Bertrand Russell: Cơn Ác Mộng Của Nhà Thần Học

  ●   Bản rời

TIN KHÔNG NỔI !

Một phê bình Thiên Chúa Giáo Từ Góc Độ Phật Giáo

Trí Tánh Đỗ Hữu Tài dịch từ

Beyond Belief - A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity

của A.L. de Silva

http://sachhiem.net/SACHNGOAI/BEYOND/BYDBLF01.php

¿ Mục lục|  bản in |  ngày 04 tháng 11, 2009

Lời Nói đầu

 

Cuốn sách nầy là bản Việt dịch tác phẩm Beyond Belief (“Không Tin Nổi !”) của tác giả A.L. de Silva, nguyên viết bằng tiếng Anh, trước hết xuất hiện dưới dạng in ấn bằng giấy. Sau đó, khoảng cuối thập niên 90’, xuất phát từ Tích Lan (Sri Lanka), toàn bộ cuốn sách dưới dạng điện tử với một vài thay đổi nhỏ và hình bìa mới đã được phổ biến rộng rãi trên Internet. Về tông tích của tác giả A.L. de Silva, chúng ta không biết gì nhiều ngoài gốc dân của ông là người Úc, và đã từng là một tín đồ Thiên Chúa giáo trong nhiều năm. Sau đó, chúng ta được biết thêm là ông đã nghiên cứu Phật học và xuất gia trở thành một Tỳ kheo.

Trong quá trình tu học tại Á châu, ông De Silva đã chứng kiến hoạt động của các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo gốc Âu Mỹ đang tìm cách cải đạo Phật tử Á châu bằng những cách thế không chính đáng. Ông cũng nhận ra rằng Phật tử nói riêng và người Á đông nói chung đã không có những hiểu biết, dù là sơ đẳng nhất, để phân biệt được những gì là chân thực và những gì là ngụy trá trong nội dung Thần học Thiên Chúa giáo và trong phương thức truyền đạo của các định chế tôn giáo nầy. Vì vậy, ông đã viết tác phẩm nầy, “Tin Không Nổi - Một Phê bình Thiên Chúa giáo bảo thủ từ góc độ Phật  giáo” (Beyond Belief – A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity), để cung cấp thông tin và lý luận cho những ai muốn một sự chọn lựa tôn giáo trong hiểu biết và công bằng.

Tác phẩm nầy, sau đó, đã được dịch và phổ biến không chính thức bằng nhiều thứ tiếng khác nhau trong vài nước Á châu có đông Phật tử như Tích Lan, Thái Lan, Hàn Quốc …

Khi quyết định dịch tác phẩm nầy ra tiếng Việt, chúng tôi cũng không nhằm mục đích gì hơn là giới thiệu những hiểu biết căn bản, và những khác biệt cũng căn bản không kém, về  nội dung giáo lý của Phật giáo và Thiên Chúa giáo cho người Phật tử lẫn tín đồ Thiên Chúa giáo cùng được biết. Với hy vọng tạo mối thông cảm lẫn nhau để sống chung hài hòa góp phần làm đẹp xã hội. Nói như tác giả De Silva, có hiểu biết thì mới thật sự có công bằng, và có công bằng thì mới thật sự hiểu biết được nhau.

Vì nguyên bản cuốn sách trên Internet không hề nêu tên Nhà Xuất bản hay những thông tin về Bản quyền, người dịch xin xác nhận rằng mọi người đều có thể tự do trích dịch, in ấn và phổ biến bản Việt dịch nầy dưới tất cả mọi hình thức, và tùy nghi ghi, hay không ghi, xuất xứ.

 

Người dịch: Trí Tánh Đỗ Hữu Tài – 6/2009


Ghi chú của Người dịch:

1- Tài liệu điện tử trên Internet mà dịch giả sử dụng để hoàn thành bản dịch nầy là: http://www.divshare.com/download/3297612-51a (ấn bản 2007).

