Đề tài thứ 19 - kỳ 2: Những Cuộc Tranh Đấu Chống Vatican Của Các Quốc Gia Trên Thế Giới

 

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ93_doc2.php

 15-Jan-2019

(tiếp theo và hết)

III. Phong Trào Bộc Phát Thành Bạo Lực Cách Mạng

Những tác phẩm của các nhà trí thức trên đây đã giúp cho nhân dân Âu Châu nhìn thấy rõ bộ mặt cực kỳ ghê tởm của mọi thành phần lãnh đạo trong giáo triều Vatican. Vì thế mà người dân Âu Châu không những không còn tin tưởng vào hệ thống tín lý Ki-tô nữa và còn tỏ ra khinh bỉ Giáo Hội La Mã.

Theo quy luật tự nhiên, tư tưởng biến thành hành động. Nhân dân sống dưới ách thống trị cực kỳ tham tàn và vô cùng dã man của các chế độ đạo phiệt Ca-tô vốn đã có tư tưởng chống đối đạo Ki-tô như vậy, thì tất nhiên vấn đề họ vùng lên làm cách mạng chỉ là vấn đề thời gian. Các thế lực làm cách mạng đều có các bước đi tuần tự như sau:

a. Công bố bản tuyên ngôn dân quyền

c. Ban hành bản hiến chương cho giới tu sĩ nêu rõ nhiệm vụ của họ đối với đất nước và nhân dân: phải trung thành với hiến pháp chứ không được trung thành với giáo triều Vatican. Giới tu sĩ có bổn phận với đất nước và được coi là bình đẳng trước pháp luật giống như những người dân khác.

d. Ghi rõ vào hiến pháp điều khoản tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền.

e. Trừng trị thẳng tay bọn đầu xỏ cũng những phần tử ngoan cố, không chịu giác ngộ để hòa mình với trào lưu tiến hóa của nhân loaị.

Dưới đây là một số  trường hợp mà các hệ phái Ki-tô khác và các quốc gia nằm dưới ách thống trị của giáo triều Vatican vùng lên làm lịch sử để thực thi khát vọng của họ như đã nói ở trên:

1. Hệ phái Chính Thống Giáo ly khai chống lại Giáo Hội La Mã:

Khởi đầu hệ phái này là họ vốn đã bất đồng chính kiến với bọn đầu nậu của giáo triều Vatican từ khi Hội Nghị Nicaea khởi nhóm vào ngày 20/5/325. Dù rằng cả hai phe đều muốn thống nhất đạo Ki-tô, ngay sau khi thông qua quyết định về tín lý Chúa Ba Ngôi, phe Ki-tô Đông Phương đã có quan niệm khác với quan niệm của Giáo Hội La Mã trong những vấn đề sau:

a. sự mâu thuẫn về tín lý Chúa Ba Ngôi,

b. vấn đề tiếm quyền của Giáo triều Vatican,

c. sự khác nhau càng ngày càng nhiều về những nghi thức và hệ thống tổ chức hàng giáo phẩm: một bên là phe Ki-tô Tây Phương với danh xưng là Giáo Hội La Mã (thủ đô là La Mã), và một bên là phe Ki-tô Đông Phương với danh xưng là Chính Thống giáo (thủ đô là Constantinople).

Tất cả đã khiến cho phe Chính Thống Giáo phải dứt khoát ly khai ra khỏi quốc gia Vatican kể từ đó (năm 325), và trở một  thế lực thù địch bất cộng đái thiên với Giáo Hội La Mã.

Vào năm 1054, các nhà lãnh đạo trong giáo triều Vatican (phe Tây Phương) đã có thái độ trịch thượng, xấc xược, ngược ngạo, hiếu thắng và hiếu chiến, đặc biệt là vị đại diện của giáo triều Vatican đến gặp giáo chủ Đông Phương, đưa ra những lời quở trách lỗ mãng và ra lệnh phải thuần phục giáo triều Vatican. Hành động trịch thượng này khiến cho các nhà lãnh đạo Chính Thống giáo (Đông Phương) tức giận, và dứt khoát ly khai thoát khỏi giáo hội La Mã.

2. Nhân dân Đức chống đối Giáo Hội La Mã:

Tinh thần chống đối Giáo Hội La Mã đã âm ỷ ở nước Đức vào cuối thế kỷ 11 trong thời Vua Henry IV (1050-1106). Vào năm 1077, Vua Henry IV đã chống lại việc Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) ban hành bản Tuyên Cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều (gọi là nguyên tắc) bằng cách tự ý bổ nhậm các giám mục trong lãnh thổ đế quốc của ông mà không cần biết đến điều 3 của bản tuyên cáo này định rằng, “chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền bổ nhiệm hay bãi chức các giám mục.”

Tiếc rằng, vì trình độ dân trí người dân Đức lúc bấy giờ còn thấp kém và thế lực bọn lãnh chúa phản động phong kiến trong nước Đức liên kết với Nhà Thờ chống lại ông mãnh liệt, cho nên Vua Henry IV mới thất bại và đành phải mặc áo xám hối, đi chân trần đứng ở giữa trời tuyết trong ba ngày ở Canossa (Ý) để tạ lỗi với Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085).

 

Vua Henry IV  chịu phạt GH Gregory VII

Vua Henry IV chịu phạt quỳ trước GH Gregory VII trong tháng 1, năm 1077 -bên phải là Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085)

Tuy là cuộc chống đối này của Hòang Đế Henry IV thất bại, nhưng tinh thần chống Vatican vẫn chứa chất và sôi sục trong lòng người dân Đức giống như hỏa diệm sơn, chỉ chờ khi có hoàn cảnh thuận tiện là bùng lên thành bão lửa, thiêu rụi hết tất cả hệ thống quyền lực chuyên chính tàn ngược của Vatican ở Đức. Cũng vì thế mà khiLinh-mục Martin Luther (1483-1546) đứng lên phất cờ chống lại Giáo Hội La Mã vào tháng 10 năm 1517, thì cả chính quyền và nhân dân Đức đều đồng lòng hăng hái ủng hộ và tích cực đi theo ông. Nhờ vậy mà cuộc nổi dậy của LM Martin Luther đã thành công rực rỡ và gây nên cả một phong trào Tin Lành rộng lớn (chống lại Vatican) bao trùm cả Trung Âu, Bắc Âu, Tây Âu và tạo điều kiện thuận lợi cho nước Anh cũng nổi lên chống lại Giáo Hội La Mã, thành lập Anh Giáo tách rời khỏi Vatican.

