Góp Ý Với “Đoan Hùng Tùy Bút” về Chữ Viết La Tinh

 

Trần Trọng Sỹ

http://sachhiem.net/TTS/VH/TranTrongSy_vh8.php

 03-Dec-2019

... Theo tôi, bài của ông chủ yếu dẫn dắt độc giả đi vào cánh rừng ngữ học hơn là bàn thảo về việc có nên vinh danh hay không nên vinh danh Alexandre de Rhodes, tức là ông lái đề tài sang câu hỏi "con dao có sắc bén, bền, tiện lợi có hữu ích hay không?" Trong khi chúng ta đang bàn về việc có nên hay không nên đưa lên bàn thờ kẻ cướp đã dùng con dao ấy, vào nhà, lật bàn thờ tiên tổ chúng ta, hãm hiếp con em nhà chúng ta,...

Lời mở đầu

Gần đây, phong trào tôn vinh Alexandre de Rhodes trở nên là một hiện tượng trên truyền thông và báo chí.

Anh Trần Đức Tâm, một nhạc sĩ cùng tôi có vài cơ duyên âm nhạc, đã giới thiệu cho tôi một bài viết rất có giá trị khảo cứu ngữ học linguistics trên trang FB của ông Đoan Hùng, chuyên đề về « quốc ngữ ». Tôi vào đọc, tưởng là có khảo luận hay đề nghị gì mới lạ, nhưng tựu chung ông chỉ bàn về kỹ thật phối âm, ghép âm của chữ Nôm ta và chữ Nhật Bản, để rồi kết luận rằng quốc ngữ là một phép lạ.

Đúng ra thì tôi lướt qua chứ không đọc từng chữ từng câu như thường lệ, vì bài viết nặng phần phân tích "kỹ thuật" tựa như người biết võ múa vài đường quyền giữa đám đông để được vỗ tay. Có vẻ như tác giả cố ý đem sự hiểu biết Nhật ngữ ra làm bàn đạp chính để phân tích tính cách khó khăn của công cuộc thoát Hán cho văn hóa Nhật Bản.

Bên Âu Mỹ, tiếng Trung được học nhiều hơn tiếng Nhật, nên người biết về tiếng Nhật, đa phần là người từng du học hoặc sinh sống ở Nhật. Tiếng Nhật khá được xem trọng ở các nước yếu trong vùng Đông Á như Việt Nam, Philippines và Hàn quốc vì là láng giềng, chứ sang Âu Mỹ, tiếng Nhật hoàn toàn mất chỗ đứng sau tiếng Trung. Ngày nay trên thế giới, nếu ai ở Âu Mỹ, trong curriculum vitae (học lực và thành tích) mà ghi thành thạo Trung ngữ, còn dễ kiếm việc hơn là ghi thành thạo Anh ngữ, vì Anh ngữ gần như bắt buộc cho mọi ngành nghề. Trong thương mãi và du lịch nếu biết thêm Trung ngữ thì cơ hội tiến thân rất dễ dàng. Tôi từng du lịch Nhật Bản, và thấy rằng, ai biết Trung ngữ, đã có thể đọc được ít nhất hơn phân nửa các bản chỉ dẫn đi đường hoặc quảng cáo trên phố.

Về phần phân tích chữ Hán và Nôm của bài viết, tôi đồng ý với ông Đoan Hùng rằng, chữ Nôm đúng là khó học hơn chữ Hán (Ngã quốc tự giảo nan ư Trung Quốc), nhưng lời than của Ngô Thì Nhậm chỉ đúng với người bình dân không có điều kiện đến trường, đã không có điều kiện đến trường, ngay chữ Hán cũng không ai đọc được, và vì thế mà xưa kia, dân ta trọng chữ đến nỗi thấy bất kỳ thứ gì có chữ Nho, đều luôn cung kính gọi là chữ của « thánh hiền ». Tôi nhớ lại thời ấu thơ, mẹ tôi không dám gói đồ bằng bất cứ thứ gì có in chữ Hán, lại bảo tôi rằng không tôn trọng chữa của thánh hiền thì con sẽ ngu. Thực vậy, đạo Nho dạy cách xử thế trên căn bản đạo đức, có tam cương, có ngũ thường, có đức nhân, có trung quân, ái quốc, dù học chữ Hán nhưng chưa bao giờ làm Hán nô. Dân tộc ta lại nhờ tinh thần Nho học trong tam giáo mà gìn giữ được cõi bờ suốt cả chiều dài lịch sử với những câu văn hùng tráng bằng Hán văn như Nam quốc sơn hà nam đế cư, tuyệt nhiên định phận tại thiên thư, hùng tráng tuyệt vời, nên nếu gọi đó là đạo thánh hiền, tưởng cũng không gì quá đáng. Nguyễn Trãi có thể đại diện cho sĩ phu Hán Nho dùng văn hóa Hán Việt để đánh bại quân Minh, và làm sách Bình Ngô Đại Cáo, một áng thiên anh hùng ca không người Việt nào đọc mà không rướm lệ, nhưng hoàn toàn bằng chữa Hán, nếu không dịch Nôm, thì La Tinh của các ông có sờ được cọng lông của bài văn trấn quốc này không?

Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,

Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.

Duy ngã Đại Việt chi quốc,

Thực vi văn hiến chi bang.

Sơn xuyên chi phong vực ký thù,

Nam bắc chi phong tục diệc dị.

Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,

Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.

Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,

Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

 

仁義之舉,要在安民,

弔伐之師莫先去暴。

惟,我大越之國,

實為文獻之邦。

山川之封域既殊,

南北之風俗亦異。

自趙丁李陳之肇造我國,

與漢唐宋元而各帝一方。

雖強弱時有不同

而豪傑世未常乏

Bài viết của ông về ngôn ngữ học, tôi hoàn toàn không nên chen vào nếu nó chỉ dừng lại trong phạm vi này.

Tôi không quan tâm đến kỹ thuật,  không phải chỉ trong ngữ học, mà trong bất kỳ lãnh vực nào, vì tôi không có nhiều năng khiếu cho phạm trù này.

Bài viết của ông thực ra là nhằm ca tụng sự ảo diệu của Việt ngữ La Tinh, nặng phần so sánh cách phối âm La Tinh với các phương pháp ký âm khác, nhưng đại loại, đó chỉ là kỹ thuật phiên âm, tựa như những nốt do, re, mi, fa, sol, la, si... hoặc hò, xị, xang, xê, cống, phàn, liu trong âm nhạc. Ngày nay ta xài Piano, guitar, violon, rất ít xài hoặc gần như loại bỏ các cây đàn kìm, đàn tranh, đàn bầu, đàn độc huyền ...nhưng âm nhạc vẫn là của ta, diễn đạt tư tưởng và tâm hồn ta, chứ các nốt nhạc chỉ là công cụ hay phương tiện để ký âm cho các quãng âm khác nhau, chúng không phải là âm nhạc. Nhưng ông lại có thể nhả ra một câu nói đầy xúc phạm, và ngụy biện, cố tình đưa phương tiện lên làm cứu cánh, như sau:

Với chữ “Quốc Ngữ” không những là phương tiện để người Việt hội nhập vào nền vãn minh hiện đại của thế giới , không những “Tây” mà cả “Đông”, mà còn giữ gìn di sản cha ông.

Hãy thử tìm hiểu đoạn văn trên của ông như thế nào?

Chữ viết La Tinh chưa hẵn đã chiếm số đông để được gọi là đại diện cho văn minh thế giới trên mặt địa cầu. Nếu tính dân số của ba khối dân Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia theo Hồi giáo ta đã có sấp sỉ 4 tỉ người, chưa kể Nga, Hy Lạp, và các nước nhỏ như Nhật, Hàn, Thái, Miến... e rằng chữ La Tinh chưa phải là đa số. Tuy nhiên tôi không cảm thấy khó chịu khi Đoan Hùng viết như vậy, vì quả thật, chữ La Tinh đang có sức ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới với sức mạnh kinh tế và khoa học kỹ thuật của các quốc gia sử dụng chữ La Tinh mà đặc biệt là bắc Mỹ và Tây Âu. Tuy nhiên tới vế không những “Tây” mà cà “Đông”, mà còn giữ gìn di sản cha ông, thì tôi bắt đầu nhìn ra được ý đồ giương đông kích tây của tác giả. Tôi không tin rằng khi ta sử dụng vần La Tinh cho chữ viết của ta thì ta hội nhập vào văn minh không những Tây mà cả Đông. Tây thì không có gì bàn cãi, nhưng thế nào là Đông? Tác giả dù chịu bỏ ra cả trang giấy để nói chữ Hán Nôm khó học, nhưng lại không dám bỏ ra một hàng để giải thích vì sao chữ La Tinh lại là hội nhập với văn minh Đông phương? Đó là chưa kể ông ta đã « hỗn hào » dám viết tiếp rằng nhờ chữ La Tinh ta còn gìn giữ được di sản cha ông, và cũng chẳng giải thích. Tôi nghĩ chắc Đoan Hùng cho rằng, khi ta sang phi trường Bangkok, Thượng Hải, hoặc New Dehli thì ta vẫn có thể đọc được chữ La Tinh tên của các thành phố, các lối đi trong phi trường, hoặc các tín hiệu như cấm hút thuốc, phòng vệ sinh v.v...

