HỒ CHÍ MINH Trong “100 Nhân Vật của Thế Kỷ” của Tuần báo TIME

 

Stanley Karnow/ MD dịch

http://sachhiem.net/SACHNGOAI/snM/MD00.php

 02-Dec-2020

Sự thông thạo về chiến thuật đi rừng và tâm lý chiến trường của ông đã khiến quân Pháp và Mỹ phải khiếp sợ và cuối cùng đánh bại quân Mỹ. Sự khinh thường của phương Tây được thay bằng sự kinh hãi và theo thời gian trôi qua, sự kính trọng.

LTS: Đây là tài liệu lịch sử trích từ “100 Nhân Vật của Thế Kỷ” của Tuần báo TIME:

TIME: 100 Persons Of The Century

TIME MAGAZINE- SPECIAL SECTION

(LEADERS & REVOLUTIONARIES)

April 13, 1998 | Vol. 151 No. 14

http://content.time.com/time/magazine/0,9263,7601980413,00.html

(Bản dịch Việt của MD)

Với dáng người hốc hác, có chòm râu dưới cằm trong chiếc áo khoác xơ xác và đôi dép cao su sờn, Hồ Chí Minh đã vun đắp hình ảnh “Bác Hồ” khiêm tốn, nhân hậu. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn và nhiệt huyết theo chủ nghĩa dân tộc bị ám ảnh bởi một mục tiêu duy nhất: độc lập cho đất nước của mình.

Chia sẻ lòng nhiệt thành của mình, những người du kích rách nát của ông đã vượt qua những chướng ngại vật khó khăn để đè bẹp nỗ lực tuyệt vọng của Pháp nhằm giành lại đế chế của họ ở Đông Dương; sau đó, được xây dựng thành một đội quân chính qui, họ đã làm thất vọng nỗ lực khổng lồ của Hoa Kỳ nhằm ngăn những người theo cộng sản của ông Hồ kiểm soát Việt Nam.

Đối với người Mỹ, đó là cuộc chiến dài nhất - và là thất bại đầu tiên - trong lịch sử của họ, và nó đã thay đổi mạnh mẽ cách họ nhìn nhận về vai trò của mình trên thế giới.

Dưới con mắt của phương Tây, dường như không thể tưởng tượng được rằng ông Hồ sẽ thực hiện những hy sinh to lớn mà ông ta đã làm. Nhưng vào năm 1946, khi chiến tranh với quân Pháp bùng phát, ông cảnh báo họ rằng: "Các ông có thể giết 10 người của tôi cho mỗi kẻ mà tôi giết các ông, nhưng ngay cả với tỷ lệ đó, các ông sẽ thua và tôi sẽ thắng." Người Pháp, bị thuyết phục về ưu thế của họ, đã phớt lờ lời cảnh báo của ông và kết quả là phải chịu đựng một cách đau buồn.

Tương tự, các sĩ quan cao cấp của Mỹ cũng nuôi ảo tưởng rằng vũ khí tinh vi của họ chắc chắn sẽ làm suy sụp tinh thần của kẻ thù. Nhưng, như vị chỉ huy lỗi lạc của ông Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã nói với tôi tại Hà Nội năm 1990, mối quan tâm hàng đầu của ông là chiến thắng. Khi tôi hỏi ông ta sẽ chống lại cuộc tấn công dữ dội của Hoa Kỳ trong bao lâu, ông ta trả lời rằng: "Hai mươi năm, có thể là 100 năm - miễn là giành chiến thắng, bất kể giá nào." Thương vong nhân mạng thật khủng khiếp. Ước tính có khoảng 3 triệu binh lính và thường dân Bắc và Nam Việt Nam đã chết.

