Thần học Tự do-Hiện đại

  ●   Bản rời

Thần học Tự do-Hiện đại

Trần Tiên Long dịch

13 tháng 3, 2011

Kính thưa quí đọc giả,

Bài này cho chúng ta thấy có nhiều cách hiểu Kinh Thánh tùy theo quan điểm của người đọc. Mỗi cách hiểu đều có những sai lầm đặc thù đưa đến những hệ lụy khó lường ở những đoạn khác trong Kinh Thánh.

Thiên chúa giáo thường diễn dịch tùy tiện Kinh Thánh theo nhiều cách khác nhau, nhiều khi còn mâu thuẫn lẫn nhau, miễn sao có lợi. Có lẽ đó cũng là lý do tại sao Thiên chúa giáo có một thời rất lâu dài đã ngăn cấm các tín đồ phổ biến và đọc Kinh Thánh. Vậy lựa chọn cách hiểu nào thì tùy thuộc vào mỗi người trong chúng ta, bởi vì không có cách hiểu duy nhất nào có thể thỏa mãn toàn bộ hai cuốn Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước.

Nếu chúng ta chấp nhận Kinh Thánh là sản phẩm của con người hay sai lầm, không phải là lời của Chúa toàn năng, thì những thắc mắc về nó sẽ tự động được giải tỏa một cách thỏa đáng.

TTL

Saturday, December 25, 2010 6:40 AM

 

Thần học Tự do-Hiện đại

Trần Tiên Long dịch

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9279&rb=0303, ngày 21.2.2007


Ghi chú của người dịch:

Vì đây là một bài tiểu luận bàn về thần học Ki-tô giáo, tôi dịch chữ “God” có khi là Thượng đế có khi là Thiên chúa tùy theo văn cảnh. Những chỗ liên quan tới Kinh thánh hoặc Đức Giê-su thì tôi nghĩ nhất thiết phải dịch là Thiên chúa.

 

Các nhà thần học theo chủ nghĩa Tự do hay chủ nghĩa Hiện đại là những người chấp nhận rằng Kinh thánh không phải là không sai lầm, rằng đa số những câu chuyện liên quan tới Chúa Giê-su thì không phải lịch sử. Thật vậy, nhiều người trong họ có lẽ còn bác bỏ giáo lý Thiên chúa Ba Ngôi, và có người thậm chí còn bác bỏ hoàn toàn niềm tin vào sự tồn tại của Thượng đế. Tuy nhiên, dẫu có lạ với một ngưòi bình thường thì những nhà thần học này vẫn nhìn nhận mình là những tín đồ Ki-tô giáo. Quả thật, đa số các nhà thờ Tin lành thuộc dòng chính ngày nay đều theo một hình thức nào đó của thần học tự do-hiện đại. Các thần học gia này có lẽ sẽ vui vẻ thừa nhận phần lớn những phát hiện trong website này, nhưng chắc chắn họ cũng muốn gạt bỏ chúng như là những phản đối “vô nghĩa” đối với đức tin của họ. Mục đích của chúng ta trong phần này là khảo sát những giáo lý cốt lõi của các thần học gia tự do để xem những giáo lý đó nói gì, hay chúng có gì là sự thực. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu, việc điểm qua lịch sử của phong trào tự do-hiện đại có lẽ sẽ rất có ích cho việc đánh giá đúng mức phong trào này. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét những lối giải thích về Kinh thánh, Giê-su và Thượng đế trong thần học tự do.

  • Lịch sử của Thần học Tự do-Hiện đại
  • Quan điểm Tự do về Kinh thánh
  • Quan điểm Tự do về Giê-su
  • Quan điểm Tự do về Thượng đế

Chúng ta sẽ thấy rằng thần học tự do-hiện đại không hề dựa trên nền tảng lý trí. Thực vậy, việc họ không ngừng diễn đạt những tư tưởng của mình bằng những thuật ngữ mơ hồ cho thấy một điều chỉ có thể miêu tả là một hành động bất lương tri thức và không muốn đối diện với một sự thực dễ nhận thấy - đó là tri thức hiện đại đã chứng minh rằng Ki-tô giáo như được biết đến suốt hai ngàn năm nay là sai lầm.