Tôi không hiểu được có ai ngu xuẩn đến độ cho rằng nhờ biết 24 chữ cái từ A đến Z theo La Tinh mà ta có thể hội nhập với văn minh Trung Hoa hay văn minh Ấn Độ ? Chẳng lẽ văn minh Trung Hoa hay Ấn Độ chỉ vỏn vẹn có vài chữ như restroom, water closet, hoặc no smoking trong các hành lang của phi trường quốc tế? Nói thực khi sang Nhật hay Trung Quốc, người nói được tiếng Anh ngoài phố không nhiều như ở Việt Nam, mà cho dù có nhiều người nói tiếng Anh ở bất kỳ nơi nào, thì điều đó không có nghĩa là nhờ chữ \quốc ngữ\ của Việt Nam mà ta hội nhập với họ. Tôi dám cam đoan với Đoan Hùng rằng ông không nhờ có alphabet La Tinh mà hiểu tiếng Anh giỏi hơn một người Ấn Độ không xài La Tinh. Nếu ông nghĩ như vậy thì trí óc của ông nên được tư vấn bởi một chuyên gia.

Đìều tồi tệ nhất là khi ông viết rằng nhờ chữ Việt La Tinh mà người Việt giữ gìn di sản cha ông.  Xin lỗi ông Đoan Hùng, di sản của cha ông chúng tôi không ở bên Vatican, không được viết bằng Việt ngữ La Tinh, thì làm sao mà chúng tôi lại có thể gìn giữ được khi không biết một chữ Hán hay nửa chữ Nôm? Nếu không có các bản dịch từ chữ Nôm ra chữ La Tinh, các ông có thể giữ gìn được các di cảo của tiền nhân? Và cho dù toàn bộ di sản đã được dịch, thì các ông cũng chỉ có các bản dịch, hoàn toàn không mang giá trị của nguyên tác.

Chắc ông biết nhà khảo cổ học Gustave Dumoutier từng nói với bạn của ông ấy là viên thống sứ Bắc Kỳ Paul Bert vào thời đại người Pháp ráo riết đầu áp đặt chữ La Tinh lên đầu cổ người Việt một nhận xét rất khách quan của một kẻ chiếm đóng và đô hộ, như sau :

« ...Si les enfants annamites, sortaient de nos écoles sans pouvoir lire et écrire les caractères les plus usuels,... ils seraient devenus des étrangers dans leur propre pays... ». Il nhésitait pas à affirmer que si la langue française peut être pour les Annamites le véhicule de certaines connaissances utilitaires, elle ne saurait guère devenir lagent de leur éducation morale. (xem nguyên văn)

Tôi tạm dịch :

"...Nếu những đứa trẻ An Nam, sau khi tốt nghiệp trường của chúng ta, đều không còn có thể đọc và viết những chữ viết hằng ngày của chúng...thì chúng trở thành người ngoại quốc trên chính xử sở của chúng...". Ông còn không ngần ngại xác định rằng nếu tiếng Pháp đối với người An Nam là dụng cụ chuyển tải được một số kiến thức hữu ích, nó cũng khó có thể trở thành một công cụ cho việc giáo dục mang tính đạo đức.

Gustave Dumoutier nhìn nhận một cách ám chỉ rằng, làm cho người Việt quên gốc, cho dù Pháp có cho họ vài kiến thức thực tiễn (certaines connaissances utilitaires), cũng khó có thể là một phương tiện mang tính đạo đức. Khi dùng từ "đạo đức", Dumoutier nhìn nhận sự gian manh của kẻ thống trị âm mưu biến con dân xứ mình xâm lược thành người ngoại quốc đối với di sản văn hóa của chính họ.

Tôi dám bảo đảm một điều rằng, người Trung Quốc hay Nhật Bản, hay bất kỳ một dân tộc nào có nền văn hóa khác với La Tinh như Ấn, Nga và các nước Hồi Giáo, với sức học và sự hội nhập văn hóa vào thế kỷ 21, họ đều có thể phiên âm chữ viết của họ ra La Tinh một cách dễ dàng, chỉ cần một nhóm chuyên viên cọng các chừng vài tháng là có thể hoàn thành các luật tắc ký âm bằng La Tinh cho bất kỳ ngôn ngữ nào. Nhưng không ai muốn hay dám làm điều này.

Vì sao ?

Họ cảm thấy khó có thể cắt đứt cuốn rốn của chính mình.

Tuy cha mẹ tổ tiên ta rất nghèo khó, ta có thể nhận kẻ khác làm cha nuôi giàu sang hiển hách, nhưng tình yêu mà ta dành cho cha mẹ ruột, văn hóa ruột, quê xưa, làng cũ không thể bỏ đi. Nên rất nhiều dân tộc thà giữ văn tự rắc rối do tổ tiên để lại hơn là chế ra cách viết bằng chữ La tinh để dễ hòa nhập vào đại dương media của thế kỷ 21, chứ đừng nghĩ là họ không làm được.

Cả một nền văn hóa mấy nghìn năm, không thể đánh đổi lấy cách phiên âm cho gọn, giản dị, dễ học, dễ phát triển qua sự uyển chuyển của ký âm bằng La Tinh.

Nói thực, nếu đã xem phương tìện quan trọng hơn cứu cánh, thì tôi đề nghị bỏ hết các ký tự đặc biệt hay các dấu như ?, ~, ., ă, â, ư, ơ luôn, thay vào có bằng cách viết biểu lộ các dấu ấy bằng một luật ký âm khác hoàn toàn trùng khớp với Anh ngữ, thí dụ có thể thay chữ "ư" thành "uw", chữ "ơ" thành "ow" (chỉ là thí dụ thôi), thì ta không cần có bàn phím khác, phần mềm khác, chỉ cần mua máy điện toán của bất kỳ xứ nào xài La Tinh là ta có thể viết được chữ Việt mà không cần bất kỳ phần mềm nào.

Ngay bây giờ mà đòi bỏ các dâu, các âm đặc biệt như ư, ơ thì tôi e là sẽ bị kẻ quá khích cho ăn dao găm hay súng, chứ nói gì là phá hủy cả một hệ thống chữ viết được truyền lại từ 2,3 nghìn năm !

Cho nên tôi tin rằng các dân tộc như Hàn, Nhật, Hoa, Ấn, Miên, Thái, Ả rập họ không La Tinh hóa vì họ bất tài không thể làm được, mà vì họ hãnh diện về tổ tiên, gìòng giống của họ, không muốn đánh đổi cả một chiều dày lịch sử của mình để lấy cho dù một chiếc xe biết bay.

Tôi không tin rằng, nếu không có Albert Sarraut hay Martial Merlin áp đặt lên đầu lên cổ nhân dân ta phải dùng chữ viết La Tinh, mà cho đến ngày nay ta vẫn còn xài chữ Nôm hay Hán, nếu có một cuộc trưng cầu dân ý đòi thay chữ Nôm, Hán bằng chữ La Tinh của Francisco de Pina, thì chưa chắc người Viêt Nam sẽ bỏ phiếu thuận. Họ không dễ thay đổi thói quen như vậy, dù rằng học chữ Hán và Nôm rất khó.

Đơn cử một trường hợp như sau:

Một số bạn thuộc lòng hai câu thơ sau đây, được cho là của Không Lộ Thiền Sư, bằng âm Hán Việt :

Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh

Trường Khiếu nhất thanh hàn thái hư.

有時直上孤峰頂,

長叫一聲寒太虛

Người đã thích thi ca, thì đọc và thuộc như vậy, chả ai muốn dịch ra tiếng việt làm gì, vì dịch ra, nó mất sự hùng tráng, mất đi văn phong cổ điển đượm mùi thiền và mùi thoát tục trên ngọn cô phong.

Một thí dụ khác:

Người VN cuốn chả giò (người Bắc gọi là Nem) bằng bánh tráng gạo, một số người TQ bắt chước chả giò VN làm, rồi họ nảy ý thay bánh tráng gạo bằng bánh tráng mì, dễ chiên và giòn hơn. Lúc đầu mới ăn, tôi cũng thấy thích và có phần thích hơn chả giò bằng tráng gạo VN, vì lạ, cắn vào nghe giòn rụm và thơm mùi lúa mì, nhưng chỉ vài lần cho lạ miệng, về sau tôi thấy chả giò cuốn bánh tráng mì thì không bao giờ động đũa, vì nó không ký thác toàn bộ hương vị Việt của tôi vào miếng cắn như với bánh tráng gạo quê hương, dù chiên khó hơn, quấn khó hơn.

