niềm thương nhớ bạn cảm như sâu lắng hơn mấy mươi năm trước.

Ngày ấy cả lớp thanh niên không chỉ ở miền Nam, miền Bắc, và nhiều người đang sống yên ấm ở nước ngoài cũng nổi sôi lòng yêu nước, tha thiết được đứng ở tuyến đầu, cho dù ai cũng biết đời chiến chinh mấy người đi trở lại. Cái chết đến với mỗi người là chuyện bình thường, coi như xếp hàng kẻ trước, người sau.

Mới xa nhau hôm nào, tình cờ gặp lại đã ôm chầm lấy nhau, ngạc nhiên một lời chào: Chưa chết ha? Còn sống sao?

Sự tồn tại của mỗi người mới là điều kì lạ! 

Bây giờ, sự tồn tại ấy là điều tất nhiên. Gặp nhau thân tình lời chào cũng khác: Lâu nay làm gì? Ở đâu? Sống có “khoẻ” không? – Chữ “khỏe” hàm nhiều ý.   Cái chết dù ai cũng biết là quy luật nhưng khi nó đến vẫn là nỗi đau đớn ngỡ ngàng. Nó là bi kịch của đời người! Và nó đã là bi kịch với Hiền? ngay cả với tôi?   Nếu như ngày ấy tôi nghe theo Hiền? Nhưng sao không là điều ngược lại?

Ngồi dựa vào một gốc tràm, lòng tôi u ẩn, nặng nề. Nắng chiều đã tắt chỉ còn vương lại trên áng mây cuối trời màu vàng nhàn nhạt. Trước mắt tôi bưng như rộng ra, mập nờ sương khói. Khu nghĩa trang liệt sỹ vắng lặng mênh mông bạt ngàn gió thổi. Xa xa văng vẳng tiếng chuông nguyện hồn…

Cảnh bưng đã là một bóng nhoà mênh mông. Trên trời, mảnh trăng non như chiếc thuyền nhỏ sáng lên chơi vơi, bồng bềnh trong mây, chao đảo như đang giữa biển khơi sóng gió. Bên tai tôi vẳng lên tiếng hát, tiếng đàn xao xuyến nhớ nhớ thương thương da diết một người. Tôi đứng dậy ngẩn ngơ vơ vẩn, như có ai dẫn dắt…

Anh cung văn tay gẩy cây đàn nguyệt, ngất ngơ đờ dại, gân cổ lên hát: Ơi… í… a i ì ì a… Lậy cô… i… i… Tấu lậy cô… Người người… nhớ nhớ… thương thương… một người…  i í i ì … ì a…

Tôi chợp chờn sống lại thủơ xưa là đứa trẻ thơ nắm tay theo mẹ vào chùa. Người đâu đông thế, mờ mờ ảo ảo trong khói hương lơ lửng như sương. Những bóng người xì xụp thành kính nguyện cầu. Tiếng đàn tưng… tưng… tưng… réo rắt, nỉ non. Nhập nhòa bóng người con gái bảng lảng bước chân, quần trắng, áo xanh, giải lụa đào phơ phất, tóc đen đung đưa phủ bờ vai tha thướt, choàng lên mình tấm khăn vàng mỏng lượn lờ, cây quạt phất phơ, nén nhang nghi ngút, hương trầm ngào ngạt. Người con gái quay lại, nhìn thẳng vào tôi. Đôi lông mi dài. Đôi mắt đen thăm thẳm. Đôi môi mọng đỏ rung rung. Tấm thân mảnh mai mềm mại như cây sậy ngả nghiêng. Tôi ngờ ngợ… giống như Hiền! Người con gái với nét mặt buồn, quay quay nén nhang áp sát mặt tôi. Tôi sợ run lên lùi lại, lùi dần… Bỗng như giận giữ, cô giậm mạnh chân, hất tung lên mái tóc cùng tấm khăn choàng toả ra như áng mây bồng bềnh một màu vàng nhoà nhạt…

Tất cả đều tan biến, chỉ còn tôi chơ vơ ngơ ngẩn mơ màng theo tiếng đàn tiếng hát của anh cung văn cứ nỉ non réo rắt:

Thuyền ai lơ lửng chơi vơi

         Một vầng trăng khuyết í a…

trăng khuyết  giữa trời ì a…

giữa trời mờ sương…

         Một thân… í ì i… giữa chốn sa trường

         Ngại ngùng… ngại ngùng mưa gió… í a…

Tơi bời… tơi bời trúc mai        

         I í a…  i ì ì a…

Trăng kia nay khuyết í a…

nay khuyết mai tròn ì a…

         Người đi thăm thẳm í a…

thăm thẳm… í ì i… nước non ngậm ngùi

         I í a…  i ì ì a…

Người đi… chín nhớ mười thương í ì i… 

chín nhớ mười thương…

Phương xa…a… à a…

phương xa quê mẹ… í a…

nhớ nơi tìm về

I í a… i ì ì a…

Mai sau… i i…  dù đến bao giờ

         Dù đến bao giờ…

Đốt lò hương ấy ì i…

Đốt lò hương ấy í a…

một lòng… một lòng  xót thương…

         Lênh đênh í i… thân gái dặm trường ì i

Dặm trường thân gái… í a

dặm trường… lênh… đênh…

I í a… i ì ì a…

Tiếng hát trong vắt ngân nga như gió thoảng. Tiếng đàn tưng… tưng… hoà theo âm điệu í a…  ì a… nghe thiết thao réo rắt như sóng nước dập dồn, có lúc sầm sập ào ào như trận mưa rào mờ mịt phủ khắp mặt bưng,  có lúc thưa thớt, rỉ rả nghe nỉ non não nuột thấm vào từng đường gân thớ thịt làm da tôi sởn gợn lên những gai ốc…

 

Tháng 4/2000  –  8/2010

 

(đón đọc Chương 3: CHỊ TÔI)

 

   

Link http://sachhiem.net/VANHOC/N/NguyenvThinh_NCMTa.php