2- Những trích dẫn Kinh Thánh trong sách nầy (từ phiên bản Holy Bible, The New King James) chủ yếu được dịch thẳng từ nguyên bản Anh ngữ của tác giả nên có thể khác về từ ngữ và ý nghĩa với các bản Việt dịch Kinh Thánh của các giáo hội Công giáo và Tin Lành tại Việt Nam, vốn tự chúng đã khác nhau, lại có khi dịch sai văn sai ý để làm nhẹ bớt mặt tiêu cực – Tuy nhiên, cũng có một số ít trích dẫn Kinh Thánh thay vì dịch thì được lấy thẳng từ ấn bản Việt ngữ “Kinh Thánh - Cựu Ước và Tân Ước” , Vietnamese 53V-UBS-1985-5.5M, in và phát hành năm 1985 tại Mỹ, của nhà xuất bản Tin Lành United Bible Societies.

3- Trích dẫn từ Năm quyển sách của Môi-Se, 12 sách về Lịch Sử, 5 sách Thơ Văn, 17 sách Tiên Tri trong Cựu Ước; và 27 sách trong Tân Ước (chủ yếu của các thánh tông đồ) đều được đánh dấu để quy chiếu và tham khảo theo tên Mỹ. Ví dụ: (Gen, 1:27) hay (Jn, 12:30) hay (Matt, 7:2-6) hay (Ps, 3:16), …      

4- Các trích dẫn từ kinh và sách Phật giáo cũng được dịch thẳng từ nguyên bản Anh ngữ của tác giả và đánh dấu quy chiếu như thế. Ví dụ: (Digha Nikaya, Kinh số 4) hay (Dhammapada Atthakata, sách số 15,1)

5- Cụm từ “Thiên Chúa giáo” trong sách nầy chỉ tất cả các tôn giáo thờ Chúa độc thần gồm Anh giáo, Chính Thống giáo, Công giáo La Mã, Hồi giáo và Tin Lành giáo (với hơn 200 giáo phái khác nhau). Đặc biệt, khi nào tác giả (và dịch giả) cần phân biệt rõ, thì hai từ Tin Lành (Protestant, Evangelical Christian hay Christian) và Công giáo La Mã (Roman Catholic, Catholic) sẽ được sử dụng.

6- Người  dịch xin thành thật cảm ơn tác giả A.L. de Silva đã hoàn tất công trình nầy mà nội dung của nó thì đặc biệt rất hữu ích cho Phật tử Á châu. Mọi khiếm khuyết và bất cập trong ấn bản Việt dịch nầy là của dịch giả, và chỉ của dịch giả mà thôi. Mong độc giả chỉnh sửa để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn.

 

 

MỤC LỤC

Chương 1.  Giới thiệu

Chương 2.  Các luận cứ của  người Thiên Chúa giáo về sự hiện hữu của Chúa Trời: Thẩm quyền của cuốn Kinh Thánh - Sự hiện hữu của vũ trụ - Luận cứ về khả năng thiết kế - Luận cứ về nguyên nhân đầu tiên - Luận cứ về các phép lạ - Luận cứ về sự cần thiết phải có Chúa Trời - Luận cứ  “Thử và Phản chứng” - Lời chứng.  

Chương 3.  Tại sao Chúa Trời không thể hiện hữu ? - Vấn đề tự do ý chí - Vấn đề của điều xấu - Tại sao sáng tạo? - Vấn đề Chúa Trời giấu mặt - Thiên Chúa và Tsunami

Chương 4.  Chúa Trời và Đức Phật, Ai tối cao hơn ai ? Diện mạo và ngoại hình - Bản chất trí tuệ - Thái độ đối với chiến tranh - Ý tưởng về công lý - Thái độ đối với bệnh tật - Tạo ra cái xấu - Sự hiến tế - Tình thương.