Cái thời buổi bỏ Nôm sang La Tinh đã xấp xỉ 100 năm, người thời nay ngoái đầu nhìn lại, chỉ nhìn thấy cái lợi ích chứ không thấy cái tình cảm văn hóa lưu luyến trong nét bút của người xưa.

Theo tôi, bài của ông chủ yếu dẫn dắt độc giả đi vào cánh rừng ngữ học hơn là bàn thảo về việc có nên vinh danh hay không nên vinh danh Alexandre de Rhodes, tức là ông lái đề tài sang câu hỏi "con dao có sắc bén, bền, tiện lợi có hữu ích hay không ?" Trong khi chúng ta đang bàn về việc có nên hay không nên đưa lên bàn thờ kẻ cướp đã dùng con dao ấy, vào nhà, lật bàn thờ tiên tổ chúng ta, hãm hiếp con em nhà chúng ta, mưu toan bắt cả nhà làm nô lệ, nhưng không thực hiện được tên cướp đã trốn đi và bỏ lại con dao. Đây là hình ảnh mà Charlie Nguyễn hình dung ra.

Đại khái cũng tương tự như Pháp vào xâm lăng Việt Nam, tạo ra quốc lộ 1, đường xá, trường học, nhà thương, cầu cống và hệ thống xe lửa Bắc nam...

Ta vẫn xử dụng đến ngày nay những gì Pháp xây dưng và để lại, hoàn toàn chả ai chống đối hay đòi hủy bỏ các "công cụ xâm lăng" kinh tế và văn hóa của Pháp, nhưng không vì vậy mà đất nước VN phải treo cờ Pháp, hát quốc ca Pháp, hay học lịch sử Pháp rằng chúng ta là con cháu của người Gaulois như trẻ con bên Pháp.

Biết phân biệt hai sự kiện như vậy đi, rồi bàn tiếp, nếu không, ông nói gà, bà nói vịt, cho đến vô tận vẫn không thể kết thúc được tranh luận.

Chúng ta không hô hào bỏ chữ La Tinh, nên sự bàn luận của bài này, tuy rất có giá trị ngữ học, lại đi quá xa đề.

Việc trở về với chữ Nôm là irreversible (bất khả vãn hồi), nên bàn về sự tiện ích của chữ việt La tinh là dư thừa, nó cũng tựa như ngày nay bảo người Việt ném bỏ hết điện thoại di động thì sẽ ăn dép ném vào mặt. Tôi không hề có ý ném bỏ chữ Việt La Tinh, cũng như không có ý khuyên mọi người không sử dụng điện thoại di động. Nhưng tôi cũng chả thấy cần phải tìm ra kẻ chế ra chiếc điện thoại di động đầu tiên mà đưa vào văn miếu tôn thờ, đúc tượng, đặt tên đường và ca hát nào là thánh tổ, nào là văn hóa vĩ đại...

Mà cho dẫu cần vinh danh kẻ từng tạo ra Việt ngữ La Tinh, thì phải kể ra nhiều việc như sau:

1 => Rhodes không phải là Inventor của "quốc ngữ".

Ông cũng chỉ là kẻ học "chữ annamite" được La tinh hóa từ Francisco de Pina, một giáo sĩ Bồ đi trước Rhodes và ít có nợ máu nếu không nói là không có nợ máu với dân tộc VN, vậy cái tượng đài vinh quang của Rhodes nên nhường chỗ cho Francisco de Pina.

Nữ học giả Thụy Khuê với lượt bài Quê Hương Ngày Trở Lại, có viết như sau:

Từ năm 1972, linh mục Đỗ Quang Chính (ĐQC) đã phân tích và chứng minh cặn kẽ để trả lời câu hỏi này trong cuốn Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 (Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn, 1972) hiện vẫn còn là tác phẩm tiêu biểu nhất về chuyên đề này. Linh mục đã báo động dư luận về việc tôn vinh thái quá Alexandre de Rhodes, ông đã đi khắp các thư viện công tư, thư viện công giáo Âu Á để tìm tư liệu, và ông đã tìm ra đầy đủ tư liệu viết tay để chứng minh rằng Alexandre De Rhodes không phải là người khai sinh ra chữ quốc ngữ.

Trong bài nghiên cứu về chữ quốc ngữ với nhan đề Phải Chăng A. de Rhodes là người sáng kiến ra quốc ngữ? Tác giả Alain Guillemin người Pháp cũng đã viết như sau :

Le titre de notre article Alexandre de Rhodes a-t-il inventé le quốc ngữ? est bien sûr ironique. Nous savons, comme le dit Alexandre de Rhodes lui-même, qu’il n’a pas inventé le quốc ngữ. Si éminent que soit son rôle, nous verrons qu’il n’est que le maillon d’une chaîne et que l’hommage rendu à, l’illustre jésuite ne doit pas être l’arbre qui cache la forêt.

Tôi tạm dịch :

Tiêu đề bài viết mà chúng tôi đưa ra « phải chăng Alexande de Rhodes là kẻ phát minh ra quốc ngữ?» quả thực hơi có tí mỉa mai. Chúng ta đều biết, cũng như chính A. de Rhodes tự thừa nhận, ông ta không phải là người phát minh ra quốc ngữ. Dù vai trò của ông rất sáng chói, chúng ta cũng chỉ thấy được ông là một mắc xích của sợi dây, và việc tôn vinh dành cho ông, cũng không nên vì ông là một tu sĩ Dòng tên nổi tiếng, không nên làm cây đại thụ che khuất cánh rừng.

Đa số người Pháp khi viết về de Rhodes, thường nhắm mắt làm ngơ, tán tụng ông là người phát minh ra chữ Việt, riêng Alain Guillemin ít ra có đủ liêm sỉ để nói lên sự thật, dù bài viết của ông cũng ca tụng Rhodes hết lời.

Ngày nay, bất chấp các tài liệu thực về tác giả của chữ quốc ngữ đủ nhiều để chúng ta không ai còn lầm lẫn, một số người vẫn trâng tráo cứ nhất định Rhodes là cha đẻ chữ \quôc ngữ\. Chỉ khác xưa với nay là, người VN đã đủ ăn, đủ mặc, bắt đầu biết suy tư văn hóa, không còn là thời đại « Ối, họ đặt đường gì kệ họ, mình cứ lo sao ngày có đủ hai bữa cơm cho gia đình ». Tôi còn nhớ lúc nhỏ từng đi ngang đường Bá Đa Lộc, và cũng chẳng màng biết Bá Đa Lộc Đa Phước kia là ai ? là cái gì ? nhưng ngày nay tôi biết hắn là ai, cho nên, rất nhiều người đã trưởng thành như tôi, đang có sự chống đối đặt tên đưòng Alexandre de Rodes tại Đà Nẵng.

Thực ra ở Sài Gòn đã có đường Alexandre de Rhodes. Nay họ muốn được đằng chân thì lân đằng đầu, đặt thêm ở Đà Nẵng. Dù lần này họ đưa thêm tên của de Pina vào cho ra vẻ thực thà, nhưng đích nhắm của họ là Rhodes mà không phải Pina.

Thôi thì thế này, tôi đề nghị xóa tất cả mọi đường A. de Rhodes tại VN, thay vào bằng Francisco de Pina. Như vậy, nhà nước VN đã đáp ứng được nguyện vọng của giáo dân Công giáo, đồng thời cũng không làm tổn thương tự ái của người Lương; một công mà hai việc, thật là một phương thức win win cho mọi phía. Điều này cũng chứng tỏ người Lương không kỳ thị tôn giáo, họ chỉ kỳ thị một kẻ vô văn hóa như được phân tích trên các dữ kiện thực bên dưới đây.

2 => Vì sao người Công giáo đặt cuộc nhiều vào Alexandre de Rhodes hơn Francisco de Pina?

Thứ nhất, Francisco de Pina gần như là kẻ ngoài cuộc của Công giáo Việt Nam, vốn là con đẻ, là tay sai của thực dân Pháp. Người Pháp là kẻ chủ mưu tiêu diệt văn hóa Viẹt Nam, dựa vào công cụ truyền giáo của các thừa sai người da trắng, và dĩ nhiên Rhodes là người gần với chính quyền Pháp hơn các giáo sĩ khác, nên Pháp tìm cách đánh bóng Rhodes hơn Pina hay các nhà truyền giáo khác.

Tác giả Mai Kim Ngọc trong một bài viết trên Việt Báo đã nhận xét rất tinh tế như sau: Pháp thanh toán chữ Nôm song song với chữ Nho. Thật ra Pháp dư biết chữ Nôm cần còn phải thanh toán nhanh hơn. Nó là chữ viết mà cũng là tiếng nói của người Việt. Hình dạng gần gũi với Hán tự, chữ Nôm như cái gai trước mắt họ. Còn lối viết này ngày nào là họ còn chưa yên tâm trong ý đồ tiêu diệt toàn bộ ảnh hưởng Tàu trên con người và văn hoá Việt.