Lịch sử của Thần học Tự do-Hiện đại

Nhìn từ quan điểm của thần học, thế kỷ 19 đã kế thừa một số vấn đề khó khăn từ những thế kỷ trước. Những khó khăn này chủ yếu xuất phát từ những lãnh vực ngoài thần học Ki-tô giáo truyền thống. Do đó, những triết gia theo chủ nghĩa hoài nghi, chẳng hạn như David Hume (1711-1776) và ở một chừng mực nào đó là Immanuel Kant (1724-1804), đã đặt ra rất nhiều khó khăn cho các thần học gia. Trong tác phẩm Nghiên cứu về hiểu biết con người (1748) của ông, Hume đã chứng minh sự phi lý của những phép lạ trong triết học. Và trong cuốn Đối thoại về tôn giáo tự nhiên (1779) được xuất bản sau khi ông mất, Hume đã chứng minh rằng những lập luận truyền thống về sự tồn tại của Thượng đế, nhất là lập luận thiết kế, là không thể dẫn đến những kết luận những người hữu thần mong muốn. Trong kiệt tác đồ sộ của mình, Phê phán lý tính thuần túy (1781), Immanuel Kant đã chứng minh rằng những lập luận ủng hộ sự tồn tại của Thượng đế là không hề có giá trị. Thậm chí còn nhức nhối hơn cho ngành thần học chứ không phải cho triết học là vấn đề triết học tự nhiên mà sau này được gọi là khoa học. Khoa học đã khiến các nhà thần học bối rối khi nó lấn sang những lĩnh vực vốn lâu nay được coi là sân chơi riêng của họ. Cuộc cách mạng Copernicus đã chứng minh rằng mặt trời chứ không phải trái đất mới là tâm điểm mà tất cả những gì được biết đến trong vũ trụ đều xoay quanh. Điều này làm trái đất, rồi tiếp đó là con người, mất đi vị thế là trung tâm của vũ trụ. Khi con ngưòi bị đặt ở một góc độ vô nghĩa trong vũ trụ thì việc con người là vương miện vinh quang của tạo hóa lại càng trở nên khó tin hơn. [1]

David Hume (1711-1776) Immanuel Kant (1724-1804)

Ở thế kỷ 19, những khó khăn ngày một trở nên chồng chất. Việc xuất bản học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1809-1882) qua tác phẩm Nguồn gốc các loài (1859) có nghĩa là khoa học đã dấn thêm một bước trong việc chống lại các nhà thần học. Thuyết tiến hóa của Darwin đã chứng minh rằng con người chẳng qua chỉ là một con vật đã tiến hóa, không hơn không kém. Nếu tiến hóa là đúng, và bằng chứng được Darwin trưng ra trong sách của ông là thuyết phục, thì Sáng thế ký (Genesis) phải là sai lầm; và khác xa với việc là hình ảnh của Thượng đế, loài người mang đầy đủ các dấu vết của thủy tổ loài vật. Trong cộng đồng Ki-tô giáo, sự phát triển của những phê phán nhắm vào Kinh thánh, nhất là theo hình thức “tự do hơn”, đã bắt đầu cho thấy rằng Kinh thánh không phải là một văn bản độc nhất. Bằng những phương pháp phê phán thường được sử dụng trong việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử, các nhà phê bình đã chứng minh rằng 5 cuốn Kinh thánh đầu tiên không phải do một nhà tiên tri Do thái có tên là Mai-sen (Moses) viết như người ta vẫn tin lâu nay. Những cuốn Kinh thánh này chứa đựng dấu vết của ít nhất 4 tác giả khác nhau. Chúng còn cho thấy rằng một số sách tiên tri, chẳng hạn như cuốn Da-ni-en (Daniel), thực ra đã được viết sau khi những tiên tri mà nó dự báo đã xảy ra rồi. Ngay cả cuốn Kinh Tân Ước cũng không tránh khỏi tình trạng đó. Người ta bắt đầu nhận thấy rằng các cuốn Kinh thánh đâu phải được viết gần thời điểm xảy ra các biến cố được miêu tả trong đó, mà đã được viết hàng thập kỷ, thậm chí có thể đến hàng thế kỷ sau đó. Kết quả của việc phê phán tự do đã cho thấy niềm tin Kinh thánh không thể sai lầm không còn đứng vững được nữa. [2]