Chương 5.  Sự thật và hư cấu về thân thế Giê-su:  Những lời tiên tri về Giê-su và những lời do chính Giê-su nói ra - Giáng sinh của Giê-su - Giê-su có phải là một vị Thầy tốt không? - Buổi Tiệc cuối cùng - Vụ xử án Giê-su - Điều gì  đã xảy ra cho Judas, kẻ bán Chúa - Những lời cuối của Giê-su - Phục sinh, Giê-su sống lại - Giê-su có phải là Thiên Chúa không ? - Bằng cách nào Giê-su đã trở thành Thiên Chúa ? - Giê-su có hoàn hảo không ? - Thiếu tính độc đáo - Địa ngục - Các phép lạ mầu nhiệm - Không nhất quán - Cái nhìn của Phật tử về Giê-su

Chương 6.  Một phê bình về Kinh Thánh: Có phải là lời của Chúa Trời không ? - Có phải Kinh Thánh do Thiên khải không ? - Có một hay nhiều Kinh Thánh? - Có sai lầm trong Kinh Thánh không? - Kinh Thánh có phải là một Chứng thư đáng tin không ? - Ai đã viết ra Kinh Thánh ? - Những sai lầm và biến thái trong Kinh Thánh - Việc thay đổi kinh Lạy Cha - Việc cắt bỏ các đoạn Kinh xướng (Tiết) khỏi Kinh Thánh - Việc biên dịch có tuyển chọn.

Chương 7.  Đạo Phật - Sự chọn lựa hợp lý: Sau khi chết chúng ta tái sinh - Cuộc sống là đau khổ - Có thể vượt qua được đau khổ - Có một phương pháp để vượt qua đau khổ - Chánh kiến - Chánh tư duy, Chánh ngữ và Chánh mệnh - Chánh nghiệp - Chánh tinh tấn - Chánh niệm và Chánh định.

Chương 8.  Làm sao để trả  lời 22 câu hỏi của các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo: 1. Các bạn không tin Chúa Trời vì thế các bạn không thể giải thích được thế giới đã bắt đầu như thế nào - 2. Phật giáo không thực tế vì bảo bạn dù một con kiến cũng không được giết - 3. Đức Phật đã chết nên Ngài không thể giúp gì được chúng ta cả - 4. Phật tử thờ cúng những ngẫu tượng vô hồn - 5. Không như Thiên Chúa giáo, Phật giáo quá yếm thế - 6. Giê-su dạy chúng ta yêu thương nhưng Phật giáo lại khuyến khích chúng ta lạnh nhạt và buông xả - 7. Không giống như Phật giáo, Thiên Chúa giáo là một tôn giáo của tình thương. Kinh Thánh viết: “Vì Chúa Trời quá yêu thương thế gian nên Ngài đã ban cho loài người con một của Ngài để loài người khỏi chết và có sự sống đời đời” - 8. Bạn khẳng định rằng khi chết chúng ta tái sinh, nhưng không có bằng chứng