Linh mục Martin Luther(1483-1546)

Không bao lâu, Phong trào Tin Lành lan rộng ra hầu hết Âu Châu và làm khối tín đồ Ki- tô vốn đã nằm dưới ách thống trị của giáo triều Vatican vỡ ra thành hai khối Ca-tô và Tin Lành, và chống đối nhau quyết liệt rồi bùng nổ thành cuộc chiến vô cùng đẫm mắu giữa hai phe này kéo dài cả 30 năm trời sau Hòa Ước Augsburg ngày 25 tháng 9, 1555.

Giai đọan chót của cuộc chiến tranh tôn giáo là một cuộc chiến man rợ xẩy ra ở Đức vào năm 1618, kéo dài tới năm 1648 và được gọi là Cuộc Chiến 30 Năm. Lý do là vì Hòa Ước Augsburg chỉ công nhận hệ phái Tin Lành Luther cũng như các hệ phái Tin Lành khác mà không nhìn nhận hệ phái Tin Lành Calvin. Hòa Ước này cũng không ngăn chặn được việc chiếm đọat tài sản của Vatican. Sau năm 1552, một số các tu sĩ của Giáo Hội La Mã đã bỏ đạo, đi theo đạo Tin Lành nhưng vẫn chiếm hữu các tài sản của Nhà Thờ Vatican (do họ quản trị truớc kia). Các nhà cầm quyền thế tục Tin Lành cũng vẫn tiếp tục chiếm đoạt tài sản của Nhà Thờ Vatican…” (8)

3. Chính quyền và nhân  dân Anh quyết tâm chống đối Giáo Hội La Mã:

Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547)  lên ngôi vào năm 1509, đã từng  được Giáo Hội coi như là một tín đồ Ca-tô ngoan đạo  và được  Giáo Hoàng Leo X (1513-1521) phong cho tước hiệu "Fidei Defensor" (Người Bảo Vệ Đức Tin).  Đầu năm 1531, Anh Hoàng muốn ly dị bà Catalina để cưới bà Anne Boleyn, nhưng Giáo Hoàng Clement VII (1523-1534) không cho phép. Anh Hoàng cũng vẫn cứ tiến hành việc ly dị người vợ cũ để cuới người vợ mới, và bất chấp tất cả những hành động hăm dọa “rút phép thông công” của Vatican.

Sau đó, thấy rằng giáo triều Vatican đang phải đối phó với Phong Trào Tin Lành  ở Đức do Linh muc Martin Luther khởi xướng, Anh hoàng liền tiến hành việc thành lập Anh giáo (Anglicanism). Anh giáo dựa theo  tín lý và cơ cấu tổ chức của Giáo Hội La Mã, nhưng tách rời khỏi Tòa Thánh Vatican và do Anh Hoàng làm giáo chủ.  Giáo Hoàng  Clement VII phản đối dữ dội, nhưng  cũng chỉ là những lời phản đối suông, không có giá trị gì nữa.

Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547) và bà Anne Boleyn - (bên phải) Giáo Hoàng Clement VII

Song song với việc thành lập Anh giáo,  Triều đình Anh  ra lệnh khám xét các cơ sở của Giáo Hội La Mã trong lãnh thổ Anh mà chính quyền biết rõ  nơi đó cũng là những ổ ăn chơi đàng điếm của các ông chức sắc cao cấp và  các tu sĩ khác  của Giáo Hội ở nước Anh.

Kể từ đó Anh quốc hoàn toàn ly khai không còn lệ thuộc vào giáo triều  Vatican. Tuy nhiên, giáo triều Vatican vẫn luôn luôn tìm đủ cả trăm phương kế để trèo cao lặn sâu vào triều đình Anh Quốc, và sử dụng  nhóm tín đồ Ca-tô còn trung thành với Giáo Hội La Mã để phục hồi quyền lực ở quốc đảo này. Có một hai lần, giáo triều Vatican đã thành công trong hành động dụ khi được mấy vua nước Anh đứng về phía Vatican chống lại quốc hội Anh và phục hội quyền lực của Vatican tại quốc gia này, nhưng rút cuộc, các ngụy triều này (do Vatican dựng cũng bị Quốc Hội và nhân dân Anh đánh bại...

Cuối cùng, năm 1691, Quốc Hội Anh phải ban hành một biện pháp khác rất nghiêm khắc. Đó là  Đạo Luật Ổn Định vào năm 1691. Đạo luật này cấm, không cho người Anh là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền (the Act of Settlement of 1691). Đạo luật này quy định rằng:

Không có một tín đồ Ki-tô La Mã  có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền.” (9)

Kể từ đó, không một người nào theo đạo Ki-tô La Mã được đưa lên cầm quyền ở nước Anh. Vì thế mà ảnh hưởng Giáo Hội La Mã  bị coi như là bị tiêu diệt hoàn toàn ở Anh quốc,  dù rằng Anh quốc là một nước dân chủ tự do và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của tất cả mọi người dân.