Ngày nay, phong trào vận động đặt tên đường cho A. De Rhodes có một mục đích thật thâm hiểm, mà tôi nghĩ rằng, ngay nhà nước VN cũng chưa hề nhìn thấy, đó là họ muốn giành toàn bộ chỗ ngồi trên chiếc chiếu văn hóa Việt Nam, vốn được dành phần rất lớn và nổi bật với lịch sử hằng nghìn năm từ chiếc nôi văn hóa lập quốc Văn Lang trải qua Lý, Trần của đạo Phật nổi danh là mái chùa che chở hồn dân tộc. Họ vận động toàn lực, bất kể cuộc tranh đấu có thể kéo dài hằng thế kỷ, bất chấp tiền bạc và nhân lực cần thiết phải tốn kém bao nhiêu, nhất là đến lúc họ cảm thấy gần về đến mức, nên họ đưa toàn lực cho lần này, miễn sao Alexandre de Rhodes ngồi được vào chiếc chiếu văn hóa VN có hoặc không có Francisco de Pina, vì Rhodes mới là biểu tượng của kẻ khiêu chiến với 4 nền tảng văn hóa Việt Nam, bao gồm tam giáo Phật, Lão, Nho và văn hóa thờ cúng ông bà của người Việt Nam chứ không phải Francisco de Pina. Khi ca tụng A de Rhodes họ cố ý không một chữ nói về việc Rhodes gọi Thích Ca là nó, là thằng; gọi Khổng, Lão giáo là ma quỷ ; gọi việc thờ cúng ông bà cha mẹ tổ tiên là tà vạy. Nếu họ thành công đặt được A. De Rhodes lên chiếc chiếu văn hóa VN, mặt ngoài họ không nói, nhưng bên trong họ ăn mừng và cười với nhau rằng, cái lũ ngu ấy chúng đâu biết rằng, nếu chấp nhận  A. de Rhodes thành một biểu tượng văn hóa, vô tình chúng đã mặc nhiên chấp nhận rằng Phật, Lão, Nho và truyền thống văn hóa thờ cúng ông bà của người Việt, và cả cái văn hóa Pắc Pó (từ này thỉnh thoảng tôi đọc thấy trên mạng), là những thứ mọi rợ, mê tín, dối láo, lường gạt, ma quỷ, cần phải bị tiêu diệt !

Nếu Rhodes không có tư cách của một tên vô lại, vô giáo dục, chỉ truyền giáo như Francisco de Pina thì ta cũng có thể cho Rhodes một chiếc ghế ngồi bên cạnh làm chức phó cho Francisco de Pina.

Đừng nghĩ rằng chúng ta phân biệt chủng tộc, văn hóa. Hãy liếc mắt sang nền văn minh Kitô giáo vào cùng thời điềm các thừa sai Bồ và Pháp sang Việt Nam truyền giáo, rồi giả thiết vào cùng thế kỷ 16, lúc de Rhodes hoặc de Pina sang Việt Nam, nếu một nhà Nho, một tu sĩ Phật giáo cũng theo thuyền buôn, sang truyền đạo bên Âu châu, rao giảng rằng Tử Bất Ngữ Quái Lực Loạn Thần – 子不語: 怪, 力, 亂, 神 ( Khổng Tử không nói chuyện quái dị, bạo lực, loạn động hay thần linh), hoặc Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị tri hĩ" – 務民之義,敬鬼神而遠之,可謂知矣 (Làm việc nghĩa có ích cho dân, thay vì dạy dân chuyện mê tín thần thánh ma quỷ mới là kẻ tri thức) thì có bị đưa ra tòa án inquisition (toà dị giáo) thiêu sống hay không ? Trong khi Rhodes được nhóm ca tụng tô vẽ nào ông bị cấm đoán, bách hại, dù ông vẫn vào được cung đình nhà Nguyễn để cải đạo cho bà vương thái phi, vai vế mẹ của chúa Nguyễn Phúc Lan, bà này có tên thánh là Marie Madeleine Minh Đức đang được CG Việt Nam tôn làm thánh mẫu tiền hô tại VN.

3 => Nếu kẻ ấy có tư cách và lối ứng xử văn hóa.

Nhớ ơn kẻ cho ta kỹ thuật phiên âm tiếng Việt, đưa kẻ  ấy lên bàn thờ, văn miếu, âu cũng là việc làm đúng với đạo lý thánh hiền, nếu kẻ ấy có tư cách và lối ứng xử văn hóa.

Vậy thì kẻ cho ta hầu hết các từ và toàn bộ các khái niệm trong Việt ngữ như "quốc gia, hiến pháp, chính phủ, tôn giáo, khoa học, văn học, lan, mai, cúc, trúc, đông, tây, nam, bắc, xuân, hạ, thu, đông", mà theo tôi là  tim óc và gan ruột mà dân tộc ta vay mượn từ chữ Hán. Có thể nói rằng, nếu TQ đòi chúng ta trả lại cho họ toàn bọ các "tiếng nói" (chứ không phải chữ viết), mà ta vay mượn từ nền văn minh của họ, rồi đưa Francisco de Pina, hoặc Aleandre de Rhodes lên thờ ở văn miếu, đừng xài các từ Hán Việt, thử xem, chúng ta có giao tiếp với nhau được nữa không chứ chưa nói là sáng tác văn chương, tiếp nối văn học nghệ thuật, phát triển văn hóa dân tộc (tất cả những từ bác học của VN đề có căn ngữ từ chữ Hán). Thiếu các khái niệm như tổ quôc, dân tộc, nguồn cội, văn minh, văn hóa, khoa học, xã hội, chính trị... thì tôi tin rằng chúng ta chả khác nào người thực vật, có cái đầu, nhưng thiếu hoàn toàn chất liệu để suy tư.

Vậy món ăn về khái niệm, triết học, lịch sử từ mấy nghìn năm ấy, ta có cần mang ơn không ? Tôi không hề có ý khiến dân tộc biến thành Hán nô (khoan chụp mũ). Người ta cho mình cả bình lẫn rượu, mình không cám ơn, có ai khác cho minh cái lọ mới, mình sang rượu vào chiếc bình mới, rồi hô to lên rằng đây là đỉnh cao văn hóa, công ơn trời bể, trong khi rượu vẫn chả ai khen hoặc "đòi nhớ kẻ trồng cây". Tôi thực sự không còn hiểu nổi người VN chúng ta nữa, bình quý, hay rượu quý ?

Có một số người còn chưa chịu hiểu chúng ta không những vay mượn âm và từ của văn hóa TQ, mà còn cả khái niệm tư tưởng của họ. Tôi đưa ra bảng thí dụ bên dưới để một số các bạn thấy rõ hơn, nếu ta có cả hai bên cột trái và phải, thì ta có thể bỏ các khái niệm ta lấy từ văn hóa Trung Quốc, còn nếu cột bên phải để trống, ta không thể từ bỏ văn hóa Trung Quốc, vì bỏ đi thì ta không còn biết diễn đạt như thế nào:

Hán

Nôm

Hỏa tiễn

Tên lửa

Quốc gia Nước nhà
Phi cơ Máy bay
Hỏa xa Xe lửa
Quốc hội Họp nước (?)
Văn hóa ?
Văn chương ?
Thiên nhiên ?
Triết học ?
Lịch sử ?
Dân Tộc ?
Thủy Lợi ?
Phương Trình ?
Quỹ đạo ?
Đồng Trinh ?
Thánh ?
Thần ?
Học ?

Trên đây chỉ là một phần vạn các khái niệm mà ta vay mượn từ văn hóa Trung Quốc. Nếu kể ra hết, thì ta gần như vay mượn toàn bộ khái niệm và tư tưởng của họ. Người ta có thể thay đổi một ngôn ngữ, nhưng khái niệm và tư tưởng thì không thể. Đã có ai hô hào phải cám ơn người Trung quốc không ? Họ cho ta cả thức ăn nước uống lẫn chén bát đấy. Cho dù ngày nay ta đập bể chén bát của người TQ, thay vào đó bằng chén bát của Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes, ta vẫn tư tưởng và khái niệm bằng văn hóa TQ. Nếu có chén đẹp mà không thức ăn đồ uống thì chén dùng để làm gì? Điều rất lạ là, kẻ hô hào mang ơn chén bát lại cũng chính là kẻ hô hào hãy ném thức ăn TQ đi.

