Giáo Hội La Mã Can Thiệp Vào Nội Tình Việt Nam Giai Đoạn Trước 1975

 

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ116.php

 31-May-2021

Thế lực của Lê Văn Duyệt ở miền Nam lúc đó rất mạnh, cho nên Vua Minh Mạng phải đợi đến khi Lê Văn Duyệt qua đời, nhà vua mới trả thù (san bằng mộ) Lê Văn Duyệt. Hành động này lại trở thành cái cớ cho bọn truyền giáo xúi giục Lê Văn Khôi khởi binh chống lại triều đình Huế.

Lịch sử  cho thấy rằng, Giáo Hội La Mã là một tổ chức có hệ thống quyền lực cũng như tôn ti trật tự và đắng cấp giống y hệt như một tổ chức chính quyền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mà sách sử gọi là “chế độ quân chủ tăng lữ chuyên chính” (Monarchial – sacerdotal  state). Chế độ chính trị phong kiến lạc hậu này gồm có:

A.- Cơ Quan Đầu Não là Giáo triều (curia). Đây là cơ  quan đầu não nắm quyền quyết định tối hâu tất cả các vấn đề về luật pháp, hành pháp, tư pháp giống như một triều đình của một quốc gia theo chế độ quân chủ chuyên chính trung ương tập quyền. Giáo triều này có tham vọng nắm trọn cả thần quyền cũng như thế quyền và theo đuổi chủ nghĩa bá quyền thống trị toàn cầu, rồi  dùng quyền lực của nhà nước để nô lệ hóa nhân loại bằng hệ thống tín lý Ki-tô nặng tính cách phỉnh gạt, lừa bịp và cực kỳ bạo ngược.

B.- Tầng lớp Cán Bộ Thừa Hành là giai cấp tu sĩ Ki-tô với tổng số trên 500 ngàn người với đẳng cấp cùng những tước vị (title) như hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục, sư huynh và nữ tu. Tất cả các viên chức hay quan lại  này  là những cán bộ điều hành  và thi hành tất cả những lệnh truyền của giáo triều Vatican.

C.- Nhân Dân Dưới Quyền là  toàn bộ tín đồ của giáo hội được gọi là “con chiên”. Giáo hội dùng từ “cừu non” (con chiên) thực sự chỉ là một cách nói của giáo hội để cho tín đồ của giáo hội biết rằng họ  chỉ có bổn phận phải ngoan ngoãn “làm tôi tớ hèn  mọn cho giáo hội”.

Tiếp xúc hay giao tiếp với xã hội con chiên người Việt, chúng tôi được biết rằng giới tu sĩ áo đen cũng như  tập thể con chiên người Việt đều tự nhận là “con cái của Giáo Hội La Mã”. Không những họ phải coi Giáo Hôi La Mã như là cha mẹ của họ, mà còn phải coi tất cả mọi thành phần tu sĩ áo đen là đại diện thực sự của Chúa Ki-tô  ở trên cõi đời này, và họ cũng phải kính trọng mọi thành phần trong giới tu sĩ áo đen như là Chúa Jesus còn hơn cả cha mẹ của họ.

 

Các con chiên và linh mục tỏ "lòng sùng đạo" với các thừa sai Âu Mỹ

Ngoài ra, riêng về  giới tu sĩ áo đen người Việt còn phải có nhiệm vụ đối với các  giáo sĩ người Âu đến hoạt động ở Việt Nam theo đúng lễ nghi siêu phong kiến của Giáo Hội La Mã. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh đã nói rõ với nguyên văn như sau:

"Tại Bùi Chu, ngày lễ Thánh Đa Minh, tất cả các linh mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải tới sụp lạy trước mặt các thừa sai, kể cả đối với một người còn trẻ măng, hoặc chỉ là thày phó tế thôi, và phải hôn kính giầy các thừa sai đó, để giúp mình nhớ lại lời thánh Phao-lồ: "Phúc đức thay bàn chân của các nhà truyền giáo!" (1)    


Bản tuyên cáo "Dictatus papae"

D.- Những Hoạt Động Của Giáo Hội La Mã Chống Lại Tổ Quốc Việt Nam: Giáo Hội La Mã vốn có tham vọng theo đuổi chủ nghia bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân thế giời bằng hệ thống tín lý Ki-tô nặng tính cách phỉnh gạt và lừa bịp. Tham vọng bất chính này được thể hiện ra qua (1) lời tuyên bố của Giáo Hoàng Léo I (440-461) vào năm 451, rằng “Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục”, (2) bản tuyên cáo "Dictatus papae" được ban hành (*) trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), và (3) các thánh lệnh hay sắc chỉ được ban hành trong thế kỷ 15, trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455).