4. Triều đình và nhân dân Pháp quyết tâm chống đối Giáo Hội La Mã:  

Việc Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085)  ban hành bản Tuyên Cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều gọi là nguyên tắc có hiệu lực như luật vào năm 1075 làm cho các vua chúa Âu Châu rất lo cho số phận của chính bản thân họ và đất nước họ. Cũng vì thế mà các vua nước Pháp như Philip IV the Fair (1268-1314), Charles VII (1422-1461), Francis I (1494-1547) và ngay cả bạo chúa Louis XIV (1643-1715) cũng đều quyết tâm hành động để chứng tỏ cho triều đình  Vatican biết rằng uy quyền  một ông vua của nước Pháp, chứ không phải là một tên  “tôi tớ hèn mọn làm tay sai cho cái tổ chức mà học giả Henri Guillemin gọi là “cái giáo hội khốn nạn” mang danh xưng là Giáo Hội La Mã. Cũng chính vì thế mà Hoàng Đế Pháp Francis I (1494-1547) mới coi việc giáo trều Vatican chia đôi trái đất cho riêng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào năm 1493 là một hành động ngang ngược, rồi lớn tiếng công khai đưa ra lời tuyên bố khinh thường và  mỉa mai như sau:

"Ai là người có thể chỉ cho ta thấy tờ di chúc của ông tổ Adam nói rằng qủa địa cầu này được để lại cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha." (10)

Ta sẽ rất hân hoan nếu thấy trong lời di chúc của Adam có câu loại Ta ra khỏi một phần chia của thế giới. “Leturia 1959, I:280).”(11)

  

Vua Francis I (1494-1547) - và Louis XIV (1643-1715) của Pháp

Cũng nên biết, Vua Louis XIV (1638-1975) đã ra lệnh cho ủy ban đặc trách vấn đề soạn thảo những điều khoản căn bản của Pháp Giáo. Sách Story of Mankind ghi nhận những điều khoản căn bản này như sau:

1. Quyền lực giáo hoàng KHÔNG đứng trên quyền lực của nhà vua. (The pope has no power over the king.)

2. Hội đồng tôn giáo ĐỨNG TRÊN  giáo hoàng. (Councils are superieur to the pope.)

3. Những luật lệ, tập tục cổ truyền và đặc quyền của Giáo Hội Pháp KHÔNG THÊ BỊ vi phạm. (The ancient customs, rules, and priveleges of the French Church are inviolabale.)

4. Những quyết định của giáo hoàng về vấn đề đức tin chỉ có công hiệu khi nào được toàn thể Giáo Hội chấp nhận. (The pope’s decisions in matters of faith are not infallible until accepted by the entire Church.)

Sáu đó, nhà vua lại ra lệnh những điều khoản này phải được chấp nhận và phải được dạy tại các chủng viện và các đại học. (Louis ordered that these articles be accepted and taught  by all bishops, seminaries and colleges.)(12)

Sử gia Pierre Gaxotte ghi nhận điểm quan trọng nhất trong những điều khoản căn bản này là  (1) “Thượng Đế KHÔNG HỀ TRAO cho tôn giáo (Giáo Hội La Mã) một thứ quyền hành gì về các vấn đề thế tục.”, và (2) “Giáo Hội KHÔNG CÓ QUYỀN trực tiếp hay gián tiếp truất phế các vua chúa.” (13)


Pháp Hoàng Henry IV

Sắc-lệnh Nantes được ban hành vào năm 1598 trong thời Pháp Hoàng Henry IV (1589-1610). Sắc lệnh này công nhận người Tin Lành Huguenots được hưởng quyền tự do công dân và tôn giáo trong một  phạm vi giới hạn (granting restricted religious and civil liberties to Huguenots.) "Điều 18 của sắc lệnh này cấm không được sử dụng bạo lực để tước đoạt những quyền này của con cái những người theo đạo Tin Lành hay dùng lời ngon ngọt đi dụ khị người Tin Lành theo đạo Ca-tô La-mã" (14)

Các cuộc tranh đấu trên đây được phát xuất từ lòng tự ái dân tộc và thể diện quốc gia. Tiếc rằng quyền lực chính trị của họ chỉ giới hạn trong giới thượng lưu quí tộc, và không được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, nên những cuộc tranh đấu này không được đại khối quần chúng hưởng ứng. Trong khi đó thì giáo triều Vatican lại có cả trăm phương ngàn kế để bao vây và chống lại triều đình Pháp. Cuối cùng, các ông vua này bị dồn vào thế kẹt, sợ mất đi cái thế ăn trên ngồi trước và những đặc quyền đặc lợi phong kiến, rốt cuộc đành phải khuất phục triều đình Vatican.

Chủ thuyết Pháp giáo được soạn thảo xong ngày 19/3/1682. Nhưng ngay sau đó, vì  bị giáo triều Vatican thuyết phục, cho nên Vua Louis XIV lại thi hành chính sách Ca-tô hoá nhân dân bằng bạo lực, huỷ bỏ Sắc-lệnh Nantes vào ngày 18/10/1685, cưỡng bách dân Tin Lành Pháp hoặc là phải từ bỏ tôn giáo của họ để theo đạo Ca-tô La Mã hoặc là bị trục xuất ra khỏi nước Pháp.

Kể từ đó, Pháp Giáo dần dần rơi vào quên lãng và triều đình nhà vua lại thần phục Vatican như trước. Tình trạng “đánh trống bỏ dùi” hay bất nhất này được sử gia Pierre Gaxotte ghi nhận như sau:

Nói một cách tổng quát, chính sách của Vua Louis XIV đối với Giáo Hội La Mã đu đưa giữa tàn bạo và thần phục, thực sư, không có cái gì là cao cả vĩ đại, và không kết hợp, cuối cùng cũng chỉ là vô ích.” (15)

https://www.bl.uk/collection-items/painting-of-the-storming-of-the-bastille-1789

Phá ngục Bastille trong Cách Mạng Pháp

Mãi  cho đến ngày 14/7/1789, phong trào tranh đấu chống lại triều điình đạo phiệt Ca-tô của Pháp Hoàng Louis XVI  mới thành công và ban hành những biện pháp xác định những quyền bất khả xâm phạm của người dân (Dân Quyền) và các biện pháp mạnh để đối phó với Giáo Hội La Mã. Dưới đây là các công việc làm cách mạng nay:

Thứ nhất là công bố Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền: Việc cấp thiết là Quốc Hội phải bàn thảo, biên soạn bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền (The Declaration of the Rights of Man and of the Citizen) và tìm phương cách giải quyết cấp thiết nạn khủng hoảng tài chánh đang làm cho nước Pháp lâm vào tình trạng phá sản, rồi tiến tới việc soạn thảo hiến pháp làm cơ cấu cho tổ chức tân chính quyền.