Một điều rất nhỏ nhưng lại rất quan trọng, là chúng ta không có động từ học trong khi chúng ta có các động từ khác như đi, đứng, nhìn, nghe, làm, ăn, uống...đặc biệt, động từ học 学 thì chúng ta phải vay nợ từ văn hóa phương Bắc ! Văn hóa TQ đã từ lâu trở thành tim gan, máu mủ của chính văn hóa Việt Nam, nên chẳng ai còn màng đến chuyện ghi ân nhớ nghĩa nữa. Tới đây, tôi vẫn khẳng định là cho dù chúng ta có cùng một nguồn gốc văn hóa với Trung Hoa, chúng ta sẽ sử dụng vốn liếng ấy để chống lại bất kỳ cuộc xâm lăng nào đến từ Trung Quốc.

4 => Theo tôi, đạo diễn quan trọng hơn người viết truyện phim:

Bạn viết một vở kịch rất hay, nhưng nếu không có đạo diễn, diễn viên, sân khấu, và nhất là người bỏ tiền đầu tư hay còn gọi là nhà sản xuất, thì vở kịch của bạn có được lưu truyền không ?

Bạn viết một nhạc phẩm tuyệt vời, nhưng bạn hát rất dở, và không có một ban nhạc hòa âm cùng với ca sĩ, nhất là nhà đầu tư để phát hành, thì nhạc phẩm tuyệt tác của bạn sẽ âm thầm theo bạn xuống đáy mộ.

Tương tự, Francisco De Pina chế ra chữ viết La Tinh, nhưng nếu không có hai quan toàn quyền Pháp, một là Albert Sarraut, hai là Martial Merlin; Sarraut đầu tư vào tạp chí Nam Phong của Phạm Quỳnh, Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh, và động viên cũng như giúp đỡ nhóm Pétrus Ký, Huỳnh Tịnh Của tùy theo vùng, từ năm 1907 đến sau năm 1917, Merlin ký sắc lệnh đưa chữ La Tinh vào trường học ngày 18 tháng 9 năm 1924. Không có hai viên toàn quyền này, thì chữ viết La Tinh ngày nay chỉ là đống giấy vụn trong bảo tàng viện, chưa chắc được ai biết tới cái tên.

Cũng trong thời kỳ này, nhờ hai viên toàn quyền này mà sự dịch thuật từ HÁN, NÔM ra chữ La Tinh được hoạt động mãnh liệt : Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tam Quốc Chí của La Quán Trung...

Trong thời gian này, người Pháp có khi cũng lấn cấn giữa việc có nên tiếp tục phát huy chữ Việt La Tinh hay bắt chuyển sang chữ Pháp, nên vẫn thỉnh thoảng họ làm khó các tờ báo Việt La Tinh, nhưng mục đích chính của toàn quyền Pháp vẫn là làm sao người Việt từ bỏ chữ Hán và chữ Nôm đúng như nhận xét của tác giả Mai Kim Ngọc mà tôi đã trích dẫn..

Vậy theo tôi, nếu ta đặt cho một con đường nhỏ mang tên Francisco de Pina, thì nên có hai đại lộ lớn, một cho Albert Sarraut và một cho Martial Merlin.

Các bạn thấy đề nghị của tôi có hữu lý không ? Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây, mà lại là hai nhân vật đưa chữ Việt La Tinh vào hành chánh, vào giáo dục, mới đúng là hai đại ân nhân của dân Việt chứ !

5 => Ở Hoa Kỳ, Anh ngữ, Mỹ ngữ còn chưa được gọi là ngôn ngữ chính thức.

Nước Mỹ, hiện nay là siêu cường trên mọi lãnh vực, có nền văn hóa gần như thống nhất theo Kitô giáo, nhưng để tôn trọng các sắc dân dị biệt, nhất là để "tôn trọng" núi sông của người Da Đỏ, hiến pháp Hoa Kỳ vẫn xác định rất rõ rằng, Anh Mỹ ngữ (American English) còn chưa được gọi là ngôn ngữ chính thức (official language), và cứ mỗi năm phải được đệ trình lại một lần, theo wikipedia viết về national language như sau:

https://en.wikipedia.org/wiki/National_language?fbclid=IwAR2k-lmPyuvVf1HH88FBqlxGljo08brnBS18FDqTyr9vjFznHXB9rLlKNDA#United_States

In the United States, English (American English) is the national language only in an informal sense, by numbers and by historical and contemporary association. The United States Constitution does not explicitly declare any official language, although the constitution is written in English, as is all federal legislation.

Tôi tạm dịch :

Tại Hoa Kỳ, Anh ngữ (hay đúng hơn là Anh Mỹ ngữ) là quốc ngữ chỉ trong ý nghĩa phi chính thức, bằng số đông và thông qua sự kết hợp mang tính lịch sử đương đại. Quốc Hội Hoa Kỳ không minh nhiên tuyên bố bât kỳ một ngôn ngữ chính thức nào, mặc dù hiến pháp cũng như toàn bộ các pháp lệnh của liên bang đều được viết bằng Anh ngữ .)

On February 13, 2015, Representative Peter T. King introduced H.R.997, the English Language Unity Act of 2015, in the United States House of Representatives. This bill would establish English as the official language of the United States. A companion bill, S.678, was introduced by Senator Jim Inhofe in the United States Senate on March 9, 2015. Both bills were referred to committee. Similar legislation has been introduced every year since 1973.

Tôi tạm dịch:

Vào ngày 13 tháng Hai năm 2015, dân biểu Peter T. King đưa ra trước Hạ Viện kiến nghị H.R.997 về Đạo Luật Thống Nhất cho Anh Ngữ năm 2015, Bản kiến nghị này thiết lập Anh ngữ là ngôn ngữ chính thức của Hoa Kỳ. Một kiến nghị song song, S.678, được Nghị Sĩ Jim Inhofe gửi cho Thượng Viện vào ngày 9 tháng Ba năm 2015. Cả hai kiến nghị đều được đệ trình lên ủy ban. Quy tắc pháp chế như vậy đã được đệ trình hằng năm kể từ năm 1973.

Ta thấy gì khi đọc các sự kiện nghiêm túc trên hai lãnh vực luật pháp và dân chủ tại Hoa Kỳ ?

Thứ nhất, về mặt pháp luật, Anh ngữ không phải là ngôn ngữ chính thức được sản xuất từ lục địa này mặc dù cả một quốc gia rộng lớn và quyền lực như Mỹ, cũng không ngang nhiên áp đặt một ngôn ngữ "mang dấu ấn La Tinh" không có xuất xứ tại Mỹ châu làm quốc ngữ dù họ dư sức áp đặt.

Thứ hai, về mặt dân chủ, cách hành xử văn minh đầy thận trọng của hiến pháp Hoa Kỳ là tôn trọng dân chủ ngay cả trong việc xác định Anh ngữ không phải là ngôn ngữ chính thức, vì Hoa Kỳ là quốc gia nhiều chủng tộc, nhiều văn hóa dị biệt, cho thấy sự tôn trọng các văn hóa thiểu số của Hợp Chủng Quốc châu Mỹ là việc làm cốt lõi của một cọng đồng thực sự nhân văn tôn trọng mọi dị biệt theo nguyen tắc dân chủ. Trong khi tại Việt Nam, chưa hề có một cuộc trưng cầu dân ý để minh nhiên xác nhận chữ La Tinh là « quốc ngữ » như đa số người cả vú lấp miệng em hay gọi.

Trên wikipedia tiếng Việt khi nói về «chữ quôc ngữ», ta cũng có đoạn văn xác đinh chữ La Tinh không phải là « quốc ngữ » :

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013Chương I Điều 5 Mục 3 ghi là "Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt", khẳng định tiếng Việt là Quốc ngữ. Tuy nhiên, Hiến pháp không đề cập đến "chữ viết quốc gia", do các cải cách cải tiến trong giáo dục để lại những khác nhau trong chính tả và phiên âm, dẫn đến chưa xây dựng được các quy tắc nhất quán được đồng thuận về chữ quốc ngữ trong cộng đồng sử dụng tiếng Việt.

Theo tôi, điều mục này rất mơ hồ, nên đã khiến có nhiều tranh cãi, và chia rẽ trầm trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc.

Hiến pháp nên xác định quốc âm như các cụ ta ngày xưa đã gọi cho chữ Nôm, giữ nguyên vị trí cho chữ Nôm, khuyến khích sinh viên học chữ Nôm và giảng dạy ngay ở Trung học.

Ta thêm chữ viết chính thức (official language) hay chánh ngữ 政 語, là chữ La Tinh. Phải phân biệt chánh 政 ở đây là hành chánh chứ không phải là chánh đáng hay chánh nghĩa 正, kẻo bọn tư duy nô lệ lại thổi phồng lên rằng đây là chánh nghĩa, chánh đạo thì lại phiền).

Tại sao tôi dám đề nghị như vậy?