Đầu hậu bán thế kỷ 16, Việt Nam trở thành quốc gia bất hạnh bị lọt vào mắt xanh của giáo triều Vatican. Thế là từ năm 1533  đến năm 1954, có hàng hàng lớp lớp binh đoàn giáo sĩ người  Âu Châu đến hoạt động ở Việt Nam với danh nghĩa là các nhà truyền giáo để rao truyền cái “tin dữ” về “cái tôn giáo ác ôn” này,  nhưng lại tích cực thi hành các điệp vụ thu thập các tin tức tình báo chiến lược rồi gửi về Vatican để soạn thảo kế hoạch đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Tiếp theo đó, Việt Nam  bị giáo triều Vatican đã liên tục phá bằng trăm phương ngàn kế. Dưới đây là danh tính của một số giáo sĩ nổi bật nhất đã tích cực hoat động đánh phá đất nước và dân tộc Việt Nam từ năm 1533 đến cuối thập niên 1960:

1.- Linh-mục Inikhu: Ông người Bồ Đào Nha, hoạt động ở  các làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc tỉnh Nam Sơn tức Nam Định. Ông này là giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam năm 1533. Trong những ngày còn bỡ ngỡ ở một nơi xa lạ, ông phải mua chuộc các con mồi bằng vật chất như kẹo bánh, hay thuốc men. Dân ta còn quá nghèo khổ và bệnh tật, mấy viên kẹo cũng có thể mua được cảm tình, huống chi thuốc kí ninh chữa bệnh sốt rét, chắc chắn là những ơn phước quí báu! Đó là cửa ngỏ tốt đẹp cho việc truyền đạo "bá láp", hoang đường như “Chúa toàn năng, toàn thiện,”, “Chúa sẽ ban phước lành cho những người tin Chúa,....”

2.- Linh-mục  Alexander de Rhodes (15/3/1591-5/11/1660). Viên giáo sĩ này người Pháp, thuộc Dòng Tên, một siêu điệp viên, được Giáo Hoàng Urban VIII (1623-1644) phái đến Việt Nam vào giữa thập niên 1620. Ngoài việc ban phát kẹo bánh thuốc men để truyền đạo như các giáo sĩ tiền bối khác, ông còn phải triệt để thi hành sứ mạng của giáo triều Vatican giao phó ở Việt Nam theo lời thề của Dòng Tên. Xin đọc Các Tu Sĩ Dòng Tên của học giả Charlie Nguyễn để hiểu rõ con người của tên giáo sĩ  gián điệp thượng thăng này đã tạo nên mối đại họa cho dân tộc Việt Nam như thế nào.  Thiết tưởng cần nên biết sách sử nói về triết lý hành động của giới tu sĩ thuộc Dòng Tên ra sao, xin đọc Lời Thề rất kinh hoàng của các tu sĩ Dòng Tên ở đây (2) Hành động theo lời thề của họ đã tạo thành tích đến nỗi, “Mọi tự điển trên thế giới đều có chung một định nghĩa về danh từ Jesuit (tu sĩ dòng Tên)" là: người ngụy biện, giả nhân giả nghĩa, kẻ xảo trá phản phúc.” (3)

Thử sơ lược các hoạt động của giáo sĩ Alexander de Rhodes ở Việt Nam ra sao.

Những hoạt động của tên gián điệp Alexander de Rhodes:


Quyển Phép Giảng 8 Ngày còn lưu giữ ở
nhà thờ Mằng Lăng. http://nguyenhongmanglang.blogspot.com/

a.- Chống phá tôn giáo cổ truyền của dân tộc: Các kế sách thâm độc của Alexandre de Rhodes về đánh phá các tôn giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc Đông Phương nói chung, được gom chung lại trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày (Roma: Bộ Truyền Giáo Roma, 1661). Ngày Thứ Bốn (các trang 94-132) chứa đựng nhiều lời  chê bai, miệt thị  và triệt hạ uy tín các đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão và đạo thờ cũng tổ tiên của dân tộc Việt Nam nói riêng và của các dân tộc Á Đông nói chung. Ông dám không ngần ngại gọi đạo Phật là “đạo gian”: (“Ta suy bởi đâu mà ra, thì một chốc ta biết là đạo gian”) (trang 105), và dùng từ “thằng” để gọi Đức Phật,  Vậy thì ta làm Thích Ca, là thằng hay dối người, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thich Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.” (trang 116).

Giả sử ngày nay có một người Á Đông đến kinh thành Rome viết sách và rao truyền đạo Phật hay đạo Khổng, miệt thị, chửi bới đạo Ki-tô, trong đó có một câu:“Vậy thì ta làm Jesus là thằng hay dối người, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo Ki-tô bởi Jesus mà ra, có ngã với thì đã tỏ”, thì giáo triều Vatican, các ông tu sĩ áo đen và con chiên ngoan đạo sẽ cảm nghĩ và phản ứng như thế nào?

b.- Vận động chính quyền Pháp liên kết với Vatican và xuất quân đánh chiếm việt Nam làm thuộc đia để cùng nô lệ hóa dân ta: Linh-mục Alexander de Rhodes thực sự là một điệp viên thượng thăng. Không những ông đã hoàn thành tuyệt hảo các điệp vụ do giáo triều Vatican giao phó, mà còn nỗ lực vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại rõ ràng, chẳng hạn như sách Vietnam Why Did We Go? Viết:

Linh-mục Dòng Tên Alexandre de Rhodes đến Đông Dương vào năm 1610 (Có lẽ là năm 1624 thì mới đúng - NMQ)). Một thập niên sau, ông gửi về Vatican và Pháp một bản báo cáo miêu tả rất chính xác về tiềm lực thương mại, chính trị và chiến lược. Dòng tên Pháp lập tức tuyển mộ nhân sự gửi sang Đông Dương giúp ông ta thực hiện hai việc: cải đổi dân bản địa theo đạo Da-tô và bành trướng thương mại. La Mã và Ba Lê xem những hoạt động này như là những bước đầu dẫn đến việc đánh chiếm và thống trị các quốc gia này cả về chính trị lẫn quân sự." (4)

Sách "Kitô Giáo: Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại" viết như sau về việc giáo sĩ Alex vận động chính quyền Pháp cấu kết với Vatican và xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