Sau hơn gần 4 tuần lễ cặm cụi làm việc, ngày 26/8/1789 Quốc Hội công bố bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền xác nhận rằng:

a. Quyền lực của nhà nước vì nhân dân mà có.

b. Mọi người dân phải bình đẳng trước pháp luật.

c. Tất cả mọi người dân đều có quyền ảnh hưởng vào việc làm luật .

d. Mục đích của chính quyền là để bảo vệ những quyền tự nhiên của con người. Đó là quyền tự do, quyền có tài sản, quyền sống trong an ninh và quyền chống lại áp bức.

e. Quyền tự do tư tưởng và tự do hành xử tín ngưỡng của mọi người dân phải được bảo đảm.(16)

Thứ 2 là ban hành quyết định sử dụng những biện pháp mạnh đối phó với Giáo Hội La Mã và soạn thảo hiến pháp: Về vấn đề  khủng hoảng tài chánh, ngày 4/8/1789, một đại biểu tu sĩ đảo ngũ về với hàng ngũ thứ dân là Tổng Giám Mục Talleyrand đề nghị phải tịch thu toàn bộ tài sản của giáo hội (tại Pháp) thì mới có thể giải quyết được vấn đề này. Được đại đa số tán thành, Quốc Hội làm thủ tục ban hành quyết định:

a. Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã.

b. Bãi bỏ hết tất cả những đặc quyền đặc lợi (trong đó có thuế thập phân) mà chế độ cũ đã dành cho Giáo Hội, tu sĩ và giới quý tộc.

c. Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền. (17)

Thứ 3 là  ban hành bản Hiến Chế Dân Sự cho Giới Tu Sĩ (the Civil Constitution of the Clergy). Theo bản hiến chế này, Giáo Hội Pháp nằm trong Quốc Gia, chứ không còn nằm trong Giáo Hội La Mã nữa. Mục đích của hiến chế này là tách rời Giáo Hội Pháp ra khỏi Giáo Hội La Mã, biến giáo hội này thành một tổ chức tôn giáo nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền, và trong vòng ba năm Giáo Hội Ca-tô Pháp sẽ bị tước bỏ hết tất cả những nguồn tài chánh.

Những biện pháp cách mạng trên đây bị giáo triều Vatican chống lại quyết liệt. Một mặt, giáo triều Vatican xúi giục những con chiên cuồng tín còn trung thành với Giáo Hội La Mã ở các vùng  Normandie, Vendée và Bretagne chống lại chính quyền. Mặt  khác, họ vận động các nước Phổ, Áo, Anh, Tây Ban Nha, Sardaigne và Nga liên kết với giáo triều Vatican  thành một liên minh chính trị và quân sự gọi là “Liên Minh Thánh” (Holy Alliances). Đầu tháng 3 năm 1793 các nước Phổ,  Áo, Anh và Tây Ban Nha đem đại quân vượt biên tràn vào nước Pháp với ý đồ tiêu diệt chính quyền cách mạng và tái lập chế độ quân chủ đạo phiệt Ca-tô cũng như phục hồi quyền lực và quyền lợi cho Giáo Hội La Mã ở nước Pháp.

Vì thế mà chính quyền Cách Mạng Pháp mới phải ban hành lệnh tổng động viên. Những ngày kế đó, gần như hầu hết nhân dân của nước Pháp nô nức hăng say lên đường đi cứu nước. Hoạt cảnh này giống hoạt cảnh người dân Vệt Nam trong những ngày tiếp theo chiều tối ngày 19/12/1946. Cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Pháp và một bên quân đội thập ác trong Liên Minh Thánh trở nên vô cùng khốc liệt kéo dài trong nhiều tháng trời. Cuối cùng, vì không có chính nghĩa, các đạo quân của Liên Minh Thánh lần lượt bị đánh bại và các giáo khu con chiên nổi loạn cũng bị dẹp tan.

Vua Louis XVI dưới chân máy chém -bi xử tử

Sau khi quân  xâm lăng Liên Minh Thánh bị đánh bại và rút quân về nước, chính quyền Cách Mạng Pháp thẳng tay trừng trị bọn tu sĩ áo đen cũng như bọn giáo dân cuồng tín và bọn Pháp gian khác mà đã số thuộc thành phần quý tộc và phản động. Sư kiện này được sách sử ghi lại như sau:

"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" đã xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đoạn đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục, tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi, chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang Đế Napoléon I) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có toàn quyền hành động hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang..” (18)

Nhiều hơn nữa, xin đọc Tiết Mục B, Thời Kỳ Thứ Hai  1500-1789, Chương 16 “Kế Sách Vatican Xâm Nhập Vào Giai Cấp Lãnh Đạo Nước Pháp”, tập sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam.

5. Nhân Dân Ý Đại Lợi vùng lên chống lại Giáo Hội La Mã:

Từ thế kỷ 4 cho đến thế kỷ 19, nước Ý vẫn còn ở trong tình trạng chia  5 sẻ 7. Vào thế kỷ 19 nước Ý ở trong tình trạng như sau:

a. Các tiêu quốc ở miền Trung gần kinh thành Rome nằm dưới ách thống trị trực tiếp của giáo triều Vatican và được gọi là “papal states”,

b. Các tiểu quốc ở miền Đông Bắc thi bị Áo quốc thống trị,

c. Các tiếu quốc ở miền Tây Bắc thì Pháp cai trị, và

d. các tiểu quốc ở miền Nam và đảo Sardinia thì độc lâp và theo chế độ cha cố (papacy).

Tình trạng này khiến cho nước Ý nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến và trình độ dân trí rất là thấp kém nếu so với  các nước Âu Châu khác ở Bắc Âu, Tây Âu và Đông Âu.