Như vậy, đến giữa thế kỷ 19, rõ ràng là đa số các nhà thần học đã không còn coi Kinh thánh là “chuyện thường ngày ở nhà thờ” đối với thần học Ki-tô giáo nữa. Bức bình phong vững chắc của nền thần học Ki-tô giáo đã bị xé rách, không bao giờ có thể vá lại được nữa. Thần học Ki-tô giáo đã tách thành hai nhánh: chủ nghĩa bảo thủ duy văn tự và chủ nghĩa tự do-hiện đại. [a] Những người duy văn tự là những người đi theo con đường phi lý rành rành và họ bác bỏ bất cứ khám phá khoa học nào trái với giải thích theo nghĩa đen của Kinh thánh. Còn chủ nghĩa phê phán tự do thì bị họ lên án là khí cụ của ma quỷ. [b] Trái lại, những nhà thần học tự do-hiện đại đã chấp nhận một cách rất lý trí những khám phá khoa học và những phê phán Kinh thánh. Họ cũng đã cố gắng thử nhiều phương pháp khác nhau để làm cho đức tin của họ tiếp tục có ý nghĩa và sống động, bằng việc vận dụng những phương pháp giải thích khác nhau về Kinh thánh và về các quan điểm truyền thống trong thần học chính thống.

Người tiến hành những bước đi đầu tiên của thần học tự do là Friedrich Schleiermacher (1768-1834), một nhà thần học người Đức. [c] Khi cố gắng giành lại những tầng lớp có học thức về cho Ki-tô giáo, ông đã dạy rằng tranh luận về các bằng chứng ủng hộ sự tồn tại của Thượng đế, về tính bất khả sai lầm của Thánh kinh và về các phép lạ, cùng lắm chỉ là tranh luận về những vấn đề bên lề. Vấn đề quan trọng nhất, theo Schleiermacher, là cảm nhận Thiên chúa hiện diện trong tâm hồn người tín đồ. Một nhà thần học người Đức khác, Albrecht Ritschl (1822-1889), cũng dạy rằng nền tảng của một tôn giáo chân thực phải là một đức tin chứ không phải là lý trí. Theo ông, tôn giáo quan tâm đến việc phán xét giá trị chuẩn tắc, còn lý trí, gồm cả khoa học và phê phán, thì chú trọng đến các vấn đề thực chứng. Như vậy, ngay cả khi việc phê phán Kinh thánh chứng minh được rằng những câu chuyện về Đức Giê-su sinh từ người nữ đồng trinh, về các phép lạ của ngài, về thời kỳ trước khi ngài giáng thế đều sai lầm thì điều đó cũng không làm thay đổi giá trị của con người Giê-su. Theo Ritschl, điều quan trọng về Giê-su là ngài đã dẫn đưa nhân loại tới “Thiên chúa của những giá trị”; nói cách khác, Giê-su đã làm những tín đồ của ngài ý thức được các giá trị cao nhất của cuộc đời. Quan điểm của Ritschl được phổ biến bởi một nhà thần học người Đức khác, Adolf Von Harnack (1851-1930). Harnack đã phê phán hầu hết những giáo lý truyền thống của Ki-tô giáo và đã quy trách tông đồ Phao-lô (Paul) đã làm băng hoại những giáo huấn đơn giản của Giê-su bằng cách biến tôn giáo của Giê-su thành một tôn giáo về Giê-su. Harnack bác bỏ các phép lạ trong Kinh thánh và dạy rằng Giê-su không bao giờ nhận mình là Thiên chúa. Harnack dạy rằng có thể quy Ki-tô giáo về một vài nguyên lý đơn giản: Niềm tin vào Đức Chúa Cha và Kinh thánh trong đó Giê-su chỉ là một “con người hiện thực.” Về cuối đời, Harnack đã vận động đòi loại bỏ Kinh Cựu Ước ra khỏi hệ thống Kinh thánh Ki-tô giáo. [4]