"Tôi tin rằng", ông (Alexandre de Rhodes) viết, "Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để chinh phục toàn thể Phương Đông. Cũng như ở đó, tôi sẽ có cách để chọn được nhiều giám mục vốn là các cha và các thầy của chúng ta ở trong các nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày 11 tháng 9 năm 1652 với ý định đó." (5)

3.- Giám-mục Pigneau de Béhaine hay Bá Đa Lộc  (1741-1799). Tên giáo sĩ này là người Pháp. Nhân lúc đàn voi Xiêm La do Nguyễn Ánh rước về giầy mả tổ Việt Nam bị quân Tây Sơn đánh cho tan tành không còn một manh giáp ở Rạch Gầm và Xoài Mút (gần Mỹ Tho) vào năm mùa Xuân năm 1784, Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa lộc) liền chụp lấy cơ hội này để "giúp đỡ". Giám-mục này dụ khị được Nguyễn Ánh trao đứa con đầu lòng là Hoàng Tử Cảnh mới 4 tuổi cho ông ta dẫn sang Pháp làm con tin để làm cái cớ xưng là đại diện cho Nguyễn Ánh thương thuyết với triều đình Vua Louis XVI (1754-1793) xin viện trợ quân sự và xuất quân (nói là) giúp Nguyễn Ánh. Ai cũng biết việc Giám-mục Pigneau de Béhaine dẫn Hỏang Tử Cảnh đến Paris thuyết phục chính quyền Pháp viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh chỉ là thủ đoạn theo đuổi cái mưu đồ bất chính của Giáo Hội La Mã mà cách đó hơn một thế kỷ trước, giáo hội đã dùng Linh-mục Alexander de Rhodes làm thuyết khách vận động triều đình Pháp Hoàng Louis XIV về vấn đề này, nhưng thất bại.

Ý đồ của giáo hội trong việc thuyết phục Pháp hợp tác với giáo hội để đánh chiếm và thống trị Việt Nam giống y như việc giáo hội cấu kết với Đế Quốc Tây Ban Nha trong việc đánh chiếm và thống trị Mỹ Châu La Tinh và ở Phi Luật Tân trong thế kỷ 16. Xin xem Chương 22 “Lần Thứ Hai Giáo Hội La Mã Vận Động Pháp Xuất Quân Đánh Chiếm Việt Nam”, (http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH22.php) trong bộ Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.

4.-  Linh-mục Joseph Marchand tức Cố Du (1803-1835):

Phó sản của mối quan hệ thân thiết giữa Nguyễn Phúc Ánh và Giám-mục Bá Đa Lộc là quan hệ thân cận giữa Tả quân Lê Văn Duyệt và các nhà truyền giáo Ca-tô đang hoạt động ở Việt Nam. Đó là một rắc rối kéo dài tiếp theo.


Joseph Marchand tức Cố Du

Từ năm 1816, khi Vua Gia Long quyết định chính thức chọn Hoàng Tử Đảm sẽ lên kế nghiệp, thì bọn giáo sĩ Ca-tô này phản đối mãnh liệt vì họ mong muốn nhà vua phải đưa người con trưởng của Hoàng Tử Cảnh là Hoàng Tôn Đán, tức là Nguyễn Phúc Mỹ Đường (đã rửa tội theo đạo Ca-tô như Hoàng tử Cảnh), nhưng Vua Gia Long vẫn cương quyết không thay đổi quyết định này.

Khi Vua Gia Long qua đời vào năm 1820, Hoàng Tử Đảm lên nối ngôi lấy vương hiệu là Minh Mạng, bọn giáo sĩ Ca-tô mưu đồ liên kết với Lê Văn Duyệt sử dung đám con chiên ở miền Nam nổi loạn chống lại triều đình Huế. Họ đòi lật đổ Vua Minh Mạng. Thế lực của Lê Văn Duyệt ở miền Nam lúc đó rất mạnh, cho nên Vua Minh Mạng phải đợi đến khi Lê Văn Duyệt qua đời vào ngày 28/8/1832, nhà vua mới trả thù (san bằng mộ) Lê Văn Duyệt. Hành động này lại trở thành cái cớ cho bọn truyền giáo xúi giục Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) khởi binh chống lại triều đình Huế. Linh-mục Joseph Marchand (Cố Du) làm cố vấn chính trị cho Khôi ở trong thành Phiên An, và hầu hết những binh lính của Khôi là tín đồ Ca-tô. Vì vậy, việc Lê Văn Khôi nổi loạn chống lại triều đình Huế xem như đã được các nhà truyền giáo âm thầm chuẩn bị tiếp tay.

Trong đoạn trích dẫn sau đây, mặc dù linh mục Phan Phát Huồn muốn chứng minh rằng tên giáo sĩ Joseph Marchand bị Lê văn Khôi cưỡng bách phải theo vào thành, nhưng chính những đoạn văn này đã chứng minh sự chủ động xúi giục của tên giáo sĩ Joseph Marchand và sự tiếp tay của các giáo dân trong vụ nổi loạn Lê Văn Khôi.

