Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình

  ●   Bản rời

Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình?

Trần Tiên Long

08 tháng 3, 2011

 

LTS: Để đơn giản hóa những bài mang tính triết học, diễn đạt đầy những từ ngữ trừu tượng, diễn nghĩa phức tạp, chúng ta có thể nói về hai khái niệm: Thiên Chúa và ông trời. Người Thiên Chúa Giáo (TCG) luôn cố tình cho đồng nghĩa hai từ "trời" và "Thượng Đế", và nhập nhằng hai khái niệm "Thượng Đế" và "Thiên Chúa". Nhưng người không tin Chúa thường phân biệt hai khái niệm: "ông trời" và ông "Chúa", và "xí xóa" nếu ai dùng chữ "Thượng Đế" mà người TCG thích dùng thay cho "ông trời". Mỗi người đều có một "thượng đế" trong lòng, có khi đó chỉ là một người yêu, còn Chúa là... một nhân vật khác. Trong xã hội không thờ Chúa ở Á Đông từ trước đến nay, ai muốn hiểu "ông Trời" của họ như thế nào cũng được, chẳng ai đặt vấn đề lớn lao gì cả. Con cóc cũng được vai vế hơn ông trời. Nhưng tại sao trong xã hội TCG, hầu hết những người "tin Chúa" đều khó chịu trước những lập luận của những người không tin? Ngày nay, trước sự trỗi dậy của phong trào những người "không tin Chúa", số người không xác nhận căn cước tôn giáo cũng tăng dần. Nhưng những lý luận để bảo vệ khái niệm "Chúa" trong "Thượng Đế" vẫn còn nhận ra rất "bám" nhờ sự nghiên cứu và phân tích trong các bài đối thoại có phẩm chất như dưới đây của bác Trân Tiên Long. Xin mời theo dõi. (SH)


 

Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình?

(Trả lời góp ý của ông Nguyễn Hoài Vân)

 

Theo dõi đọc giả bàn về Thượng Đế trên các diễn đàn trong mấy tuần qua, tôi nhận thấy hình như chúng ta đã hoàn toàn bác bỏ ý niệm Thượng Đế có nhân tính của Thiên Chúa giáo; bởi vì ở thời đại thông tin nối mạng này, ý niệm về một Thượng Đế có đầy đủ hỉ, nộ, ái, và ố như được “mặc khải” trong Kinh thánh không còn phù hợp với nhận thức tiến bộ của con người khoa học. Mặc dù vậy, qua cách trình bày của các đọc giả, ý niệm Thượng Đế cũng đã thay đổi để tiến hóa theo một chiều hướng khác như đã từng xảy ra bao lần trong suốt dòng lịch sử, nhưng tiếc là lần này nó lại tiến hóa theo một chiều hướng thụt lùi, nghĩa là thay vì đổi sang một ý niệm mới lạ, trái lại, nó đang trở về với ý niệm Thượng Đế của thuyết Phiếm Thần (Pantheism)[1] thời Trung Cổ khi con người chưa biết gì về khoa học, ý niệm mà một thời con người đã từng cố gắng bác bỏ, đàn áp, và tận diệt.

Thực vậy, ông Nguyễn Hoài Vân (NHV) có nhắc đến trường phái Khắc Kỷ (Stoicism)[2], do đó, xin được bàn thêm một chút về trường phái này.

Phái Khắc Kỳ là một trường phái triết học ở thời cổ Hy Lạp, khoảng 300 năm trước Công nguyên. Họ chủ trương sống như những nhà hiền triết, có trí thức và đạo đức, bằng cách làm chủ mọi cảm xúc và tình cảm của mình. Họ cũng hiểu con người có tự do nhưng thứ tự do giới hạn bởi những yếu tố tiền định bẩm sinh. Và họ tin tưởng con người có thể đạt được tình trạng đạo đức bằng cách sống hòa thuận với thiên nhiên, lẽ trời. Họ chẳng tin và cũng chẳng cần quan tâm về một đấng Sáng Tạo vì họ tin vũ trụ không có khởi đầu và cũng chẳng có tận cùng. Họ không tin con người còn có phần linh hồn vẫn tiếp tục sống sau khi chết. Họ xem linh hồn hay Thượng Đế nằm trong tất cả mọi sự vật vô tri vô giác thuộc vũ trụ. Đối với họ, Thượng Đế chính là lực hay năng lượng chuyển động tiềm tàng trong thiên nhiên.

Như vậy, đây là một hệ thống triết học, một cách sống, không phải một tôn giáo, có chủ đích giúp con người đạt được hạnh phúc ở ngay cõi đời này. Về phương diện tâm linh, đây chính là chủ thuyết Phiếm Thần của những người ngoại đạo ở thời tiền khoa học vì bất cứ thứ gì cũng có thể gọi được là thần. Người theo thuyết Phiếm Thần là người không tin có một đấng Sáng Tạo toàn năng hay can thiệp vào công việc của con người. Họ dùng từ Thượng Đế để chỉ thiên nhiên hay những qui luật vật lý trong vũ trụ. Thiên Chúa giáo gọi họ là “ngoại đạo” hàm ý khinh thường những niềm tin nằm ngoài Thiên Chúa giáo. Về phương diện nhân sinh, nó giống chủ thuyết Nhân Bản (Humanism) đầu thế kỷ 19 vì mục đích cuộc đời là sống hạnh phúc ở cõi đời này; không phải là phí phạm thì giờ và công sức để phục vụ hoặc vinh danh bất cứ một thần thánh nào, hầu mong được cứu rỗi để có hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau. Như vậy, đối tượng phục vụ là con người và cuộc đời, không phải Thượng Đế.