Những người bảo thủ-duy văn tự phản bác lại theo cách thức đã trở thành nét đặc trưng cho phong cách của họ: họ dùng tới biện pháp chính trị để hất những nhà giảng đạo tự do ra khỏi bục giảng của các nhà thờ Tin lành, và loại những giáo sư tự do ra khỏi các chức vụ giáo dục trong các chủng viện thần học. Họ đã giành được một số thành công ban đầu, nhưng cuối cùng ở vào thập niên thứ 3 của thế kỷ 20, phần nhiều do sự áp đảo về số lượng của những nhà thần học không thuộc phái bảo thủ duy văn tự, họ đã buộc phải rút lui vào những giáo phái nhỏ và các chủng viện có liên quan. [5]

Đến lúc này thì rõ ràng là ngay cả những nhà thần học nặng tình với truyền thống tự do cũng thấy rằng phong trào tự do không thể tiếp tục cuộc hành trình của nó nữa. Rồi thể nào nó cũng sẽ đi đến chỗ bác bỏ hoàn toàn Kinh thánh và những nguyên tắc cơ bản của Ki-tô giáo: con đường chắc chắn dẫn đến chủ nghĩa vô thần. Có thể nói rằng điều cần thiết lúc đó là phải chuyển trọng tâm từ những thành quả của tư duy phê phán sang những vấn đề “ngon ăn”, chẳng hạn như những vấn đề về sự tồn tại của con người. Điều này được nhận thấy trong các bài viết của nhà thần học người Đan Mạch ở thế kỷ 19, Soren Kierkegaard (1813-1855). Triết lý của ông, sau này trở thành chủ nghĩa hiện sinh, có vẻ như giải quyết được những vấn đề về sự tồn tại của con người. Ông dạy rằng sự tồn tại của con người là không thể lý giải bằng lý trí được. Do vậy cũng không thể dùng một hệ thống chân lý khách quan dựa trên lý trí để lý giải cho sự tồn tại của Thượng đế, một hữu thể không thể tách rời khỏi sự tồn tại của con người. Như vậy, là một tín đồ Ki-tô giáo có nghĩa là bước một bước bằng đức tin vào vùng tối, để phó thác toàn vẹn đời mình cho Chúa Ki-tô. [6]

Bởi vậy, khi nhà thần học người Thụy Sĩ, Karl Barth (1886-1968), phản ứng lại những giáo huấn “cực đoan” hơn của những thần học gia tự do và khẳng định đa số những giáo lý của thần học truyền thống, chẳng hạn như giáo lý về Thiên chúa Ba Ngôi và về niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô như Ngôi Lời nhập thế, ông đã không bác bỏ chủ nghĩa phê phán tự do. Ông chỉ đơn giản chuyển trọng tâm sang những vấn đề hiện sinh. Giống như nhiều nhà thần học tự do khác, ông không tin rằng lý trí có nhiều tác dụng trong lãnh vực tư duy thần học. [7]