Chúng ta có thường mặc quốc phục không? Chắc chắn mọi người , như tôi cả đời chưa bao giờ mặc vào bộ khăn đóng với chiếc áo dài, nhưng khăn đóng và áo dài vẫn là quốc phục Việt Nam.

Không phải vì toàn dân Việt Nam đều mặc Âu phục vào thế kỷ thứ 20, 21 nên phải gọi Âu phục là quốc phục !

Vậy thì việc không xử dụng chữ Nôm, không có nghĩa đó không phải là quốc âm của chúng ta.

Đưa chữ Nôm trở lại vị trí quốc âm, không ai có thể tranh cãi hay bôi bác, lại là dịp để con cháu biết uống nước nhớ nguồn, tạo môi trường cho lớp trẻ tìm về dân tộc học Việt Nam.

Chúng ta mặc âu phục, đúng là có sự hội nhập bằng hình thức vào thói quen mặc âu phục của hầu hết nhân loại trên thế giới, nhưng chưa hẳn đó là văn minh thế giới. Tôi nghĩ ông Đoan Hùng cho rằng văn minh thế giớí là văn minh Kytô giáo, và văn minh Kitô giáo là văn minh Âu Mỹ, nên ai theo văn minh Âu Mỹ là hội nhập, còn ai đứng ngoài là không hội nhập, thì đó là cái nhìn mang tính tư duy nô lệ hơn là tính khách quan.

Phải công nhận rằng, văn minh Âu Mỹ, chứ không phải văn minh Kitô, đang lấn sân trên thế giới từ sau cuộc cách mạng kỹ nghệ. Nếu văn minh Kitô cũng chính là văn minh Âu Mỹ thì nhân loại đã không cần có Kỷ Nguyên Ánh sáng với các triết gia và học giả vận động hô hào thoát ra khỏi tư duy Thần học, và cuộc Cách Mạng Pháp đã không đưa lên máy chém 40 nghìn linh mục hay nữ tu. Để hiểu rõ thời kỳ này, mời đọc bài viết của tôi Xét Lại Vụ Đánh Cuộc Của Pascal trên Sách Hiếm hoăc trên Thư Viện Hoa Sen.

Ngoài ra tôi thú thật với ông Đoan Hùng, tôi chả hiểu làm sao mà Luận Ngữ hay Khoá Hư Lục lại có thể được đọc bằng quốc ngữ như ông nói ?

Ông thử đưa Luận Ngữ phiên âm sang quốc ngữ mà không dịch, xem người Việt có đọc được không mà dám đại khẩu hoa ngôn đến vậy ?

Vài hàng thô thiển để góp ý vào sự ca tụng cho văn hóa La Tinh mà ông đã dày công nghiên cứu.

Dưới đây là bài biết của Đoan Hùng, mà Trần Đức Tâm nửa đêm đã gửi vào MSG cho tôi:

https://www.facebook.com/...id=105309667619930 (xem Phụ Lục)

Trần Trọng Sỹ (Paris 2019)

 

P.S : Bài viết của tôi kỳ thực không nhắm đến cá nhân ông Đoan Hùng, vì thú thực không có Trần Đức Tâm nhắn tin và đưa link bài của ông, tôi không biết ông là ai. Đây chỉ là cơ hội để bàn thảo thêm về « chữ quốc ngữ ». Nếu có điều mạo muội, xin ông Đoan Hùng tha lỗi.

 

__________________

PHỤ LỤC

Đoan Hùng Tùy Bút

Yesterday at 1:38 AM

CHỮ NÔM, QUỐC NGỮ VÀ VĂN TỰ Ở CÁC NƯỚC “ĐỒNG VĂN” TRUNG HOA, NHẬT, HÀN

ĐÔI LỜI NÓI ĐẦU

Trong những ngày qua, lại một “cuộc chiến” nổ ra! Tranh luận về việc vinh danh các nhà tiên phong chữ quốc ngữ. Trong tranh luận, thậm chí “tranh cãi”, ngoài những lập luận đúng mực, khó tránh khỏi những cách nhìn cực đoan, chẳng hạn như hoặc

1- Chê bỏ quá khứ một cách tuyệt đối! như “nếu không có quốc ngữ, chúng ta ngày nay mù chữ rồi!”.vv . Điều hẳn không đúng, bới vì dân TQ, Nhật, Hàn .. ngày nay có mù chữ đâu?

2- Viễn mơ vào quá khứ! Như “Thực dân Pháp tiêu diệt Hán Nôm”, “Mất Hán Nôm là mất hồn dân tộc”..

Trong các “lý lẽ” đó, tôi cảm nhận một điều, hoặc là do “nóng đầu” hay là do không rõ “Hán Nôm” thực sự ra sao. Chẳng hạn như

- Nêu gương Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng bỏ qua thực tế là chữ “nôm” của hai nước này như Hiranaga, Katanaka, Hangul khác xa chữ Nôm của Việt Nam, về mặt cấu tạo. Dẫn tới tính khó phát triển của chữ Nôm...vv

- Ca ngợi tính “tượng hình”,”tượng ý” của chữ hán, vẻ đẹp của nó vv. Như thể có cái gì “thiêng liêng”, “cao đạo”,”thâm trầm”,”minh triết đông phương”. Bỏ qua thực tế là phần lớn chữ Hán chỉ dùng phép “hình thanh”, một phép ký âm lạc hậu và không chính xác..vv

Điều đó, cũng bình thường. Từ đầu thế kỷ 20, chính các nhà nho thức thòi đã nhận thức sức mạnh của “quốc ngữ”, tự giải ảo. Cổ động, lập trường dạy quốc ngữ. Trải qua dăm thế hệ, đến nay thì cả nhưng “cụ” 80 tuổi cũng chằng mấy ai đọc được chữ Hán, huống hồ là chữ Nôm.

Vì thế, trong tinh thần “cùng học”, tôi cố gắng viết lại những gì mình đã tìm hiểu, không phải là để “bảo vệ quốc ngữ”!

Vì quốc ngữ có sức sống mãnh liệt, chả cần ai bênh vực! Bài sẽ chia thành nhiều kỳ, bởi vì vấn đề phức tạp, vả lại trên mạng khó ai có thời giờ đọc một bài dài .. đại cà sa! Nó bao gồm các phần:

1/ Tổng quan

2/ Chữ "Nôm" tại Nhật Bản và Triều Tiên

3/ Chữ Hán,

4/ Chữ Nôm,

5/ Quốc Ngữ

6/ Kết luận.

Phần “Tổng quan” cố tóm tắt nội dung, ý chính, và sẽ được khai triển chi tiết trong các chương sau.

Với sự hiểu biết “không chuyên”, mong các bạn cùng chia sẻ, góp ý.

____________

TỔNG QUAN

Trong tranh cãi về Quốc Ngữ-hán nôm tôi thường hay nghe người ta .. mơ và ta thán.

Nào là bỏ Hán Nôm làm mất cái “hồn dân tộc”, “thực dân Pháp” tiêu diệt Hán Nôm... và mơ về “quá khứ cha ông”. Mơ, giá được như người Nhật, Hàn.

Tất nhiên, nếu không có chữ quốc ngữ, thì người Việt vẫn tiếp tục Hán Nôm, và không “mù chữ”!

Trong xã hội cổ truyền, với truyền thống “biết dăm chữ bỏ bụng”, mang ước mơ “võng anh đi trước võng nàng theo sau”, nho sĩ là “tiên chỉ” trong làng, “thầy đồ” được trong vọng, xã hội VN thủa xưa, cũng như các nước “đồng văn” không hoàn toàn “thất học”. Thế nhưng phải giải quyết các khó khăn của nó. Phải giải quyết thực sự! Không đơn giản như khi có loại chữ cái, an-pha-bê.

Chữ Hán có độ 50.000 chữ. Chả ai có thể nhớ hết.

Nhưng muốn thoát “mù” thì cũng ... dễ!

“Biết dăm chữ” như bà mẹ quê dẫn con đến thầy đồ, thì cũng không gọi là mù.

Thế nhưng, thế thì chẳng đủ. Thoát “mù chữ” chưa phải là có “học”.

Muốn đọc báo, phải biết cỡ 2000-3000 chữ.

Muốn gọi là có “học vấn”, phải biết cỡ 8000 chữ.

Muốn đọc cổ văn? Thì .. vô hạn! Chỉ còn nước tra tự điển, và có đào tạo tử tế.

Có lần, tôi đưa cho bạn tôi, một kỹ sư người Bắc Kinh, bản “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” và hỏi

- Thứ này mày đọc được không?

- Tao chịu!

Nó thế! Bạn tôi cũng “chữ nghĩa”, trình độ đại học. Thành thử, người Việt mơ “bỏ bụng” vài trăm chữ, mà nghĩ mình có thể đọc câu đối, văn chương, lịch sử .. để “giữ hồn dân tộc” thì là.. mơ! Người Hoa phải học, phải dùng thường ngày nên đành học và nhớ. Nếu không dùng thường ngày, sẽ quên ngay. Các nhà giáo dục đừng mơ dạy học sinh vài trăm chữ Hán.

