A.D. Rhodes - Bài 2: Vấn Đề Dịch Thuật - Trao Đổi Với Tác Giả Hoàng Hưng

Bùi Kha

http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha_Rhodes_1.php

 12-Jul-2018

Tôi cho rằng việc đặt lại tên đường và dựng tượng Alexandre de Rhodes cách đây mấy năm là một quyết định hoàn toàn sai lầm [xem phần Trao đổi với Giáo sư Chương Thâu] của những người chịu trách nhiệm về văn hóa và sử học của nước ta, cả trong lẫn ngoài nhà nước, như hàng ngàn sai lầm khác trong quá khứ mà nhà nước cũng như nhân dân ta đang từ từ sửa lại.

 

Bài 2

TRAO ĐỔI VỚI TÁC GIẢ HOÀNG HƯNG(1) - Vấn Đề Dịch Thuật

Phóng ảnh trang đầu, cuốn  “Phép giảng tám ngày” (Cathechismus). Đây là một trong những cuốn sách Rhodes viết để dạy cho con chiên Việt Nam phỉ báng lịch sử và văn hóa nước ta.

Tác giả Hoàng Hưng, trong bài viết “Những băn khoăn từ lá thư trả lời của ông Nguyễn Hòa” trên trang nhà Talawas ngày 1-4-2006, đã đề cập nhiều chi tiết thú vị và oái oăm về tình trạng dịch thuật ở Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, trong bài viết đó, có một đoạn văn không những liên quan đến vấn đề trích dịch mà còn mở lại một vấn đề học thuật tưởng đã chấm dứt: Vấn đề “Công và tội” của Linh mục Alexandre de Rhodes.

Ông Hoàng Hưng viết nguyên văn như sau:

 “Chuyện thứ nhất: Một sai lầm nghiêm trọng đã xảy ra trong lịch sử văn hóa Việt Nam mà nguyên do chỉ tại một trích dẫn có nguồn gốc hồ đồ.

    Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn hay năm tháng, vì tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung. Số là khoảng năm 1992 (1993?) trong khi làm công việc biên tập trang văn hóa văn nghệ của báo Lao động Chủ nhật, tôi nhận được một bài viết đặt vấn đề hoài nghi tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đã lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công trình viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp. Các nhà nghiên cứu lịch sử của ta khẳng định Alexandre de Rhodes đã viết (đại ý): Chúng ta là những người lính... chúng ta có bổn phận đi mở mang bờ cõi. Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia Tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng! Câu trích này thậm chí đã được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lý do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hóa Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đã bị xóa bỏ. Từ bài viết trên, anh em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động đã bỏ công sưu tầm tài liệu, cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi ký của một thuyền trưởng người Pháp nào đó, trong khi tìm mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes! Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi, các "nhà" khác sau đó cứ "ôtômatích" trích lại như một sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo! Tôi cho công bố bài viết trên, bản thân lại viết một bài phân tích rõ việc trích dẫn hồ đồ đã nêu (đồng thời chứng minh câu trích đã dỏm lại còn bị dịch sai nữa chứ!), rồi viết thư đề nghị giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Lịch sử, cho ý kiến. Ít lâu sau, báo Lao động đã đăng bài viết của giáo sư nêu công lao của Alexandre de Rhodes (mà không hề nêu tội). Đó có lẽ là văn bản chính thức đầu tiên "phục hồi nhân phẩm" cho ông cố đạo này. Tiếp đó, ông Phó Tổng biên tập của tôi thông báo Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu cung cấp toàn bộ tư liệu liên quan đến Alexandre de Rhodes. Chúng tôi đã gửi lên gần 1.000 trang photocopy khổ A4, trong đó phần quan trọng do các đồng nghiệp ở báo Công giáo và Dân tộc cung cấp”.

Trước khi góp ý với ông Hoàng Hưng, tôi xin có hai nhận xét và một đề nghị nhỏ sau đây :

(1)  Vì tác giả đã cẩn thận cho biết: “Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn hay năm tháng, vì tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung”, nên những góp ý của chúng tôi hôm nay cũng xin “được” nằm trong cái khung đó, và sẽ được ông Hoàng Hưng điều chỉnh hay bổ sung phần viết của ông sau này. Cũng theo ông Hoàng Hưng, sau khi nhận được bài viết của một “độc giả” báo Lao động hoài nghi về tính trung thực của một câu trích (và dịch) được gán cho Alexandre de Rhodes,“anh em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động đã bỏ công sưu tầm tài liệu” và “tìm mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes!”. Ông cũng cho biết rằng: “Người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi”, và sau này, “vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo!”. Tôi tự hỏi, tại sao báo Lao động (và riêng cá nhân ông Hoàng Hưng), ngay từ đầu, không liên lạc thẳng với tác giả (hay nhiều tác giả) của câu trích (và dịch) đó để được xác nhận nguồn gốc trích dịch, trước khi... bỏ công sưu tầm  tìm mỏi mắt! (nhưng có tìm trong cuốn Hành trình và truyền giáo của A. de Rhodes không?). Như vậy, vừa khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc, nhưng quan trọng hơn cả, vừa tôn trọng và vừa chứng tỏ được thái độ công bằng và khách quan với cả hai đương sự, “người dịch thuật” lẫn “kẻ hoài nghi”.