Trong số những người bị bắt, ngoài Marchand ra, còn có Linh-mục Phước, cha sở Chợ Quán, một người Trung Hoa tên là Mạc tấn Giai và con của Lê Văn Khôi là Lên Văn Viên mới có 7 tuổi. Cả thảy 6 người bị nhốt vào cũi và đưa về Huế. Trong số 6 người ấy, chúng ta biết chắc chắn là có Marchand, Mạc Tấn Giai và Lê Văn Viên. Còn ba người khác là những sĩ quan bộ hạ của Lê Văn Khôi, trong ấy có Tổng Trắm, chỉ huy trưởng lực lượng cách mạng sau khi Lê Văn Khôi mất, Đỗ Hoàng và Phó Nhã.

……

Đến lượt bốn tướng của Lê Văn Khôi bị tra hỏi, những tướng này một phần bất mãn về thái độ của Linh-mục Marchand không giúp họ thành công, một phần hy vọng sẽ được nhà vua tha nếu họ cáo ông cố đạo xúi dân dấy loạn, vì họ biết Minh Mạng ghét người công giáo.

Theo như các ông ấy kể lại, Lê Văn Khôi đã dấy loạn theo lời yêu cầu của Đức Giám Mục và các Thừa Sai để đem An Hòa (tức Hoàng tử Đán, cháu đích tôn của Gia Long), con Hoàng Tử Cảnh, lên làm vua, Cũng theo lời khai của các ông này, An Hòa hứa sẽ theo đạo Công Giáo và Marchand chỉ ở trong xứ để khuyên dụ người Công Giáo theo An Hòa. Chính Marchand là hồn của cuộc dấy loạn ở trong nước, trong lúc ấy các Thừa Sai ở ngoài nước sẽ xúi giục vua Thái Lan đem quân đánh Việt Nam và cũng rất có thể đi xin cứu viện ở Âu Châu.” (6)

5.- Giám-mục Pellerin, Giám Mục Retord, Linh-muc Huc, Linh-mục Legrand de La Liraye: Những hoạt động chống chính quyền và dân tộc Việt Nam của 3 ông tu sĩ áo đen này được Tiễn-sĩ  Cao Huy Thuần  ghi lại đầy đủ nơi các trang  61-69, sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA: Hương Quê, 1988). Đồng thời, tác giả  Bùi Trần Phương cũng nói rõ trong sách Một Số Vấn Đề Lịch Sử: Đạo Thiên Chúa Trong Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam như sau:


Giám-mục Pellerin

"Quan hệ gắn bó giữa Thiên Chúa Giáo và chủ nghĩa thực dân Pháp là một thực tế lịch sử phong phú, hiển nhiên đến nỗi không cần lý lẽ biện luận, thuyết minh thêm. Chỉ xin nhắc lại đôi chút về vai trò các nhà truyền giáo trong việc hình thành và phê chuẩn kế họach của chính quyền Đế Chế II cử phó đô đốc Rigault de Genouilly mang hạm đội đến tấn công Đà Nẵng năm 1858. Các nhà truyền giáo như Linh-mục Huc, Giám-mục Pellerin, Linh-mục Legrand de la Liraye, Giám-mục Retord... bằng nhiều văn thư và cả sự có mặt trực tiếp của mình trong các cuộc họp của Ủy Ban Nam Kỳ, tham gia tích cực vào việc xây dựng kế hoạch tấn công quân sự để đạt mục tiêu truyền giáo và xâm lược thực dân không chỉ ở một địa phương nào mà từng bước đi đến chinh phục toàn cõi Việt Nam (...). Các nhà truyền giáo đã "có công" đề xuất ý kiến vạch kế họach,  cung cấp thông tin, hứa hẹn bảo đảm về hậu thuẫn của dân chúng tại chỗ.Nói tóm lại, chẳng những hết lòng ủng hộ mà còn gây áp lực chính trị, tinh thần thúc ép các nhà nước tư bản Pháp, Tây Ban Nha tiến hành một kiểu "thánh chiến" bảo vệ đạo ở Việt Nam để mưu đồ cầu lợi ích chung của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản. Trong họat động này, các nhà truyền giáo có một ưu thế rõ rệt: Họ là những người am hiểu nhất về tình hình các vùng đất - còn xa lạ với Phương Tây - nơi họ đã xây dựng và chuẩn bị lực lượng từ rất lâu đời thông qua những hoạt động mang danh nghĩa là tôn giáo của nhiều thê hệ tu sĩ. Tiếng pháo của hạm đội Rigault de Genouilly bắn vào Đà Nẵng làm bùng nổ một xung đột đã âm ỉ từ lâu. Nó cũng phơi bày sự thật hiển nhiên về ý nghĩa chính trị rất "thế tục" của họat động "truyền giáo" của các giáo sĩ Phương Tây ở Viễn Đông từ mấy thế kỷ trước. " (7)

6.- Giám Mục Paul Francois Puginier (1835-1892). Ông giáo sĩ này là người Pháp, là đại diện của Tòa Thánh Vatican ở Hà Nội (Đường Ngoài) trong những năm 1868-1892 và  cũng là tác giả kế hoạch Puginier trong đó ông trình bày sách lược tiêu diệt Nho giáo và giới Nho Sĩ tại Việt Nam với nhiều chi tiết.  Kế hoạch này được Tiến-sĩ sử học Cao Huy Thuần ghi lại trong sách Les Missionaires Et La Politique Coloniale Francaise Au Vietnam 1857-1914 (New Haven, CT: Yale Southeast Asia Studies, 1990), bằng tiếng Pháp nơi các trang 287-303. Bảng tiếng Việt ở các trang 301-317 trong sách Giáo Sĩ Thừa Sai và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam 1857-1914 (TP Hồ Chí Minh: Công Ty TNHH Sách Phương Nam, 2014)