Một đại diện quan trọng nữa của chủ nghĩa truyền thống tự do là nhà thần học người Đức Rudolf Bultmann (1884-1976). Bultmann chắc chắn là một trong những học giả lớn của thế kỷ 20 về Kinh Tân Ước . Ông nổi tiếng vì hai điều liên hệ tới phê phán Kinh thánh: “Hóa giải thần thoại” và “Phê phán hình thức”. Đối với ông và những người theo ông, những câu chuyện thần thoại trong Kinh thánh phản chiếu rõ ràng thế giới quan của các tín đồ ngày xưa. Ngày nay, những thần thoại trong Kinh thánh không còn được con người hiện đại thực lòng tin nữa. Bởi vậy, những thần thoại này, chẳng hạn như niềm tin rằng những hữu thể siêu tự nhiên (Sa-tăng, thiên thần, ma quỷ và Thiên chúa) thường hay can thiệp vào vận động tự nhiên của thế giới, rằng Giê-su là một hữu thể vốn tồn tại từ trước được sai đến để chuộc tội cho con người qua sự hiến thân của ngài, tất cả không phải là lịch sử khách quan. Chúng là những thần thoại phản chiếu sự hiểu biết về thế giới của các tín đồ Ki-tô giáo ngày xưa.

Karl Barth (1886-1968) Rudolf Bultmann (1884-1976)

Hóa giải thần thoại là một chương trình đưa đến sự cứu độ hoặc tuyên xưng đức tin của những tín đồ ngày xưa đằng sau các thần thoại. Đây là điểm làm Bultmann khác với các thần học gia tự do ở đầu thế kỷ 20 vốn là những người thẳng thừng gạt bỏ thần thoại ra khỏi thần học của họ. Phê phán hình thức là phương pháp hỗ trợ cho quá trình hóa giải thần thoại. Nhận thấy rằng những câu chuyện trong Kinh thánh khởi đầu là những câu chuyện truyền miệng, rằng chúng thường có những hình thức nhất định nào đó, những người phê phán hình thức đã tìm ra được bối cảnh lịch sử của lần kể chuyện đầu tiên. Phê phán hình thức đã chứng minh rằng đa số các câu chuyện về Giê-su trong Kinh thánh, ngay cả những câu chuyện không mang tính thần thoại, đều không phải là lịch sử có thực, mà chúng là kết quả của niềm tin và kỳ vọng của cộng đồng Ki-tô giáo về Chúa Giê-su.

Tuy nhiên, từ vị trí này, Bultmann, cũng như Barth, đã khẳng định niềm tin của ông vào Giê-su qua một quan điểm hiện sinh. Ông tuyên bố rằng tất cả những gì người tín đồ cần biết là Giê-su đã từng tồn tại và chịu đóng đinh. Đối với Bultmann, việc những câu chuyện về Giê-su trong Kinh thánh có thực hay không thì không có gì là quan trọng. Điều quan trọng về những câu chuyện này là chúng cho thấy ý tưởng về Chúa Giê-su đã có ý nghĩa gì đối với những người đầu tiên truyền tụng những câu chuyện đó. Như vậy theo Bultmann, điều Kinh thánh trình bày không phải là một chân lý lịch sử hay khoa học mà là một chân lý hiện sinh. [8]

Cùng thời với Bultmann, Paul Tillich (1886-1965) đã phát triển một ngành thần học hiện sinh riêng biệt. Điều thú vị đối với mục đích của chúng ta là Tillich đã khẳng định rằng không có tồn tại một Thượng đế như miêu tả trong thần học Ki-tô giáo. [9] Chúng ta sẽ bàn thêm về vấn đề này ở phần sau.

Sự phát triển tư duy tự do cuối cùng đã khai sinh ra những nhà thần học như Dietrich Bonhoeffer (1906-1945). Ông tin rằng Ki-tô giáo truyền thống đã tồn tại vượt quá lợi ích thực sự của nó, và ông cổ vũ cho một “Ki-tô giáo phi tôn giáo”. Bonhoeffer, chết trong trại tập trung Quốc xã, dường như tin là không có đời sau, không có thông điệp về sự cứu rỗi mang tính cá nhân trong Kinh thánh. Bonhoeffer, và những người thừa kế tri thức của ông, đã bác bỏ quyền hạn truyền thống, nghi thức phụng vụ và lý thuyết siêu hình của Giáo hội, và ông kêu gọi thế tục hóa hoàn toàn Ki-tô giáo. [10] “Thần học cấp tiến” này, như cách gọi sau này, là những người cầm cờ đi tiên phong cho phong trào giải phóng Ki-tô giáo.