nào về chuyện này cả - 9. Nếu chúng ta thực sự tái sinh, bạn giải thích thế nào về sự gia tăng dân số trên thế giới - 10. Niết bàn là một mục tiêu không thực tiễn vì quá lâu để đạt được và rất ít người đạt được - 11. Trong Thiên Chúa giáo, lịch sử mang một ý nghĩa và lịch sử đang tiến đến một mục tiêu đặc thù nào đó. Quan niệm tuần hoàn về sinh tồn của Phật giáo có nghĩa là lịch sử chẳng có ý nghĩa gì cả, và điều này làm cho Phật tử phó thác vào định mệnh và thờ ơ với cuộc sống - 12. Nếu Phật giáo là một tôn giáo tốt lành, vậy tại sao Phật giáo lại tàn lụi ở Ấn Độ là đất nước đã khai sinh ra Phật giáo ? 13. Phật giáo sao chép ý niệm Nghiệp và Tái sinh từ Ấn Độ giáo - 14. Giê-su tha thứ tội lỗi của chúng tôi, nhưng Phật giáo nói bạn chẳng bao giờ thoát khỏi hậu quả của nghiệp do bạn gây ra - 15. Giê-su là một nhân vật mà bạn không thể không quan tâm đến. Cuốn sách nầy của bạn là một bằng chứng khác về sự quan tâm đó. - 16. Thật ra, trong thâm tâm, người Phật tử đang tìm kiếm Thiên Chúa và sự an bình mà chỉ Thiên Chúa mới ban cho được. - 17. Thiên Chúa giáo chỉ bắt đầu với một vài người, và chỉ trong vòng 300 năm đã trở thành tôn giáo chính của đế quốc La Mã. Nếu nó đã có thể phát triển xa như thế và nhanh như thế, hẵn nó phải nằm trong một kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa. - 18. Thiên Chúa giáo lan rộng khắp hầu hết các nước trên thế giới và có nhiều người theo hơn bất cứ tôn giáo nào khác, như thế Thiên Chúa giáo phải là chân lý - 19. Thiên Chúa ban ơn cho kẻ nào tin Ngài. Vì vậy mà các nước Thiên Chúa giáo thì rất giàu có, còn các nước theo Phật giáo thì nghèo nàn. - 20. Khoa Khảo cổ học hiện đại đã chứng minh rằng nội dung của Kinh Thánh là trung thực. - 21. Khắp thế giới, kể cả châu Á, Thiên Chúa giáo là một lực luợng tiến bộ trong lúc Phật giáo cải thiện rất ít cho xã hội - 22. Tôi đã từng thăm viếng nhiều quốc gia Phật giáo, nhưng tôi ít thấy được cái giáo lý Phật giáo cao cả mà bạn nói đến. Những gì tôi thấy là sự thờ cúng những ác thần, các nhà sư thì xem bói toán, Phật tử thì tin vào quyền năng che chở của bùa phép và những hình thức mê tín dị đoan khác. 