Đồng thời, Linh-muc Trần Tam Tỉnh  cũng viết về ông giám-mục này như sau:

Cho tới ngày chết, 25.4.1892, giám mục Puyginiê chẳng bỏ qua bữa nào mà không hoạt động để cũng cố thêm vị trí nước Pháp tại xứ sở con nuôi này của ông. Người ta đang giữ được hàng chục điệp văn và bản tin tình báo mang chữ ký của ông trong văn khố của Bộ thuộc địa. Và một phần nhờ các bản tin đó mà quân Pháp đã có thể dập tan cuộc kháng chiến vũ trang của Người Việt Nam. Cuộc kháng cự hùng mạnh nhất đã xảy ra tại Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Bề ngoài, đó là một loại làng được biền thành căn cứ, được lũy tre bảo vệ, có thành, có đường hầm và hệ thống giao thông hào được bố trí rất thông minh. Tinh thần các chiến sĩ lúc đó rất cao. Nhằm «bình định» cứ điểm này, quân Pháp đã gửi tới một lực lượng gồm 2250 tên lính, 25 đại bác, 4 pháo hạm dưới quyền chỉ huy của trung tá Métxanhgiê (Metzinger). Cuộc tấn công ngày 16-12-1886 bị đẩy lùi. Quân Pháp phải tổ chức bao vây để tìm hiểu chiến thuật mới. May cho chúng, vì có một sĩ quan trẻ, đại úy Giôphơrơ (Joffre sau này là thống chế Pháp trong chiến tranh thế giớ thứ nhất) nghĩ tới việc nhờ linh mục Trần Lục, quản xứ Phát Diệm và là Phó vương, tiếp trợ cho cuộc bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông linh mục này đã nhận phép lành của giám mục Puyginiê, rồi đi tiếp viện cho quân Pháp với 5000 giáo dân, Ba Đình đã thất thủ.” (8)

7.- Tổng Giám-mục Antoni Drapier (1891-1967). Tên đầy đủ là Antonin-Fernand Drapier thuộc dòng tu Đa Minh (Dominican order) và là đại diện của Tòa Thánh Vatican tại Huế có lẽ từ trước năm 1945 và tiếp tục ở đây trong suốt thời Kháng Chiến 1945-1954. Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, cùng với Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958), ông đã can thiệp vào nội tình  Việt Nam một cách vô cùng trắng trợn và cực kỳ thô bạo. Sách sử đều ghi rõ như vậy. Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 – Tập A: 1939-1946 ghi nhận:


TGM Antoni Drapier

 “28/12/1945: Huế: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma tuyên bố: Gia đình Bảo Đại là “gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophilende tous les annamites), và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/ (1945) (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi come le chef regulier avant le mars; DOM [Aix], CP 125). Drapier cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long lên kế vi, và Nam Phương là Giám Quốc [Phụ Chính].” (9)

Truyền thống của Giáo Hội La Mã là Tòa Thánh Vatican chỉ đạo chính quyền ở những nơi nào mà quyền lực của Giáo Hội La Mã hay Vatican vươn tới. Vì cho rằng Vatican chỉ đạo chính quyền thế tục ở Việt Nam, cho nên Tổng Giám Mục Antoni Drapier đại diện của Tòa Thánh Vatican ở kinh thành Huế mới tuyên bố “nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/1945”. Xin đọc “giải Pháp Bảo Đại” (The “Bao Dai Solution”). Sách Vietnam: A Political History (New York: Frederick A Praeger, Publisher, 1968) dành cả Chương XIII gồm các trang 277-314) để nói về đề tài này.

 

Có thể nói rằng, tuyên bố “cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/1945” của vịên chức cao cấp đại diện của giáo triều Vatican tại Huế là Tông Giám Mục Antoni Drapier đã làm nẩy sinh ra “Giải Pháp Bảo Đại”, và từ “Giải Pháp Bảo Đại” mới nẩy sinh (1) cụm từ nặng tính cách phỉnh gạt như “Chính Quyền Quốc Gia”, (2)  “Người Việt Quốc Gia chiến đấu cho chính nghĩa Quốc Gia”,  và “lá cờ vàng ba sọc đỏ”.

Nhờ  có những cụm từ phỉnh gạt trên đây mà kể từ ngày 2 tháng 6 năm 1948,  các con chiên người Việt kể từ 2 tháng 6 năm 1948 được khoác lên người cái danh xưng “người Việt Quốc Gia chân chính, chiến đấu cho lý tưởng quốc và cho tự do dân chủ ” để che giấu cái bản chất thật của chúng vốn dĩ là những quân vong bản, phản dân tộc.

Nếu tìm hiểu lịch sử nước nhà trong thời cận và hiện đại, chúng ta sẽ thấy rằng mãi tới đầu tháng 6/1948 mới xuất hiện (1) cụm từ “Chính Quyền Quốc Gia”, (2)  “Người Việt Quốc Gia chiến đấu cho chính nghĩa Quốc Gia”,  (3) “lá cờ vàng ba sọc đỏ” và (4) “Đảng phái Quốc Gia”. Tất cả những cụm từ này là phó sản hay con đẻ của hành động “nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/1945”, và đều do Giáo Hội La Mã đạo diễn cho ra đời. Vấn đề này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Việt Nam 1945-1995 – Tập I  viết:

Danh hiệu ‘Quốc Gia Việt Nam’ (QGVN) được sử dụng từ ngày 5 tháng Sáu 1948, sau khi Cao Ủy Pháp tại Đông Dương Émile Bollaert và Thủ Tướng Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân ký bản thông cáo chung tại Vịnh Hạ Long nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam…” (10)

8.- Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958): Tên thật của tên giáo hoàng này là Eugenio Maria Giuseppe Giovanni Parcelli (họ là Parcelli), sinh ngày 2/3/1876 tai kinh thành Rome,  và chết ngày 9/10/1958. Tất cả những khu rừng tội ác do tên giáo hoàng ác ôn này gây nên đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Dưới đây là một bản văn sử nói về một hành động cực kỳ dã man của y trong mưu đồ chống lại đất nước và dân tộc Việt Nam vào mùa xuân năm 1954:

Pius luôn luôn có ảnh hưởng sâu đến Hồng y Francis Spellman, Tổng giám mục New York. Ông ta được cất nhắc lên Hồng y trong tháng hai, 1946. Cả hai kiên quyết đề xướng Chiến Tranh Lạnh, không bao giờ kết án các kế hoạch xử dụng bom nguyên tử của Hoa Kỳ, ngay cả sau khi Tổng thống Truman tuyên bố "xem ra Chiến tranh Thế giới III đang gần kề."

Pius XII tiếp tục hỗ trợ cuộc vận động hành lang Hoa Kỳ kêu gọi "một chiến tranh nguyên tử phòng ngừa." Vào năm 1954 khi Quân đội Mỹ lập kế hoạch tấn công hạt nhân bộ đội Việt nam, đang bao vây lính Pháp ở Điện Biên Phủ, chính Vatican đã hỗ trợ cho cuộc vận động hành lang tán thành đề nghị ấy. Dưới thời Eisenhower, khi anh em nhà Dulles, Spellman và Pius XII giúp hình thành những sách lược của Hoa Kỳ, quân đội Mỹ định thả từ một đến sáu quả bom 31-kiloton lên những lực lượng Việt nam. Những qủa bom này có sức mạnh ba lần hơn quả bom ném xuống Hiroshima. Âm mưu sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Việt nam được bạch hóa trong cuốn đầu tiên của loạt 17 cuốn lịch sử chính thức về Chiến tranh Việt nam được xuất bản vào 1984 bởi Phòng Quân sử Lục Quân Hoa Kỳ.” (11)

Một số trong những khu rừng tội ác của tên giáo hoàng  ác ôn này  đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong bài viết có nhan đề là “Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) Dưới Mắt Của Một Người  Dân Việt”. (http://sachhiem.net/NMQ/NMQ46_Pius12.php).

9.- Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005): Cũng như 9 vị chức sắc của Giáo Hội La Mã đã nói ở trên, ông giáo hoàng này cũng là một tên đầu sỏ cực kỳ xảo trá.

Các dân tộc nạn nhân đã bị giáo hội tàn sát tời hàng mấy trăm triệu sinh mạng, bị giáo hội  cướp đoạt không biết bao nhiêu là của cải, không biết bao nhiêu mùa màng bị tàn phá,  không biết bao nhiêu nhà cửa, miếu đình, chùa chiến và không biết bao nhiêu công trình văn hóa và văn minh của họ đã bi giáo hội thiêu hủy, và họ đã phải gánh chịu  không biết bao nhiêu khốn khổ đau thương.   Ai còn nghi ngờ điều này, hãy làm một chuyến đi đến các quốc gia nào đã từng có quyền lực của Vatican vươn tới đó, chẳng hạn như các  quốc gia Mỹ Châu La-tinh, Phi Luật Tân, Phi Châu, Trung Đông, v.v…, thì sẽ thấy rõ sự thực khủng khiếp này! Ấy thế mà, đối với các dân tộc của các quốc gia nạn nhân này, ông ta không hề nói một lời nào  với các chính quyền của họ để xin lỗi và nhận lãnh nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ.

Tệ hơn nữa là ngày 19/6/1988, ông ta lại còn phong thánh cho 117 tên tội đồ ác ôn chống lại dân tộc và đất nước Việt Nam với dã tâm là để kích động lòng háo danh của bọn con chiên người Việt  khiến chúng hăng say lao vào vực thẳm tội ác chống lại chính quyền Việt Nam ta hiện nay. Phong thánh cho bọn con chiên tội đồ chống lại đất nước gốc của chúng là một trong những thủ đoạn thâm độc mà  Giáo Hội La Mã thường sử dụng nhiều nhất đề kích động lòng háo danh của bọn con chiên tại các địa phương khiến cho chúng hăng say tích cực lao vào những hoạt động bán nước cho Vatican.  Vi dùng thủ đoạn phong thánh nhiều quá, cho nên con số con chiên tội đồ được Giáo Hội La Mã phong thánh lên đến con số khổng lồ. Chính vì vậy mà ngay cả “Hồng Y Silvio Oddi cũng than phiền là "Vatican đã trở thành một xưởng chế tạo Thánh" (The Vatican has become a saint facrtory.) Điều hiển nhiên là 117 vị được phong thánh ở Việt Nam cũng không ngoài kế hoạch chế tạo Thánh cho những mục đích chính trị của Vatican." (12)

Thủ đoạn kích động tín đồ bằng quái chiêu phong thánh như vậy đã khiến cho bon con chiên người Việt hăng say nổi loạn chống chính quyền Việt Nam từ đó cho đến ngày nay.