“NÔM” NHẬT, HÀN – Hiragana, Katanaka – Hangul

Khi mơ giống như Nhật, Hàn thì cần biết rằng “nôm” Nhật khác xa “nôm” Việt.

Ở các nước này, thí dụ như Nhật, khác Việt Nam, từ thời xa xưa, đã tự tao ra “nôm” của họ như Hiragana(TK 5), Katanaka (TK 10), Hangul (TK 15) để bổ sung cho Hán tự Kanji (Nhật), Hancha (Hàn).

Khác với chữ Nôm, phần lớn dựa trên “ghép hai chữ hán, một chỉ nghĩa, một gợi âm”, các thứ chữ này là hoàn toàn “ký âm”, một loại “alphabet” như ở Tây Phương.

Thí dụ như số ký tự trong các loại “nôm” này là:

Katanaka - 48

Hiragana - 46

Hangul- 28

Để tạo chữ “nôm” người Nhật dùng chữ một số chữ Hán, bỏ ý nghĩa, giản hóa để ký âm. Chằng hạn như lấy chữ Hán để tạo Hiragana:

安 (Hán Việt:“An”), viết thành あ để ghi âm “A”

宇 (Hán Việt:”Vũ”), viết thành う để ghi âm “U”

Với hệ thống ký tự đơn giản đó, để thoát mù chữ, rất đơn giản.

Người ta chỉ cần đến chữ Hán khi học cao hơn. Trẻ con không cần chữ Hán đã có thể đọc sách.

Và muốn học Hán Tự thì phải có lộ trình. Như ở Nhật bản phải chia ra như sau: Tiếu học 1006 chữ, Trung học 950 chữ. Các chữ này là chữ “thường dụng”. Như thế tổng cộng chừng 2000 chữ.

Và không phải là dễ cho học trò. Nếu ở Mỹ, số ngày học trong năm của học sinh trung bình là 178 ngày thì ở Nhật là 240 ngày.

Thế thì ta có thể hỏi, tại sao người Nhật “khổ” thế với chữ viết, phải chăng họ chỉ muốn giữ “hồn Nhật”?

Không hẳn thế, tuy đó là một lý do, mà chủ yếu là khó có chọn lựa khác.

Hệ thống ký âm Nhật Bản đã có quá trinh phát triển đến 15 thế kỷ (khác chữ Nôm VN nhiều lắm!), nhưng có giới hạn của nó, khiến cho nhiều lúc dùng kèm Hán Tự (Kanji) lại tiện lợi hơn, viết ngắn hơn, dễ hiẻu hơn.

Nếu tiếng Việt có nhiều thanh điệu (6 thanh) thì tiếng Nhật (và Hàn) lại ít hơn. Ít thanh điệu tất phải là đa âm, phải nói dài hơn! Thí dụ người Việt nói “TÔI”, vỏn vẹn một âm, thì người Nhật phải dùng đến ba âm tiết WA-TA-SHI. Bởi nhiều thanh điệu nên một từ Hán chuyển sang Hán Việt khó bị lẫn lộn như khi chuyển sang tiếng Nhật. Ngoài việc dễ lẫn lộn, gây hiểu lầm, do tính đa-âm độ dài của chữ khiến phải viết dài dòng. Viết bằng chữ Hán đâm ra nhanh hơn.

Thí dụ ta muốn dùng từ “chí” để nói “có CHÍ thì nên”, từ CHÍ là Hán Việt của 志. Viết quốc ngữ rất gọn. Người Nhật “khổ” hơn. Họ phải nói “chí” thành ko-ko-ro-za-shi. Dùng Hiragana こころざし hay Katakana ココロザシ, rất phiền. Nếu viết “tắt” bằng Kanji 志, thì lại gọn hơn!

 

NÔM VIỆT

Bây giờ chúng ta thử .. vất bỏ thứ chữ “thực dân”, hãy trở lại chữ Nôm để “giữ hồn dân tộc” xem sao nhé! Thay vì viết

“CÓ CHÍ THÌ NÊN” hãy thử viết chữ Nôm:

固志旹揇

Xem ra rất Dân Tộc. Nếu dùng bút lông mà viểt một bức “thi pháp” thì thật tuyệt vời. Thế nhưng .. đọc ra sao? Thế này:

Chữ 固, vốn là chữ Hán, âm Hán Viêt là “CỐ”, có nghĩa là “bền chắc...”, nghe giống “CÓ”, nên đọc “nôm” thanh “CÓ”.

Chữ 志, là chữ Hán, âm Hán Việt là “CHÍ”.

Chữ 旹, là chữ Hán, âm Hán Việt là “THỜI”, “THÌ”, có nghĩa là “thời gian, thời giờ”, nên đọc thành “THÌ”.

Chữ 揇 thì.. phiền hơn. Nếu tra từ điển Hán sẽ không có. Đó là từ Nôm, được ghép bởi hai chữ Hán:

南 : Nam nghĩa là "phương nam", và

扌thủ, nghĩa là "tay" .

"NAM" âm gần giống "NÊN" . "Tay" hàm nghĩa là "làm". Bởi thế đọc là "NÊN".

Kể ra, ngoài phải biết chữ Hán cũng cần phải thêm chút .. suy luận để hiểu nhỉ?

Chưa hết! Chữ Nôm không có chuẩn, nguyên tắc quy định, mỗi người có thể viết một kiểu, tùy ý. Nên nó có thể rất .. nhiều cách.

Để viết “CÓ” ta có thể dùng 固, 箇, 𣎏 . Để viết “THÌ” ta có thể dùng 旹, 时, 時. Để viết “NÊN” ta có thể dùng 揇, 年, 𢧚.

Qua ví dụ trên, ta có thể thấy, khác với hai nước “đồng văn” đã phân tích ngữ âm của họ, chuẩn hóa thành bộ chữ cái, Việt Nam đã không thoát khỏi chữ Hán với sự phức tạp của nó. Để hiểu tính phúc tạp này, thiết tưởng cũng nên hiểu sơ lược về chữ Hán.

CHỮ HÁN

Trước hết, để tạo chữ, chữ Hán dùng sáu cách, gọi là “lục thư”:

Tượng hình, Chỉ sự, Hình thanh, Hội ý, Chuyển chú và Giả tá.

-Tượng hình- Đây là cách đơn giản nhất mà loài người đã dùng đầu tiên từ thủa sơ khai khi chữ viết nảy sinh, như chữ Ai Cập thủa đầu tiên. Nó không có gì là “huyền bí”, “thâm sâu”. Đơn giản là người ta muốn viết “con bò” thì vẽ con bò, “con ngựa” thì vẽ con ngựa. Người Trung Hoa “vẽ” hình người, có hai chân - 人 đọc là “nhân”. Con ngựa, có bờm, bốn chân - 馬 – “Mã” . Người đàn bà - 女 – “Nữ” .

- Chỉ sự- Không thể nào “vẽ” mọi sự! Nên người ta cần mô tả, chắng hạn như vẽ một gạch ngang, thêm một thanh đứng, thêm một vạch ngắn ở trên thành chữ “Thượng” 上, ở dưới thành chữ “Hạ” 下.

- Hội ý. Chẳng thể “tương hình”,”chỉ sự” mọi sự vật. Người ta phải gom các chữ lại để gợi ý. Chằng hạn như dùng “mái nhà” 宀 che trên “đàn bà” 女 thành chữ 安, “An”. Người phụ nữ được che chở bởi mái nhà, thế chằng phải là An toàn sao? Trên là mái nhà 宀, dưới là con lợn 豕thì thành chữ 家, “gia”.

- Chuyển Chú và Giả tá: đây là hai phép “dùng đỡ”. Ở một số chữ, người ta dùng “chuyển chú”, nghĩa là “dùng tạm” thanh âm một chữ để viết chữ khác có nghĩa gần giống, thí dụ như, dùng chữ “trường” 長 là dài để viết chữ “trưởng” nghĩa là lớn lên; thậm chí có nghĩa khác hằn như dùng chữ “vạn” 萬nghĩa là “con bò cạp” để “giả tá” thành chữ “vạn” nghĩa là 10.000.

- Hình thanh: Ý tưởng con người là vô hạn! ngôn ngữ do đó cứ phát triển, từ ngữ cứ thế mà phát sinh. Ta không thể nào “vẽ” mãi, “miêu tả” hoài, cho dù là . họa sĩ! Chữ Hán cũng phát triển giống như mọi thứ chữ trên thế giới, tiến tới “ghi âm” tiếng nói! Và đó là phép “hình thanh”, nghĩa là ghép các chữ có sẵn, phần “hình” gợi ý, phần “thanh” gợi âm thanh. Chỉ “gợi” gần gần mà thôi. Ý gần gần đâu đó! Âm nghe giông giống. Chằng hạn như:

- Đã có chữ “thành” 成, nghĩa là [trở] thành, cần viết chữ “thành” nghĩa là thành [trì], thì ghép thêm bộ “thổ” 土, nghĩa là “đất” để gợi ý, trở nên chữ 城.