Chương 9.  Kết luận

 

 

CHƯƠNG 1

Giới thiệu

Cuốn sách này nhằm ba mục đích:

1- Trước hết nhằm phân tích và phê phán nội dung giáo lý Thiên Chúa giáo (Công giáo và Tin Lành) và căn cứ vào đó mà soi sáng các vấn đề lý luận, triết lý và đạo đức trong những tín điều của Thiên Chúa giáo. Khi làm việc này, tôi hy vọng có thể cung cấp cho Phật tử các cơ sở lý luận để họ có thể sử dụng khi các tín đồ Thiên Chúa giáo muốn cải đạo họ. Cuốn sách này sẽ giúp tạo ra được các cuộc tranh luận công bằng hơn, và mong rằng việc đó sẽ giúp các Phật tử vẫn giữ mình là Phật tử. Vì lẽ nhiều Phật tử ít biết thật rõ về đạo của mình và hầu như không biết gì hết về Thiên Chúa giáo cả nên điều đó làm cho người Phật tử khó trả lời những vấn nạn hoặc bác bỏ các khẳng  định mà tín đồ Thiên Chúa giáo đặt ra.

2- Mục đích thứ hai là giúp cho bất kỳ tín đồ Thiên Chúa giáo nào đọc sách này hiểu được tại sao một số người sẽ  không,  hay chẳng bao giờ, trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo cả. Hy vọng sự hiểu biết đó sẽ giúp tín đồ Thiên Chúa giáo phát huy được một thái độ chấp nhận tình hữu nghị chân thực với Phật tử, hơn là một quan hệ chỉ nhằm cải đạo họ . Để làm điều này, tôi đưa ra nhiều vấn nạn càng khó càng tốt và một ít sự thật mà tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ không vui. Nếu  như đôi lúc tôi có vẻ nghiêm khắc với Thiên Chúa giáo, thì tôi hy vọng điều đó sẽ không bị diễn giải là tôi có ác ý. Tôi đã là tín đồ Thiên Chúa giáo nhiều năm và vẫn giữ một sự tôn kính sâu xa, thậm chí ngưỡng phục, đối với vài khía cạnh của Thiên Chúa giáo. Đối với tôi, giáo lý của Giê-su là một bước quan trọng trong việc tôi trở thành một Phật tử; và tôi cho rằng nhờ vậy, tôi là một Phật tử tốt hơn. Tuy nhiên, khi tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định, như rất nhiều tín đồ đã khẳng định một cách quyết liệt, rằng tôn giáo của họ là chân lý độc nhất thì họ phải chuẩn bị để trả lời các nghi vấn mà những người khác có thể phát biểu về tôn giáo của họ.

3- Mục đích thứ ba của cuốn sách này là làm cho Phật tử nhận thức được sâu xa hơn về đạo của mình. Ở một số nước châu Á, đạo Phật bị xem là một hình thức mê tín lạc hậu, trong lúc Thiên Chúa giáo thì lại được nghĩ  là có đầy đủ mọi giải đáp. Các nước (châu Á) này càng trở nên bị Tây phương hoá, thì Thiên Chúa giáo, với hình thức bên ngoài “hiện đại”, đã bắt đầu tỏ ra càng hấp dẫn. Tôi nghĩ cuốn sách này đủ để chứng minh rằng đạo Phật có thể nêu ra các vấn nạn mà Thiên Chúa giáo  thật khó trả lời, và đồng thời cung cấp những giải thích về các nan đề của cuộc sống đã làm cho những lời giải thích của Thiên Chúa giáo có vẻ tầm thường hơn.

Vài Phật tử có thể phản đối một cuốn sách như thế này, họ tin rằng một tôn giáo hòa nhã và khoan dung như đạo Phật thì phải kiềm chế việc bài bác các tôn giáo khác. Xin thưa rằng chắc chắn Đức Phật đã không dạy chúng ta một điều như thế đâu. Trong kinh Mahaparinibbana,  Ngài đã dạy các môn đệ phải có khả năng để “hoằng dương Chánh Pháp, công bố, xác minh, trình bày, phân tích, làm cho Chánh Pháp hiển lộ rõ ràng, và có thể dùng các phương tiện trong Chánh Pháp để phản bác các giáo lý giả tạo đã từng nảy sinh.” Việc khảo sát và phê phán quan điểm nào đó một cách thận trọng và kỹ lưỡng đã đóng một vai trò quan trọng, giúp chúng ta sàng lọc chân lý ra khỏi sự giả tạo, nhờ thế chúng ta có thể ở một vị thế tốt hơn để chọn lựa giữa “hai và sáu mươi giáo phái đang tranh nhau cùng hiện diện”. Thật ra, phê phán một tôn giáo khác chỉ trở nên không phù hợp khi chủ tâm xuyên tạc tôn giáo đó, hoặc khi hạ mình xuống để chế nhạo chửi rủa người ta. Tôi hy vọng tránh được điều này.

 

 