Ông Hồ là con út trong gia đình có ba người con, tên là Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1890 tại một làng quê miền Trung Việt Nam. Khu vực này được cai trị gián tiếp bởi người Pháp thông qua một hoàng đế bù nhìn. Những người nông dân nghèo khổ, những người bất đồng chính kiến truyền thống, phản đối sự hiện diện của Pháp; và cha của ông Hồ, một quan chức tại triều đình, đã bày tỏ thiện cảm của mình với họ bằng cách từ quan và trở thành một giáo viên lưu động. Thừa hưởng xu hướng nổi loạn của cha mình, ông Hồ tham gia vào hàng loạt cuộc nổi dậy về thuế, nổi tiếng là kẻ gây rối. Nhưng ông đã quen thuộc với các nguyên tắc cao cả của Pháp về liberté, egalité, fraternité (tự do, bình đẳng, bác ái) và khao khát được nhìn thấy chúng trong thực tế ở Pháp. Năm 1911, ông lên đường đến Marseilles với tư cách là một cậu bé chạy bàn trên tàu chở khách. Thành tích bất đồng chính kiến của ông đã lọt vào hồ sơ cảnh sát Pháp. Nó (mô tả ông Hồ) hiếm lời tâng bốc: "Vẻ ngoài ngượng nghịu ... miệng há hốc."

Tại Paris, ông Hồ làm công việc chỉnh sửa ảnh. Những nhà hàng sang trọng của thành phố nằm ngoài khả năng của ông, nhưng ông lại mê một thứ xa xỉ - thuốc lá Mỹ, tốt nhất là Camels hoặc Lucky Strikes. Thỉnh thoảng ông ghé vào một hội trường âm nhạc để nghe Maurice Chevalier, người có những bản nhạc quyến rũ mà ông không bao giờ quên.

Năm 1919, Woodrow Wilson đến Pháp để ký hiệp ước kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và ông Hồ, cho rằng học thuyết về quyền tự quyết của Tổng thống áp dụng cho châu Á, đã mặc một chiếc áo khoác cụt cởn, và cố gắng trình bày cho Wilson một danh sách dài những ngược đãi của Pháp ở Việt Nam. Bị phản đối, ông Hồ gia nhập Đảng Cộng sản Pháp mới thành lập. “Chính lòng yêu nước, không phải chủ nghĩa cộng sản, đã truyền cảm hứng cho tôi,” sau này ông giải thích.

Ngay sau đó, ông Hồ đã đi khắp thế giới với tư cách là một điệp viên bí mật cho Moscow. Cải trang thành một nhà báo Trung Quốc hoặc một nhà sư Phật giáo, ông ta xuất hiện ở Canton, Rangoon hoặc Calcutta - sau đó biến mất để điều dưỡng bệnh lao và các bệnh mãn tính khác. Như một kẻ mưu trí chuyên nghiệp, ông ta sử dụng một loạt bí danh khó hiểu. Một lần nữa, ông ta được báo cáo là đã chết, chỉ để đến một nơi mới. Năm 1929, ông tập hợp một số bạn chiến đấu ở Hồng Kông và thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông ta tự miêu tả mình là một người độc thân, một tư thế được tính toán để tiêu biểu cho can đảm đạo đức của ông ta, nhưng ông ta có ít nhất hai người vợ hoặc có lẽ là thê thiếp. Một người là một phụ nữ Trung Quốc; người còn lại là chị dâu của Giáp bị Pháp xử trảm bằng máy chém.

Năm 1940, quân đoàn của Nhật tràn vào Đông Dương và các quan chức Pháp ở Việt Nam, trung thành với chính quyền Vichy thân Đức ở Pháp, đã cộng tác với họ. Những người theo chủ nghĩa dân tộc trong khu vực chào đón người Nhật như những người giải phóng, nhưng đối với ông Hồ, họ không hơn gì người Pháp. Vượt qua biên giới Trung Quốc vào Việt Nam - lần trở về quê hương đầu tiên sau ba thập kỷ - ông đã thúc giục các đồ đệ của mình chiến đấu chống lại cả quân Nhật và Pháp. Tại một lán trại hẻo lánh, ông đã thành lập Việt Minh, từ viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Vietnam Independence League), từ đó ông có bí danh chiến đấu là Hồ Chí Minh - "Người mang ánh sáng".

Những gì ông mang theo là một tinh thần nổi dậy - chống lại người Pháp trước tiên và sau đó là người Mỹ. Khi cuộc chiến của ông Hồ leo thang vào giữa những năm 1960, Lyndon Johnson đã nhận thấy rõ ràng rằng Việt Nam sẽ làm tiêu tan chức tổng thống của mình. Năm 1965, Johnson đã thử một cách tiếp cận ngoại giao. Đã quen với việc ban phát sự bảo trợ cho các dân biểu ngoan cố, ông tin tưởng rằng chiến thuật này sẽ hiệu quả. "Lão Hồ không thể phớt lờ tôi", L.B.J. nói. Nhưng ông Hồ đã phớt lờ. Ông nhận ra rằng bất kỳ cuộc dàn xếp nào cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận chia cắt vĩnh viễn và từ bỏ giấc mơ thống nhất Việt Nam dưới lá cờ của mình.