▪ IV. Lời Kết

Như đã nói ở trên, qua (1) lời tuyên bố của Giáo Hoàng Léo I (440-461) vào năm 451, rằng “Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục”, (2) bản tuyên cáo "Dictatus papae" gồm 27 khoản được ban hành vào năm 1075 trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), và (3) các thánh lệnh hay sắc chỉ được ban hành trong thế kỷ 15, trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) (13) cho chúng ta thấy rõ giáo triều Vatican quyết tâm theo đuổi tham vọng bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại bằng hệ thống tín lý Ki-tô nặng tính các phỉnh gạt và lừa bịp song hành với bạo lực để  đánh chiếm các vùng đất ở ngoài lục đia Âu Châu, trong đó, Vatican:

1.- Coi Việt Nam là một trong những mục tiêu nhắm tới và  đã lên kế hoạch đánh chiếm làm thuộc địa để nô lệ hóa dân ta.

2.- Quyết định gửi các  binh đoàn điệp viên với danh nghĩa là các nhà truyền giáo đến Việt Nam (khởi đầu vào năm 1533), dùng những miếng mồi vật chất (chút ít tiền bạc, thuốc men)

3.- Gom tất cả những người bị dụ khi lọt vào cái tròng Ca-tô  vào sống trong một khu riêng biệt gọi là xóm đạo hay làng đạo để dễ dàng:

a.-  Cô lập họ với mục đích tách rời họ khỏi cộng đồng dân tộc, thuận lợi cho việc thi hành kế hoạch “súc vật hóa” họ bằng chính sách ngu dân.

b.- Đoàn ngũ họ thành những đạo quân thập tự  làm nội gián, được ngụy trang bằng những danh xưng như Đạo Binh Đức Mẹ, Đạo Binh Xanh, Đoàn Tự Vệ, Đạo Binh Thánh Giá, Đoàn Thiếu  Nhi Thánh Thể, Hội Nghĩa Binh, Hội Con Đức Mẹ, Đoàn Công Giáo Tiến Hành, Đoàn Thanh Sinh Công, Hội Thánh Giuse Lao Công, Hội Các Bà Dòng Ba, Ca Đoàn Trầm Mac, v.v…  để chuẩn bị khi nhận được lệnh n của các đấng bề trên của họ thì vùng lên hành động.

4.-  Sử dụng con chiên bản địa làm chân tay trợ giúp cho công việc thâu thập tin tức tình báo chiến lược rồi gửi về Vatican làm  tài liệu biên soạn kế hoạch đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

5.- Gửi các nhà thuyết khách mang theo kế hoạch đánh chiếm Việt Nam đến kinh thành Paris vận động các chính quyền Pháp liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng cướp đoạt tài nguyên, cùng cưỡng bách dân ta theo đạo Ki-tô làm nô lệ phục vụ tại các công trường khái thác  tài nguyên của đất nước ta  để cung ứng cho nhu cầu của các nhà máy kỹ nghệ tại chính quốc Pháp.

6.- Mùa xuân năm 1954, sau khi Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) thất bại trong việc thuyết phục chính quyền Hoa Kỳ dùng bom nguyên tử để giải thoát cho gần 16 ngàn quân Liên Quân Pháp – Vatican bị vây khổn tại các cứ điểm Điện Biên Phủ, Vatican quay ra liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ và lôi kéo Pháp vào cùng phe ngồi ở hậu trường Hội Nghi Genève 1954 đạo diễn việc chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17 với dã tâm định biến miền Nam của Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào nam thành một quốc gia riêng biệt.

7.- Nỗ lực vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa tên con chiên ngoan đạo Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Việt Nam để làm tay sai cho cả Hoa Kỳ và Vatican.

8.- Cuối năm 1954,  ra lệnh cho các cán bộ của giáo hội và chính quyền Ngô Đình Diệm  tìm cách cưỡng bách nhân dân miền Nam phải chính thức sử dụng từ Công Giáo” trong các văn thư hành chánh, sách giáo khoa, cũng như trong thi ca, văn chương và sách báo.“ (14)

9.- Đầu năm 1955, ra lệnh ngầm cho chính quyền đạo phiệt Ngô Đình Diệm phải đẩy mạnh kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực theo chỉ tiêu trong vòng mười năm thì toàn thể nhân dân miền Nam  đều trở  thành con chiên Ca-tô. (15)  Hậu quả kế hoạch này đã tàn sát  hơn 300 ngàn lương dân miền Nam bị tàn sát trong những năm 1955-1963. (16)

10.-  Đầu năm 1959, ngầm ra lệnh cho chính quyền tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng tai Sàigòn  để dâng nước Việt Nam có nước Vatican và giáo hội của Hồng Y Agagianian đến Sàigòn đứng làm chủ tế  buổi lễ lịch sử này. (17)

11.- Coi miền Nam như một quốc gia riêng biệt và là của riêng của Vatican. Đồng thời, bọn con chiên văn sử nô cũng được lệnh phải khua chiêng gióng trống cổ võ cho luận điệu miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia riêng biệt và ngầm hiểu rằng là quốc gia của Giáo Hội la Mã được ngụy tạo hay mạ kền là của những người Việt Quốc Gia.