CHƯƠNG 9

Kết luận

Nếu những gì đã viết trong tập sách nầy khơi động được lòng ao ước muốn biết thêm về Thiên Chúa giáo và Phật giáo, chúng tôi sẽ vắn tắt xin đề nghị một số sách để đọc thêm. Một cuốn sách phổ thông và dễ đọc phô bày nhiều ngụy biện trong Thiên Chúa giáo là Jesus-the Evidence (Giê-su – chứng cớ) của Ian Wilson, xuất bản năm 1984. Wilson xem xét lịch sử của Kinh Thánh và trình bày việc các học giả đã làm thế nào để chứng minh một cách không còn nghi ngờ rằng đó là một sưu tập lộn xộn được biên tập qua nhiều thế kỷ. Ông cũng trình bày thêm làm thế nào một người như Giê-su dần dần trở thành được xem như một vị thần. Một cuốn sách hay khác là Rescuing the Bible from the Fundamentalists (Cứu Kinh Thánh khỏi những người Thiên Chúa giáo chính thống) của John Spong, xuất bản năm 1991. Spong là một giám mục và cũng là một học giả, ông chấp nhận một cách thoải mái rằng hầu hết mọi điều trong Kinh Thánh thì hoặc là thần thoại hoặc là sai lầm, và ông đưa ra nhiều chứng cớ phong phú cho vấn đề này. Nhưng có lẽ nghiên cứu học thuật và thấu suốt nhất trong thời gian gần đây là Is Christianity True? (Giáo lý Thiên Chúa giáo có chân thật không?) của Micheal Arnheim, xuất bản năm 1984. Nghiên cứu nổi bật này xem xét mọi học thuyết lớn của Thiên Chúa giáo và phơi bày mọi vấn đề của chúng duới ánh sáng lạnh lùng của lý trí – và không một vấn đề nào sống sót được dưới sự phơi bày nầy. Hiện có nhiều cuốn sách xuất sắc về giáo lý của Đức Phật như là:

  • The Life of the Buddha (Cuộc đời Đức Phật) của H. Saddhatissa, xuất bản năm 1988, trình bày rất hay tiểu sử Đức Phật và một  mô tả rỏ ràng những ý niệm căn bản của Phật giáo.  
  • What the Buddha Taught (Đức Phật đã dạy gì) của W. Rahula, xuất bản năm 1985.
  • The Buddha's Ancient Path (Con đường cổ xưa của Đức Phật) của Plyadassi Thera, xuất bản năm 1979.
  • A Buddhist Critique of the Christian Concept of God (Một phê bình về ý niệm Chúa Trời của Thiên Chúa giáo từ góc độ Phật giáo) của G. Dharmasiri, xuất bản năm 1988, là một khảo sát xuất sắc nhưng rất chuyên môn về khái niệm Chúa Trời của đạo Tin Lành hiện đại từ góc độ Phật giáo.
  • Two Masters One Message (Hai bậc thầy Một thông điệp) của Roy Amore, xuất bản năm 1978. Trong nghiên cứu này, tác giả chứng minh rằng hầu hết những điều Giê-su dạy thì xuất phát từ Phật giáo.  

Thiên Chúa giáo chính thống đã đặt ra một đe doạ thực sự đối với Phật giáo. Trong lúc chúng ta chẳng  bao giờ hy vọng đối chọi được tính hung hăng hay kỹ năng tổ chức của những tín đồ đó, chúng ta có thể dễ dàng đối trị họ bằng cách làm quen với nhiều điểm yếu về học thuyết của Thiên Chúa giáo và nhiều điểm mạnh của Phật giáo. Nếu thách thức nầy  của Thiên Chúa giáo mà khởi động được nơi người Phật tử một đánh giá sâu xa hơn đối với Phật Pháp và một khát khao được sống trong Phật Pháp, thì sự thách thức đó có thể là một lợi ích cho Phật giáo.

Thiên Chúa giáo chính thống đã đặt ra một đe doạ thực sự đối với Phật giáo. Trong lúc chúng ta chẳng  bao giờ hy vọng đối chọi được tính hung hăng hay kỹ năng tổ chức của những tín đồ đó, chúng ta có thể dễ dàng đối trị họ bằng cách làm quen với nhiều điểm yếu về học thuyết của Thiên Chúa giáo và nhiều điểm mạnh của Phật giáo. Nếu thách thức nầy  của Thiên Chúa giáo mà khởi động được nơi người Phật tử một đánh giá sâu xa hơn đối với Phật Pháp và một khát khao được sống trong Phật Pháp, thì sự thách thức đó có thể là một lợi ích cho Phật giáo. 

- HẾT -

nguồn http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=4234