Giuseppe Garibaldi

Giống như người dân Pháp, người dân Ý Đại Lợi không những đã biết rõ bộ mặt thật cực kỳ ghê tởm của bọn đầu nậu trong giáo triều Vatican, mà còn biết rõ bọn tu sĩ áo chùng đen chỉ là bọn người lưu manh đại gian, đại ác, đúng như ông Giuseppe Garibaldi (1807-1882),  người lãnh đạo cuộc Cách Mạng Ý 1870 tuyên bố rằng:

"Linh mục là hiện thân của sự gian trá". Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý.” "Giáo Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do.(19)

Vì thế mà họ rất hăng say tham gia bất cứ tổ chức ái quốc nào có chủ trương chống lại Giáo Hội La Mã  và các thế lực ngoai cường là nước Áo và nước Pháp cấu kết với  giáo triều Vatican để cùng nhau xâu xé đất nước Ý. Chính vì thế mà tổ chức cách mạng dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Giuseppe Garibaldi vào đầu thập niên 1870  mới trở nên rất hùng mạnh.

Nhân khi đạo quân Pháp bảo vệ giáo triều Vatican trú đóng tại kinh thành Roma được lệnh rút về chính quốc để chuẩn bị cho cuộc chiến chống nước Phổ (Đức) do Pháp Hoàng Napoléon III chủ trương và tuyến chiến với quốc gia này vào ngày 19/07/1870, ngày 20/9/1870, nhà ái quốc Giuseppe Garibaldi đem quân Cách Mạng tiến vào kinh thành Roma  bao vây và nã đại pháo vào Tòa Thánh Vatican, buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. (20)

Nhờ vậy mà nước Ý được thống nhất và kể từ đó cả chính quyền nhân dân Ý thoát khỏi nanh vuốt của giáo triều Vatican.

6. Nhân dân Mexico vùng lên chống lại Giáo Hội La Mã:

Nước Mexico đã tống cổ được quân xâm lăng Tây Ban Nha ra khỏi đất nước, giành lại được chủ quyền độc lập vào năm 1821. Khốn nỗi, đây chỉ là thứ độc lập thoát khỏi cái ách thống trị của người Tây Ban Nha, nhưng họ vẫn còn phải sống dưới ách thống trị của quốc gia Vatican hay Giáo Hội La Mã và vẫn phải kéo lê kiếp đời môt cổ 3 tròng: Cái tròng Ca-tô (the Catholic loop), chế độ đạo phiệt Ca-tô, và cái tròng của các nhà chức sắc áo đen, áo tím, áo đỏ của Vatican.

Chính vì thế mà từ đầu thập niên 1840, tình cảnh của người dân Mexico còn khốn khổ gấp bội phần so với tình cảnh của dân Pháp vào đầu thập niên 1780. Cũng vì thế mà các bậc thức giả của quốc gia này kết hợp với nhau thành Phe Cấp Tiến dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Benito Juarez (1806-1872). Phe này cố gắng tìm phương cách xóa bỏ những bất công trong xã hội bằng các giải pháp chính trị cũng như kinh tế. Các giải pháp như vậy bị Phe Bảo Thủ (gồm những thành phần phong kiến và phản động cấu kết với giới tu sĩ áo đen và giáo triều Vatican chống lại mãnh liệt.

Tổng Thống Ignacio Comonfort (bên trái) - Benito Juarez (1806-1872)

Từ đầu thập niên 1840 đến năm 1855, cuộc chiến tranh giành quyền lực trong các cuộc bầu cử rất là quyết liệt. Trong cuộc bầu cử năm 1853, Phe Bảo Thủ thắng thế, lên nắm chính quyền. Những đề nghi cho giải pháp cải cách của Phe Cấp Tiến bi loại bỏ,  ông Benito Juarez và nhiều người trong phe Cấp Tiến phải trốn đi sống lưu vong ở Hoa Kỳ. Cuộc bầu cử năm 1855, Phe Cấp Tiến đại thắng và lên nắm chính quyền. Ông Benito trở về nước tham chinh và được trao cho nắm giữ chức vụ Tổng Trưởng Bộ Tư Pháp. Năm 1857, Quốc Hội chọn ông làm Chủ Tich Tối Cao Pháp Viện. Theo Hiến Pháp, chức vụ này kiêm nhiệm chức vụ phó tổng thống. Cũng trong năm này, chính quyền của phe Cấp Tiến ban hành Hiến Pháp 1857 nặng tinh thần Cách Mạng, chống Giáo Hội La Mã, gần giống như những điều khoản trong Bản Tuyên Ngôn Dân Quyền của Pháp ban hành vào ngày 26/08/1789 với các điều khoản tước bỏ hầu hết các đặc quyền mà các chính quyền trước đã dành cho Giáo Hội La Mã như sau:

1. Giải tán tất cả các tu viện nam cũng như nữ, 

2. Các nam tu sĩ bị cấm mặc áo dòng khi xuất hiện ở nơi công cộng

3. Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội Công Giáo. (21)

Năm 1917, bản Hiến Pháp 1857 được bổ túc thêm một vài điều nghiêm khắc hơn như sau:

1. Cấm chính quyền, không được đặt quan hệ ngoai giao với Vatican,

2. Tu sĩ Gia-tô (a) không được hoạt động chính trị, (b) không được mặc áo tu sĩ ở nơi công cộng, (c)   không được mở trường dạy học, và (d) không được làm chủ bất động sản. (22)

Tháng 1/1858, Tổng Thống Ignacio Comonfort bị quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm. Theo hiến pháp ông Benito Juarez (1806-72) trở thành tổng thống ngay sau đó.