Tiếc là một chủ thuyết rất hợp nhân bản, tình người đã bị Thiên Chúa giáo tiêu diệt ở ngay đầu thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên. Đọc lịch sử, chúng ta biết Thiên Chúa giáo ở thời điểm đó đang thống trị toàn đế quốc La Mã. Vì Thiên Chúa giáo tin vào một đấng Sáng Tạo và con người còn có phần linh hồn bất tử nên đã xem triết thuyết Khắc Kỷ như là thứ tà thuyết của người ngoại đạo. Chính hoàng đế Justinian I đã ra lệnh đóng cửa tất cả các trường phái triết học năm 529 sau Công Nguyên vì cho rằng quan điểm triết lý của họ không phù hợp với đức tin Thiên Chúa giáo.

Điều khôi hài là mặc dù không phù hợp như đã trình bày ở trên, thần học Thiên Chúa giáo lại bị ảnh hưởng bởi triết thuyết Khắc Kỷ quá nặng nề đến nỗi đã mượn phần lớn những tư tưởng căn bản triết học của họ làm nền tảng cho thần học của mình, chẳng hạn như những ý niệm về Ngôi Lời, Thần Khí, nhân đức, lương tâm, ý thức, lý trí, v/v… Như vậy, Thiên Chúa giáo có nguồn gốc từ Do Thái giáo nhưng thần học của họ được trộn lẫn bởi những tư tưởng triết học của người cổ Hy Lạp. Bằng phương tiện vũ lực và đàn áp, Thiên Chúa giáo đã phá nát một nền văn hóa nhân bản Hy Lạp có nguồn gốc từ hơn 300 năm trước khi Chúa giáng sinh để trở thành quốc giáo, rồi sau thành tôn giáo hoàn vũ.

Việc ông NHV trích dẫn câu nói của bà thánh Therese d’Avila (1515-1582) rằng “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa", và việc ông NHV giảng giải thêm rằng “Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình”, chứng tỏ ông muốn trở lại ý niệm Thượng Đế của triết thuyết Khắc Kỷ được hiểu như những qui luật vật lý trong thiên nhiên. Đó là lối giải thích Thượng Đế của người ngoại đạo đã bị Thiên Chúa giáo bác bỏ và tiêu diệt ở thời Trung Cổ.

Ở điểm này, chúng ta cũng nên có thêm một nhận xét, rằng Thiên Chúa giáo thường hay cưỡng từ đoạt lý bằng cách cố tình bẻ cong ý nghĩa của những phạm trù thông thường dùng trong truyền thống thành ý nghĩa mà họ muốn dẫn dắt. Thánh Therese d’Avila gọi “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa”, cũng giống như rất nhiều định nghĩa khác mà người tín hữu được chỉ dạy, chẳng hạn như “yêu là trở nên giống Chúa”; hoặc “yêu người là mến Chúa”; hoặc “sống là sống cho Chúa Ki-tô, vì Chúa Ki-tô, còn chết là hưởng nhan thánh Chúa”; hoặc “người khôn ngoan là người biết kính mến Thiên Chúa”; hoặc “Thiên Chúa chính là ông trời”; hoặc như ông NHV viết ở trên rằng “Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình”; trong khi Thiên Chúa là một hữu thể có nhân tính, có ý chí tự do, còn “quy luật tối thượng của trời đất” là những định luật máy móc, vô tình, không có ý chí tự do. Chừng nào hội đủ mọi yếu tố mà nhà Phật gọi là duyên khởi thì hiện tượng phải xảy ra, còn chưa đủ thì nó không thể xảy ra; chứ chẳng phải vì nó bị bắt buộc tuân theo ý chí tự do của một siêu sinh vật nào. Vậy không thể nhập nhằng đồng hóa một hữu thể hữu tình với những loài vô tình, vô tri, vô giác.

Và cuối cùng, ông NHV còn viết “Khoa học duy lý cũng cần niềm tin, ít ra là tin vào chính nó” cho đọc giả chúng tôi hiểu rằng ông đang cố gắng lập lờ trộn lẫn giữa niềm tin khoa học và đức tin tôn giáo. Đây cũng là lối gièm pha những nhà khoa học mà tôi hay được nghe từ những nhà hữu thần. Đúng hơn, hai niềm tin này là hai thái cực đối chọi nhau như nước với lửa. Vậy xin được đưa ra một thí dụ để cho thấy sự khác biệt căn bản giữa hai niềm tin này.

Thí dụ, tôi chưa bao giờ đi Paris nhưng tôi biết Paris nằm ở đâu trong bản đồ. Tôi mua một vé máy bay từ Sài Gòn đi Paris. Tới ngày đi, tôi tin rằng chỉ cần ngồi trên máy bay một thời gian thì ngày hôm sau tôi sẽ có mặt ở Paris. Vì tin như vậy nên tôi mới bỏ tiền mua vé và chịu cực ngồi trên máy bay mấy chục tiếng đồng hồ. Đó là niềm tin khoa học dựa trên lý trí và tìm hiểu, không thể đồng hóa để lẫn lộn vớ