Không có sự lay chuyển trong niềm tin, không có sự bẻ cong ý chí của Ông Hồ. Ngay cả khi chiến tranh ngày càng tàn phá đất nước, ông vẫn cam kết vì nền độc lập của Việt Nam. Và hàng triệu người Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh để đạt được cùng một mục tiêu.

Ông Hồ mất ngày 2 tháng 9 năm 1969, ở tuổi 79, khoảng sáu năm trước khi các chiến binh của ông tràn vào Sài Gòn. Khát vọng vẫn nồng cháy trong ánh phản chiếu vinh quang của chiến thắng sau khi ông mất, những người thừa kế của ông đã đưa thi thể ướp của ông vào trưng bày trong một lăng mộ đá hoa cương, sao chép như lăng của Lenin ở Moscow. Họ đã vi phạm những mong muốn cuối cùng của ông ấy. Trong di chúc của mình, ông chỉ rõ rằng tro của ông trong các bình nên được chôn trên ba đỉnh đồi ở Việt Nam, nói rằng: "Không chỉ hỏa táng tốt theo quan điểm vệ sinh mà còn tiết kiệm đất canh tác."

Tác giả: Stanley Karnow, người đã giành được giải thưởng Pulitzer năm 1990 cho cuốn “Trong hình ảnh của chúng ta: Đế chế Mỹ ở Philippines” (In Our Image: Americas Empire in the Philippines), và là tác giả của Một Lịch Sử của Việt Nam (Vietnam: A History).

Phần ghi thêm:

Những chiến binh

Các đội quân trên máy điện toán vào cuối thế kỷ gần như không thể tưởng tượng được bởi những người lính chiến đấu trên chiến hào tại Marne vào năm 1914. Dưới đây, là các tướng lĩnh đã viết lại quy tắc chiến tranh:

MỘT NHÀ CHIẾN THUẬT HIỆN ĐẠI


Sir Bernard Montgomery

Vị chỉ huy mặt đất được ca tụng nhất thế kỷ, Thống chế Sir Bernard Montgomery đã vượt qua đội quân sa mạc bất bại của Rommel để giành chiến thắng tại El Alamein, Ai Cập, vào tháng 11 năm 1942. Sự lỗi lạc đặc biệt của ông, thể hiện rõ nhất vào ngày D, là sự phối hợp nhịp nhàng của hàng trăm nghìn người, và máy móc với độ chính xác có thứ tự, trang nhã đến mức chết người.

ĐÁNH BOM TẢ TƠI


Tướng Curtis LeMay

Là một nhà vô địch về sức mạnh không quân, Tướng Curtis LeMay đã hoàn thành việc ném bom chiến lược trong Thế chiến II. Nguồn cảm hứng chết người nhất của ông: trận đánh bom lửa ở Tokyo năm 1945, giết chết 100.000 người Nhật. Có lẽ ông ta quá háo hức với trận chiến quyết định. Với tư cách là người đứng đầu Bộ Chỉ huy Không quân Chiến lược, LeMay nghiêng về một cuộc tấn công đầu tiên chống lại Liên Xô. Sau đó, ông kêu gọi ném bom miền Bắc Việt Nam cho "trở lại thời kỳ đồ đá."

GIẾT TÊN KHỔNG LỒ


Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tập hợp quân đội của mình từ những ngôi làng nghèo nhất của miền Bắc Việt Nam, người phương Tây đã coi thường. Nhưng thiên tài chiến thuật của tướng Giáp đã biến du kích thành vũ khí sắc bén chống đế quốc. Sự thông thạo về chiến thuật đi rừng và tâm lý chiến trường của ông đã khiến quân Pháp và Mỹ phải khiếp sợ và cuối cùng đánh bại quân Mỹ. Sự khinh thường của phương Tây được thay bằng sự kinh hãi và theo thời gian trôi qua, sự kính trọng.

Stanley Karnow

M.D. dịch

Nguồn http://content.time.com/time/magazine/0,9263,7601980413,00.html - April 13, 1998