Hiến Pháp 1857 đã được ban hành, ông Benito Juarez, lãnh tụ của phe Cấp Tiến, lên làm tổng thống. Thế nhưng, phe Bảo Thủ vẫn còn hoạt động mạnh và phát động cuộc chiến chống chính quyền. Như đã nói trên, Phe Bảo Thủ cấu kết với giới tu sĩ áo đen đưa ra kế hoạch gọi là Plan of Tacubaya với chủ trương (1) giải tán Quốc Hội, và (2) bắt giam lãnh tụ của phe Cấp Tiến là ông Benito Juarez. Hành động này khiến cho ông Benito Juarez phải trốn chạy và thành lập chính phủ lưu vong ở Querétaro rồi di chuyển về Veracruz. Trong hai năm 1858-1860, Phe Bảo Thủ thắng thế. Nhưng vào mấy tháng cuối năm 1860, tình thế đảo ngược. Trận đánh vào ngày 25/12 năm đó quân đội Phe Cấp Tiến đại thắng, và ngày 1/1/1861, họ tiến quân vào thành phố thủ đô Mexico City giữa tiếng reo mừng long trời lở đất của người dân thủ đô (xem tranh vẽ dưới đây được giữ trong Viện Bảo Tàng Quốc Gia.)

https://mexicocityperambulations.blogspot.com/2015/05/paseo-de-la-reforma-symbol-of-mexicos.html

Trong kỳ bầu cử tổng thống vào tháng 3/1861, ông Benito Juarez đắc cử, nhưng gặp quá nhiều khó khăn về kinh tế và tài chánh, ngân khố kiệt quệ. Ngành thương mại bị trì trệ, các chủ nợ nước ngoài (Anh, Pháp và Tây Ban Nha) đòi phải thanh toán các món nợ của họ.Trong hoàn cảnh như vậy, Tổng Thống  Benito Juárez phải tuyên bố hoãn trả những khoản nợ trên đây.

Tháng 10 năm 1861, Tây Ban Nha, Anh và Pháp cấu kết với nhau cùng mở một cuộc hành quân chiếm vùng duyên hải của Mễ Tây Cơ trong Vịnh Mễ Tây Cơ để cưỡng ép chính quyền Mễ Tây Cơ phải thanh toán những món nợ của họ.

Tháng 12 năm đó, quân đội của Liên Minh Tây Ban Nha – Anh – Pháp đổ bộ vào Veracruz và cuộc thương lượng bắt đầu bàn thảo. Vì các các đại diện của 3 quốc gia này không thể đồng ý với nhau về phương kế cưỡng ép Mễ Tây Cơ phải thanh toán các khoản nợ  như đã nói ở trên, Anh và Tây Ban Nha rút quân về, nhưng Pháp Hoàng  Napoléon III , vừa  bị thôi thúc bởi giấc mộng tái lập một đế quốc ở Châu Mỹ (Tân Thế Giới), vừa bị Hoàng Hậu Eugenie rỉ rả ỏn thót, cho nên mới quyết định  để lại một đạo quân ở  Mễ Tây Cơ và được  phe Bảo Thủ Mễ Tây Cơ triệt để ủng hộ. Thế là Pháp lao vào cuộc chiến chiếm đóng Mexico.

Tháng 6/1863, quân Pháp tiến vào chiếm đóng Thành Phố Thủ Đô Mễ Tây Cơ, không gặp một sự kháng cự nào.

Ngay sau đó, với sự đồng ý của Pháp Hoàng Napoléon III, một phái đoàn của phe Bảo Thủ Mễ Tây Cơ thỉnh mời hoàng thân Ferdinand Maximilian Joseph (tín đồ Ca-tô)trong hoàng tộc Habsburg của nước Áo đến làm vua nước Mễ Tây Cơ. Thực ra, kế hoạch này là do Napoléon III chủ trương. Ngay khi vừa lên ngôi, Maximilian ký thỏa hiệp với Napoléon III, theo đó thì Vua Maximilian nhận lãnh trả hết những món nợ của Pháp cũng như phải đài thọ những tốn phí cho đạo quân Pháp được lưu giữ  ở Mexico. Không phải chỉ có thế, ngày 03/10/1865, Vua Maximilian còn ban hành “Sắc Chỉ Đen” (Black Decree) và “tàn sát hơn 11 ngàn người đã ửng hộ Phe Cấp Tiến của nhà ái quốc Benito Juarez” (23)

Ngày 19/4/1865, cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ chấm dứt. Ngay sau đó chính quyền Hoa Kỳ vốn đã không ưa Pháp Hoàng Napoléon III vì (1) hành động cấu kết với giáo triều Vatican ngầm ủng hộ phe miền Nam chống lại miền Bắc trong thời nội chiến (1861-1865) ở Hoa Kỳ và (2) muốn thi hành chủ Thuyết Monroe khởi xương vào năm 1823.

Lúc đó, Pháp cũng đang vướng mắc vào các cuộc chiến ở nhiều nơi như Áo, Phổ, Việt Nam,... Tiên liệu được những khó khăn của Pháp ở Mexico trong những ngày tới, vì thế mà năm 1866 Pháp Hoàng Napoléon III ra lệnh rút  quân ở Mexico về Pháp. Chính quyền bù nhìn Maximilian bị bỏ rơi. Tình trạng này khiến cho Phe Bảo Thủ suy yếu. Phe Cấp Tiến vùng lên,  đại thắng tiến vào thủ đô Mexico City, Maximilian bị bắt và bị xử tử. Nhờ vậy mà nước Mexico mới thoát khỏi ách thống trị của Giáo hội La Mã.

Ảnh The vintagenews.com: Maximilian, vua cuối cùng của Mễ Tây Cơ (bên trái), bị bắt và bị xử tử

 

IV. Kết luận và đề nghị

Sáu trường hợp trên đây cho thấy rõ hầu như bất kỳ quốc gia nào có vấn nạn Giáo Hội La Mã đều:

1.  Hoặc là theo gương trường hợp trên đây dùng biện pháp mạnh đối phó với cái ”tôn giáo ác ôn ” này. Đó là các nước như Anh, Pháp, Ý Đại Lợi, Nhật Bản, Trung Hoa, Cuba, Nicaragua, v.v..,

2. Hoặc là

a. ghi điều khoản tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền vào hiến pháp của nước họ.

b. ban hành luật minh thị rõ rằng:

b1. việc hành xử tôn giáo phải nằm  trong  khuôn viên nhà thờ, không được dùng đưỡng phố và các nơi công cộng khác để hành xử các lế nghi tôn giáo,

b2.  các tu sĩ phải trung thành với hiến pháp và được đối xử công bằng trước pháp luật giống như nhữg công dân khác trong nước. Hầu hết các nước tiền tiến Âu Mỹ, cũng như Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan và  Nhật Bản đều sử dung biện pháp này.