Đến đây, chúng ta chấm dứt cuộc tham quan ngắn ngủi vào hậu trường lịch sử của thần học tự do-hiện đại. Cũng nên nhắc lại rằng các thần học gia tự do đã không đạt được vị trí của họ bằng những lý luận thần học thâm thúy: Những hoàn cảnh ngoại tại như những khám phá của khoa học, khoa tôn giáo đối chiếu, triết học khai sáng đã buộc họ phải tìm đến một phương pháp lý luận như vậy, vì những phương pháp khác đều đẩy chủ nghĩa chính thống vào tình trạng hoàn toàn phi lý và dẫn đến sự bác bỏ hoàn toàn của chủ nghĩa vô thần đối với thần học. Mối quan tâm chính của chúng ta là những giả định nhận thức luận căn bản của thần học tự do có giá trị hay không. Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát các quan điểm tự do về Kinh thánh, Đức Giê-su, và Thượng đế.

Quan điểm Tự do về Kinh thánh

Những người bảo thủ duy văn tự tin rằng trừ những ngụ ngôn cố ý rõ ràng ra thì mọi điều trong Kinh thánh đều đúng theo nghĩa đen. Do đó, đối với những người biện giải Kinh thánh theo nghĩa đen này thì đã tồn tại ông A-đam và bà E-va, đã xảy ra một trận lụt đại hồng thủy trên toàn trái đất, và quả thực là đã có sự kiện Chúa Giê-su Phục sinh ở thế kỷ đầu tiên. Từ việc nghiên cứu Kinh thánh của chúng ta trước đó, chúng ta có thể thấy rằng quan điểm bảo thủ duy văn tự về những điều này là không thể đứng vững: nghĩa là các môn khoa học về tiến hóa đã chứng minh rằng không thể có ông A-đam và bà E-va, địa chất học và khảo cổ học đã chứng minh rằng nạn lụt đại hồng thủy đã không thể xảy ra mà thực ra là có xuất xứ từ một câu chuyện thần thoại trước đó của xứ Sumer (thuộc Iraq ngày nay - N.D). Phê phán lịch sử cũng đã chứng minh rằng những cách lý giải khác nhau trong Kinh thánh về sự Phục sinh của Chúa Giê-su chứa đầy những mâu thuẫn đến mức không thể tin cậy được. Tuy vậy, những người bảo thủ duy văn tự cũng đã đúng và nhất trí được với những người hoài nghi về một vấn đề quan trọng: phần lớn Kinh thánh được viết bởi các tác giả với chủ ý công khai là để chuyển tải những sự kiện lịch sử, chứ không phải là những thần thoại.

Quan điểm của các thần học gia tự do về Kinh thánh có thể được chia thành 2 nhánh lớn, không nhất thiết loại trừ nhau: nhánh thứ nhất cho rằng thần thoại trong Kinh thánh chuyển tải những chân lý biểu tượng; nhánh thứ hai cho rằng Kinh thánh là văn bản rất con người và có thể sai lầm, nhưng có một số đoạn được Thiên chúa linh ứng và những đoạn này chỉ ra con đường đi đến chân lý. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét những quan điểm này.

Quan điểm của Bultmann dĩ nhiên là đại diện tiêu biểu cho nhánh thứ nhất. Giải mã thần thoại công khai chấp nhận rằng nhiều câu chuyện trong Kinh thánh là không đúng theo nghĩa đen. Phê phán hình thức cố gắng tìm ra những chân lý biểu tượng đằng sau các thần thoại này. Nếu độc giả nghĩ rằng quan điểm này không phổ thông, tôi xin trích ra dưới đây một đoạn trong báo cáo xuất bản năm 1938 của Ủy ban Giáo lý Ki-tô giáo – báo cáo này đã được Giáo hội Anh phê chuẩn:

Có thể thấy những phát biểu khẳng định những sự kiện riêng biệt có giá trị như những cách biểu đạt các chân lý tinh thần bằng hình ảnh cho dù bản thân những cái được coi là những sự kiện thì đã không xảy ra trên thực tế. Trong trường hợp đó, những phát biểu như vậy phải được gọi là chân lý biểu tượng. Do đó, việc chấp nhận và khẳng định những điều khoản riêng biệt trong những tín điều khi hiểu chúng theo nghĩa biểu tượng này không nhất thiết phải là điều không chính đáng. [11]

Báo cáo trên có lẽ đã cố tình không nói rõ những điều khoản nào trong tín điều Anh giáo phải được hiểu theo nghĩa biểu tượng.

Nhánh thứ hai nhận định rằng Kinh thánh, trong khi có thể sai lầm - với nhiều phần không đúng và một số phần không thể chấp nhận được - trên nguyên tắc, là lời linh ứng của Thiên chúa. Trong cuốn Kinh thánh không ảo giác của mình (Nhà xuất bản SCM, Luân Đôn, 1989), hai nhà thần học tự do người Anh, R.P.C. và A.T. Hanson, đã trình bày đầy đủ ý tưởng này. Dưới đây, tôi xin trích tóm tắt của Carl Lofmark về quan điểm của họ.

Họ nhận thấy rằng Kinh thánh chứa đựng những sai lầm và không thể được Thiên chúa linh ứng, rằng thế giới quan của Kinh thánh là “tiền khoa học” và các câu chuyện về lịch sử trong Kinh thánh lại chủ yếu là thần thoại, truyền thuyết hoặc tiểu thuyết, rằng những phép lạ trong đó đã chẳng bao giờ xảy ra và có những đoạn có ngụ ý xấu xa nếu không muốn nói là kinh tởm. Họ thấy rằng việc cố gắng đọc những chân lý biểu tượng sẽ chẳng có tác dụng gì. Họ thấy rằng không có gì là tốt đẹp việc cố gắng đọc những chân lý biểu tượng, hoặc không có ý nghĩa cao đẹp gì hơn từ phần đông những cuốn Dân số (Numbers), Lê-vi (Leviticus), Thần mệnh ký (Deuteronomy) hoặc ngay cả Thánh thư thứ 2 của Phê-rô (Peter). Họ đồng ý rằng văn bản Kinh thánh là không đáng tin cậy và những lời nguyên thủy (kể cả lời của Giê-su) thường hay bị sửa đổi. Tuy nhiên, họ vẫn còn tin rằng sự “lôi cuốn chung chung” hoặc “ấn tượng” của Kinh thánh là “nhân chứng thực sự về bản chất của Thiên chúa”. Bù lại cho những văn bản xấu xa là những văn bản vén màn chân lý. Họ không thấy ý nghĩa sâu đậm ở bất cứ chỗ nào trong Kinh thánh, trừ những “điểm cao” của nó (trang 138). Họ không đồng ý khi Thiên chúa ra lệnh tàn sát người A-ma-lịch (1 Sa-mu-en 15) hoặc tiên tri Ê-lia (Elijad) giết các tiên tri của tôn giáo Ba-an (1 Các Vua 18), nhưng câu chuyện trong 2 Sa-mu-en 12, trong đó Na-than kết án vua Đa-vít về lối đối xử với U-ria, đã cho thấy một cái nhìn thấu đáo về bản tính của Thiên chúa” (trang 93). Đây là lối giải quyết có tính chiết trung: Họ chọn lọc từ Kinh thánh những đoạn mà họ thấy có giá trị khai trí và từ đó xây dựng những ấn tượng riêng của họ về sự “lôi cuốn chung chung” của Kinh thánh, trong khi lại bác bỏ phần lớn nội dung của Kinh thánh. Chỉ có những đoạn tốt hơn mới là những nhân chứng thực sự cho bản tính và mục đích của Thiên chúa. [12]

Đối với quan điểm về “chân lý biểu tượng thần thoại”, điều đầu tiên phải nghĩ tới là trong suốt hai ngh