12.- Biến cố quân đội miền Bắc đại thắng chiếm trọn miền Nam vào ngày 30/4/1975 và Hoa Kỳ cũng đã  nhìn ra sự thực không thể bơi ngược dòng lịch sử, cho nên mới lẳng lặng cuốn gói ra đi khiến cho cả chính quyền Sàigòn và đạo quân thập tự đánh thuê ở miền Nam rơi vào tình trạng rã ngũ tan hàng, bơ vơ như những đứa con hoang bị cha mẹ bỏ rơi, và  cái mà Vatican và bọn con chiên người Việt gọi là “Quốc Gia Miền Nam” hay “Việt Nam Công Hòa” bị khai tử từ đây (30/4/1975).

 

Nguyễn Mạnh Quang

___________

Bài liên quan:

Thầy Dạy Sử Nguyễn Mạnh Quang và Ý Nghĩa Cuộc Chiến Việt Nam 1954 - 1975

 


CHÚ THÍCH

 

(1) Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (TP Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Trẻ: 1978) tr.53

(2) Thái Vân, Sơ Lược Về Dòng Tên, Ngày 22/4/2011.Nguồn: Nguyên văn:I furthermore promise and declare that I will, when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or openly, against all heretics, Protestants and Liberals, as I am directed to do, to extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will spare neither age, sex or condition; and that I will hang, waste, boil, flay, strangle and bury alive these infamous heretics, rip up the stomachs and wombs of their women and crush their infants heads against the walls, in order to annihilate forever their execrable race…”

(3) Charlie Nguyễn, Công Giáo Huyền Thoại Và Tội Ác (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 299. “Mọi tự điển trên thế giới đều có chung một định nghĩa về danh từ Jesuit (tu sĩ dòng Tên)" là: người ngụy biện, giả nhân giả nghĩa, kẻ xảo trá phản phúc. Ngoài ra, trong tác phẩm "German Thesaurus" xuất bản năm 1954, tác giả Đức Dornseif đã viết: "Jesuit contains a long list of synonyms, including: two faced, false, insidious, dissembling perfidious, mendacious, sanctimonious, dishonarable, incincere, dishonest, untruthful..." (Danh từ Jesuit - tu sĩ dòng Tên - bao gồm một danh sách dài của những tiếng đồng nghĩa: hai mặt phản trắc, gian trá, gieo rắc độc hại, gây chia rẽ, lừa lọc, nói dối, thương xót giả tạo, không biết trọng danh dự, thiếu thành thật, bất lương, chẳng bao giờ nói thật...) Người Pháp có câu cách ngôn rất hay: "Khi nào có hai tu sĩ dòng Tên đi với nhau, luôn luôn tạo thành ba thằng quỉ sứ" (Where two Jesuits come together, the devil always makes three)."

(4) Manhattan, Avro. Vietnam - Why Did We Go? (Chino, CA: Chick Publication, 1984), p. 139."Nguyên Văn: Jesuite priest Alexandre de Rhodes arrived in Indo-china in 1610. A decade later he sent back to the Vatican and to France a very accurate description of the commercial, political and strategic potential. French Jesuits were promptly recruited and sent to help him in his double work of converting to Catholicism and commercial expansion. Rome and Paris considered these activities as inseparable stepping stones leading to eventual political and military occupation of these countries."

(5) Nhiều tác giả, Ki Tô Giáo: Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại (Wesminster, California, Văn Nghệ, 1996), tr 331 và 334. Nguyên văn:"Jai cru que la France, écrivait il, étant le plus pieux royaume du monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l Orient, que jy trouverais moyen davoir des évêques qui fussent nos Pères et nos Maitres en ces Eglises. Je suis sorti de Rome à ce dessein, le 11 Septembre 1652.

(6) Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử - Quyển I (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thư, 1965), tr. 307 và 309.

(7) Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Mốt Số Vấn Đề Lịch Sử: Đạo Thiên Chúa Trong Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam (Thành Phố Hồ Chí Minh: Ban Tôn Giáo, 1988), tr 179-180.

(8) Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (TP: Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr. 45-46.

(9) Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 – Tập A: 1939-1946 (Houston, TX: Văn Hóa, 1996), tr 295.

(10) Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 - Tập I (Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), tr. 161.

(11) Trần Thanh Lưu “Âm Mưu Bí Mật Giữa Pius – Spellman – Dulles.” Sachhiem.net ngày 13/5/2009. Nguồn: http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=557 Nguyên văn: “Cardinal Spellman and Pope Pius XII. Pius had always had deep affection for Cardinal Francis Spellman, Archbishop of New York, whom he raised to Cardinal in Frebruary, 1946. These two consistently promoted the Cold War, never condemning the U.S. plans to use the atom bomb, even aftre President Truman’s declaration that “it looks like World War III is near.”Pius XII continued to support the U.S. lobby advocating “an atomic preventive war.” When in 1954 the U.S. Army planned a nuclear attack on the Vietnamese, besieging the French at Dien Bien Phu, the same Vatican supported lobby gave their approval. During the Eisenhower Administration, when the Dulles brothers, Spellman and thus Pius XII helped formulate U.S. policies, the U.S. military considered dropping from one to six 31-kiloton bombs on the Vietnamese forces. The weapons were three times as powerful as the Hiroshima bomb. The scheme to use nuclear weapons against Vietnamese was disclosed in declassified material on the first volume of a 17-volume official history of Viet Nam war published in 1984 by the Army’s history offlice." Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), p. 72.

(12) Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1999), tr. 268.

(13) Nguyễn Mạnh Quang, Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam, Nguồn:http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_13.php

(14) Vũ Đình Hoạt, Tôn, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan Tập II (Fall Church. VA: Alpha, 1991), tr. 1014.

(15) Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr. 428

(16) Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr 127-131.

(17) Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 126-128.