3.- Không đặt quan hệ ngoại giao vói giáo triều Vatican. Rất nhiều các nước theo Hồi giáo đã sử dụng biện pháp này.

 

Là con dân của dân tộc Việt luôn luôn đau đáu hướng nhìn về Tổ Quốc, mong mỏi đất nước được an bình và phồn thịnh, người viết xin thành khẩn đề nghị các nhà lãnh đạo chính quyền Việt Nam hiện nay:

1. Theo gương Trung Quốc:

a. Cương quyết không thiết lập bang giao với Vatican: Lý do đã được trình bày đầy đủ trong Chương 2 (Phần I trong bức Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam: https://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php).

b. Tiến hành thành lập một Giáo Hội Ki-tô Việt Nam độc lập, tách khỏi Giáo Hội La Mã, và đồng thời kiểm soát chặt chẽ những người hành nghề linh mục, sử dụng những biện pháp cứng rắn để xử lý những tu sĩ và giáo dân nào vẫn còn ngoan cố tiếp tục thần phục Tòa Thánh Vatican.

c. Cương quyết không để cho Vatican hay các nhà thờ Ki-tô mở trường học tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam để tránh cho con em chúng ta khỏi bị họ dùng chính sách ngu dân và nhồi sọ. Những người này đã mất hết nhân tính, trở thành hạng người vong bản, phản quốc, phi luân và loạn luân giống y hệt như những chuyện trong kinh thánh cũng như trong đời sống hoang đàng phi luân của các giáo hoàng và giới tu sĩ áo đen. Bằng chứng bất khả phủ bác cho các sự kiện này là nạn ấu dâm, hãm hiếp nữ tín đồ đã được phơi bày ra trước công luận từ đầu năm 2002 cho đến nay mà điển hình là Linh-mục Giuse Nguyễn Ngọc Dũng: (http://sachhiem.net/TONGIAO/tgB/Bacaytruc00.php).

d. Tuyệt đối không trả lại cho Vatican những khỏan bất động sản  mà trước đó chính quyền ta đã thâu hồi lại.

e. Tuyệt đối không để cho Vatican tự ý bổ nhậm các linh mục và giám mục mà không có sự chấp thuận của chính quyền ta.

2. Theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp 1789:         

a. Quốc hữu hóa toàn bộ bất động sản của Vatican kể cả các trường học, nhà thương, tu viện, chủng viện và tất cả các cơ sở khác, chỉ để lại cho mỗi họ đạo (xóm đạo hay làng đạo) một ngôi nhà thờ, sân trước (giới hạn) và 1 căn nhà cho lịnh mục hay giám mục quản nhiệm cư trú.

b. Ban hành một hiến chế dân sự cho giới tu sĩ Ca-tô với nội dung giống như bản hiến chế mà chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã ban hành, trong đó bọn tu sĩ áo đen được coi như là bình đẳng trước pháp- luật, giống như tất cả người dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến pháp và nước Việt Nam, chứ không phải trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã.

3. Theo gương Nhật Bản trong thế kỷ 17:

Trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng chiêu bài tôn giáo để gây bạo loạn, mưu đồ lật đổ chính quyền và rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam.

4. Theo gương nứớc Anh:

Ban hành một đạo luật cấm, không cho tuyển dụng tín đồ của Giáo Hội La Mã vào bất kỳ một  chức vụ chỉ huy trong các cơ quan công quyền, không tuyển mộ họ vào làm việc bất kỳ cơ quan nào trong chính quyền cũng như trong quân đội.

5. Theo gương nước Mễ Tây Cơ:

Ban hành một đạo luật cấm các tu sĩ của Vatican, không cho hành nghề dạy học và không được mặc áo tu sĩ ở ngoài Nhà Thờ.

6. Theo gương Hoa Kỳ:

a. Thi hành chính sách giáo dục đại chúng, tự do và khai phóng, cổ võ, giúp đỡ và khích lệ việc in ấn, phát hành và phổ biến rộng rãi những sách báo và tài liệu văn học, khoa học, lịch sử, đặc biệt là lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã (miễn là không chống chính quyền).

b. Đưa vào chương trình học ở bậc trung học môn học quốc sử và lịch sử thế giới, nâng cao thời lượng và nâng cao môn học này lên thành môn học chính, ngang hàng với các môn Quốc Văn, Toán và Khoa Học, giống như ở các trường trung học ở Hoa Kỳ. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 8 ở trên trong sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam: (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_08.php).

7. Theo gương nước Nga và nhiều nước khác:

Ban hành một đạo luật công nhân đạo Phật và các tôn giáo khác được tự do họat động ở trong nước, ngọai trừ đạo Ki-tô La Mã và đạo Tin Lành.

Cũng nên biết trong tháng 7/2016, Tổng Thống Vladimir Putin đã ký đạo luật được coi như là một biện pháp trừng phạt bất kỳ việc truyền đạo nào ở ngoài nhà thờ. Một số các nhà quan sát cho rằng đây là một sự hạn chế khắt khe nhất trong lịch sử thời “hậu Sô-viết”(24)

8. Nâng cao phẩm chất các giáo viên phụ trách dạy môn sử bằng cách: 

a. Mở các khóa học bổ túc hay tu nghiệp để cho các giáo viên đặc trách giảng dạy môn lịch sử  có cơ hội học hỏi mở rộng kiến thức về lịch sử, đặc biệt về lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã,

b. Cung ứng đầy đủ và phổ biến rộng rãi các tài liệu lịch sử thế giới và các tài liệu lịch sử có liên hệ đến vai trò hay những hành động của Vatican trong những cố gắng ngăn chặn những bước tiến hóa của nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua, giống như các thư viện tại Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới.

c. Đặt ra giải thưởng hàng năm về các tác phẩm biên khảo lịch sử với những đề tài về những cuộc tranh đấu của nhân Âu Châu và nhân dân thế giới chống lại Giáo Hội La Mã hay Vatican để đòi lại quyền làm người và bảo vệ chủ quyền của đất nước cùng sự sinh tồn của dân tộc.