- Đã có chữ “mã” 馬, là con ngựa, cần viết chữ “ma” có nghĩa là người mẹ, ghép thêm bộ “nữ”, nghĩa là đàn bà để gợi ý, trở nên chữ 媽. Đàn bà + Con Ngựa thành .. Mẹ !

Ấy là “hình thanh”!

Và đó là phép cấu tạo chính của chũ Hán, theo nhiều nghiên cứu, nó chiếm khoảng 80-90% số từ Hán.

Trên thế giới, từ thủa xa xưa, khoảng ba ngàn năm trước, các hệ thống chữ viết đã phát triển lên thành chữ ký âm, đơn giản. Ngay cả chữ Ai Cập thời kỳ sau, vẫn trông tưởng như “tượng hình”. Không phải! Người ta có thê “đánh vần”, bởi nó đã phát triển thành “ký âm”. Nó chả có gì là “huyền bí”. Ngay cả mẫu tự “A” mà chúng ta ngay nay dùng, cũng có “tiền thân tượng hình” là .. con bò! Con bò gọi là “aleph”, người xưa vẽ đầu bò có hai sừng. Dần dà, lấy đó ghi âm “a”, lộn ngược đầu lại mà thành A.

Trung hoa, quẩn quanh trong qua khứ ngàn nãm. Không phân tích thành “mẫu tự”. Mà chỉ dùng âm “giông giống”, nghĩa “đâu đó”, tùy tiện, đại khái, nhang nhác!

Chữ nôm, bị trói chặt trong chữ Hán, “thừa hưởng” tất cả nhưng thứ phức tạp, luộm thuộm của nó.

Thê nhưng nó vẫn là di sản quý báu của cha ông, qua nó các cụ truyền tải, lưu lại được biết bao thơ văn, tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ .

“Tiếng nước tôi, tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi”.

Thế nhưng, do điều kiện lịch sử, nó không có cơ hội để phát triển, hệ thống hóa, hợp lý hóa.. Mãi cho đến đầu thế kỷ 20 nó vẫn là một thứ chữ “tùy tiện” và đành phải nhường bước cho “quốc ngữ”.

Chữ Nôm tự đào thải, không phải do ai “áp đặt”, “giết” nó. Chữ “quốc ngữ” phát triển chẳng phải do một ai “ép buộc”. Chính các nhà nho “thức thời” và các nhà “tân học” đã cổ súy và tiếp tục phát triển nó. Chủ yếu là do tính hợp lý của quốc ngữ.

Nhưng ai hay so sánh Việt Nam và Nhật Bản, Triều Tiên chớ nên quên rằng lịch sử hai nước này khác xa Việt Nam, khác rất lớn.

Nếu như Việt Nam chỉ dành được độc lập từ thế kỷ thứ 10 thì Nhật Bản chưa hề mất đọc lập, Triều Tiên tuy có lúc bị Trung Hoa lấn chiếm nhưng chưa hề hoàn toàn bị thôn tính, nhưng vương quốc Triều Tiên như Bắc Tế, Tân La, Cao [câu] Ly vẫn tồn tại. Nếu Việt Nam chỉ có 1 thế kỷ phát triển trong độc lập, văn hóa bị phủ bởi Trung Hoa như bị bóng cây phủ rợp thì ở Nhật Bản, Triều Tiên có điều kiện phát triẻn văn hóa độc lập, nếu có ảnh hưởng Trung Hoa, thì đó là do “tự nguyện”.

Với hai thiên niên kỷ phát triển độc lập, với những trièu đại vững bền, với nền học thuật vững mạnh, với những học giả có chiều sâu, hai nước Nhật Bản, Triều Tiên đã tự xây dựng hệ thóng chữ viết khá hoàn chỉnh của họ. Vua Sejong (Thế Tông) ở Triều Tiên, thế kỷ 15, khi sáng chế ra Hangul, chắc chắn không phải do ông, mà do rất nhiều học giả tinh thông về ngữ âm. Họ phân tích âm tiếng Hàn kỹ lưỡng, tinh vi mới quy ra được ký tự. Nhật Bản cũng thế, Hiragana là công trình của các nhà quý tộc, Katanaka của các thiền sư. Họ là các người có điều kiện học rộng biết nhiều, các nhà sư sang Ấn Độ học chữ Phạn, vốn là một thú chữ “ký âm”. Thu nhập văn hóa Trung Hoa, Ẫn Độ một cách tường tận. Trên cơ sở đó hệ thống chữ viết phát triển, và trên cơ sở đó, văn học, triết học.. cùng phát triển.

Việt Nam, thiếu các điều kiện đó. Không phải do lỗi riêng ai, hay một vị vua nào mà một hệ thống chữ viết hoàn chỉnh không được hình thành. Không chỉ riêng Hồ Quý Ly hay vua Quang Trung mà nhiều vua chúa khác như chúa Trịnh cũng muốn phát triển chữ Nôm. Nhưng các vị đó làm được gì khi không có một tập thể đông đảo học giả, một nền học thuật thâm hậu? Ra một mệnh lệnh, một chiếu chỉ chả ăn thua gì. Các nhà nho như Ngô Thời Nhậm cũng biết thực trạng đó. Ông từng viết “Chữ nước ta khó hơn chữ Trung Quốc” (Ngã quốc tự giảo nan ư Trung Quốc). Biết thế, nhưng một học giả như Ngô Thì Nhậm cũng không làm gì khác hơn được, trong cả nền học thuật thời đại ông, ông đành dùng chữ Hán là chủ yếu.

Ở đầu thế kỷ 17, trong khung cảnh như thế, các nhà truyền giáo tây phương xuất hiện, Franscisco de Pina, Alexandre de Rhodes, Christophoro Borri.. họ đến truyền đạo trong lén lút. Địa vị họ thật nhỏ bé, mang quà cáp biếu xén cho Chúa, năn nỉ xin được tạm trú, dùng kiến thức vượt trội như thiên văn để lấy uy tín với nhà cầm quyền, sống trong dân, thậm chí bỏ giầy đi đất như Christopho Borri, sống đơn giản, đạo hạnh để truyền đạo. Họ bị bắt lên bắt xuống, tùy ý nhà cầm quyền. Giáo dân lúc có thể hành đạo, lúc bị bách hại. AD Rhodes bị bắt nhiều lần, khi trở về Âu Châu, ông mang theo hài cốt của thầy giảng người Việt , An Rê Phú Yên, bị xử tử vì không bỏ đạo. Trong hoàn cảnh bất an, bị bắt bớ, ngoài thời gian giảng đạo, tổ chức giáo hội, các tu sĩ dòng Tên này vẫn còn thì giờ, đam mê để, dỏng tai “Tây” lên mà nghe tiếng việt với sáu thanh âm, suy nghĩ, phân tích ngữ âm v.v. Từ đó mới ra sắc huyền hỏi ngã nặng!

Tại sao họ làm được nhưng gì mà ở nước Đại Việt, không nhà nho nào, không thiền sư nào, cho dù triều đại nào làm được? Chẳng phải chỉ do sự cần cù của họ, mà chủ yếu do họ không bị cột vào một nền văn minh lỗi thời lạc hậu. Họ được đào tạo chuyên nghiệp, trong nền học thuật thâm hậu, với nền tảng khoa học về ngôn ngữ, ngữ âm. Một nền học thuật nảy sinh trên một nền văn minh tiên tiến hơn.

Với điều kiện đó, họ đã tặng cho dân tộc ta, đất nước ta một món quà vô giá.

Với chữ “Quốc Ngữ” không những là phương tiện để người Việt hội nhập vào nền vãn minh hiện đại của thế giới, không những “Tây” mà cả “Đông”, mà còn giữ gìn di sản cha ông.

Ngày nay.

Ai cũng có thể đọc “Kiều”,”Lục Vân Tiên” ai cũng có thể có một bản Kiều quốc ngữ trong nhà.

Ai cũng có thể đọc từ “Khóa Hư Lục” thời Trần, “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” thời Lê .. cho đến “Khâm định Việt Sử” thời Nguyễn bằng “quốc ngữ”.

Ai cũng có thể đọc “Luận Ngữ” của Khổng Tử, “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử... bằng “quốc ngữ”!

Có nhà nho nào thủa xưa, có điều kiện “thiên kinh vạn quyển” như thế?

Thế chẳng phải “QUỐC NGỮ” đang GIỮ HỒN NƯỚC hay sao?

 

Đoan Hùng – 12-2-2019