Người viết xin tình nguyện gửi tặng thư viện quốc gia, ưu tiên dành cho Ban Sử tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội hết tất cả các sách và tài lỉệu mà người viết hiện có và đang dùng để biên soạn tập sách này cũng như bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã và các tập sách khác (đã và đang tiếp tục đưa lên sachhiem.net) để cho các anh chị em sinh viên Ban Sử và mọi người ham đọc sử có tài liệu sử dụng.

Trân trọng,

Nguyễn Mạnh Quang

Video: http://www.ovovideo.com/en/french-revolution/

___________

CHÚ THÍCH

 

(8) Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois: Scott, Foresman and Company, 1974), 324. Nguyên văn: “The last phase of religious warfare was a savage struggle waged in Germany from 1618 to 1648, known as the Thirty Years’ War. An important cause of the war was the failure of the Peace of Augsburg to settle all the religious problems of Germany. It had recognized only Lutheranism among the Protestant sects and had ignored Calvinism. Nor did it prevent struggles for Church property. Some of of the clergy who became Lutheran after 1552 kept the lands they held as Catholics. Protestant princes had continued to take over Church territory.

(9) Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Ibid., 398. Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II by his second wife.” 

(10) Brown, Hariette McCune, Ludlum, Robert  P. & Wilder Howard B, This Is Americas Story (Atlanta, GA: Houghton Mifflin Company Boston, 1975, page 63.Nguyên văn: "Who can show me the will of Father Adam leaving all the world tp Spain and Portugal?"

(11) Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr. 392.

(12) Thomas P. Neil, Story of Mankind (New York: Holt, Rinehart and Winston, Inc., 1968), p.449.

(13) Pierre Gaxotte, Age of Louis XIV (New York: The Mamillan Company, 1958), p. 198.  Nguyên văn: “God gave no power to any ecclesiastical authority over kings and sovereigns and that “they cannot be deposed either directly or indirectly by the authority of the heads of the Church.”

(14) Pierre Gaxotte, Ibid., p. 198. Nguyên văn: (Article 18 of the Edict of Nantes had forbidden the taking away "by force or persuasion" of Protestant children for the purpose of baptism and instruction.)

(15) Pierre Gaxotte, Ibid., p. 196. Nguyên văn: “Generally speaking, the policy of Louis XIV with respect to Rome oscillated between brutality and submissiveness, had no true grandeur, no coherence, and was ultimately futile.” 

(16) Carton J. H. Hayes, Modern Times – The F rench Revolution to the Present (New York: Macmillan Publishing Company, 1983), p. 35 

(17) Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Sàigòn: Quan Điểm, 1964), tr. 35.

(18) Malachi Martin,The Decline And Fall Of The Roman Church New York: Putnam ’s, 1981) p. 232. Nguyên Văn: "First, France, "eldest daughter of the church "he used to call it, abolished all religion, beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all seminaries, schools, religious orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian Bonaparte to liberate italy and Rome." "Just as you please," wrote the Paris government to the Corsian. "Destroy Rome and the papacy utterly "

(19) Trần Chung Ngọc,Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 300.

(20) Malachi Martin,Rich Church Poor Church (New York: Putnam’ s, 1984), p. 170..Nguyên văn: "On August 19, 1870, the protecting French troops withrew definitely. With the battle of Sedan on September 2, the empire of Napoléon III came to an end. The papacy had lost its last defender, and France, the "eldest duaghter of the Church" was to have an astounding 99 goverments between 1871 and 1940. Immediately the Italian nationalist troops march on Rome. They encamped around the old Leonine walls of Rome on September 19. The following day, after some three hours of artillery barrage and sporadic hand-to-hand fighting, the pope ordered the white flag to be raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten minutes later, all firing had ceased. The Italian troops entered the city and took possession of it all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State had ceased to exist. Its 16,000 square miles were now reduced to 480,000 square meters on and around Vatican Hill where St. Peters it adjoining buildings, and the Vatican gardens were clustered.”

(21) Charlies Nguyễn, Thực Cất Các Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm,  2003), tr.  159.

(22) Chu Văn Trình, Thái Vân & Trần Quang Anh, Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình Của Giáo Chủ John Paul II – Tập 1 (Mt Dora, Fl: Tự Xuất Bản,, 1994), tr. 68.

(23) Nguồn: Maximilian I Of Mexico (https://en.wikipedia.org/wiki/Maximilian_I_of_Mexico).

(24)  Nguồn:

Ông Hannu Haukka nói với các Cơ Quan Truyền Thông Quốc Gia (mà ông là Giám Đốc) rằng, tình hình mới này gống như Liên Bang Soviet vào năm 1929 (Theo tin của Breitbart News). Thời đó, việc tuyên xưng đức tin chỉ được phép thực thi ở trong nhà thờ mà thôi. Nói một cách thực tế, chúng ta trở lại tình huống giống như thời Soviet. Luật chống khủng bố này là những luật gắt gao nhất trong thời “Hậu Soviet”.

 

Luật mới này được coi như là có chủ đích chống lại sư lan tràn của khủng bố cũng như quá khích và đã được Thượng Viện trong Quốc Hội Nga chấp thuận. Biện pháp này chặn đứng việc truyền đạo ở bất kỳ nơi nào không được chính quyền chuẩn nhận là giáo đường.”(http://sachhiem.net/print.php?id=6699).

Bài khác