(2)  Trong đoạn trích dẫn ở trên, ông Hoàng Hưng có cho biết: “Câu trích này thậm chí đã được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội” và “cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi ký của một thuyền trưởng người Pháp nào đó”.

Tôi, Bùi Kha, là một người quan tâm đến cố đạo Alexandre de Rhodes và chữ Việt Latinh hóa (mà rất nhiều người Việt chúng ta từ lâu quen gọi là Quốc ngữ), tôi đề nghị ông Hoàng Hưng, khi về lại nhà sẽ có trong tay tư liệu để trích lục, công bố nguyên văn câu ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội [nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) và nguồn gốc cuốn hồi ký cũng như tên ông thuyền trưởng người Pháp nào đó để rộng đường dư luận.

Bây giờ tôi xin góp ý:

1. Tạm thời, về mặt trích dẫn, tôi xin tiếp cận bằng hai giả thuyết:

(a) Có hai câu viết khác nhau đến từ hai tác giả khác nhau, nhưng nội dung thì hao hao giống nhau. Một của cố đạo A. de Rhodes và một của ông thuyền trưởng người Pháp.

Và (b), chỉ có một câu của cố đạo A. de Rhodes mà thôi. Giả thuyết nào đúng có lẽ phải chờ ông Hoàng Hưng công bố tài liệu chúng ta mới đối chiếu và kết luận được tính chính xác của câu trích và dịch ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội?

Theo tôi, nguyên nhân dẫn đến việc ông cố đạo A. de Rhodes hiện diện trong cả hai giả thuyết nêu trên mà ông Hoàng Hưng đã mỉa mai gọi là “lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công trình viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp” và “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia Tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!”

Là do ông Hoàng Hưng không đọc kỹ, hoặc thiếu sử liệu. Vì trong thực tế, chính ông cố đạo này chứ không phải ai khác, là tác giả của câu viết ấy; được tìm thấy trong cuốn Divers voyages et missions (Hành trình và truyền giáo, bản dịch của Linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Ủy ban Ðoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994). Nguyên văn câu viết ở trang 263 như sau:

Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương(2) , đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Giáo hoàng.” (Đúng ra phải dịch là ngoan đạo…, BK).

Ngoài ra, ở trang 264, A. de Rhodes còn viết tiếp:

“Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Ðể ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé này”.

Ngoài chuyện linh mục Hồng Nhuệ, theo tôi, có thể vì tình cảm tôn giáo mà cố tình dịch sai nguyên bản hai chữ “plusieurs soldats” của A. de Rhodes thành “mấy chiến sĩ” (thay vì “nhiều lính chiến”) tại vì trong tiếng Pháp, “plusieurs” được hiểu là nhiều, còn muốn hiểu là mấy thì A. de Rhodes đã dùng chữ “quelque”, và cụm từ “la conquête de tout l’Orient” Hồng Nhuệ cũng cố ý dịch và chú thích sai là “nước Cha trị đến” mà đúng nghĩa phải dịch là“Thống trị toàn cõi Ðông phương”. Chúng ta còn thấy thêm hai điều:

Câu “mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương” của A. de Rhodes có vẻ... hao hao giống câu “Chúng ta là những người lính... chúng ta có bổn phận đi mở mang bờ cõi” mà ông Hoàng Hưng nhớ mang máng khi đọc ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội.

Nội dung của phần trích dẫn ở trang 264 của A. de Rhodes (nhờ đệ nhất tuyên úy của Hoàng hậu vận độngđể đưa tôi lọt vào triều đình vua) thì hoàn toàn phù hợp với nhận định đúng đắn rằng “truyền giáo đưa đến xâm lăng”, nhưng ông Hoàng Hưng thì lại mỉa mai rằng “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia Tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng”.

2. Theo ông Hoàng Hưng, vì xác định sai nguồn trích dẫn (đáng lẽ là từ hồi ký của thuyền trưởng Pháp nào đó thì lại nhầm thành của A. de Rhodes) nên “ác thay, nó là lý do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hóa Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đã bị xóa bỏ”.

Tuy nhiên, A. de Rhodes có phải là người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ không? Ta hãy để chính A. de Rhodes tự cải chính lấy điều mà hậu thế chúng ta, vì vô tình hay có hậu ý nào đó, cứ sai lầm gán cho ông. Trong mấy dòng đầu của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, trang 3, phần Việt ngữ), ông viết như sau:

Quyển từ điển tam ngữ này, gồm tiếng An Nam, Bồ Ðào Nha và Latinh tôi đặt nó vào trong tay và để trước mắt bạn được, là nhờ vào sự tài trợ của Thánh bộ Truyền bá Ðức tin...

Tuy nhiên trong công việc này (soạn chữ Quốc ngữ - BK) ngoài những điều mà tôi học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú lại hai xứ Cô-sinh (Ðàng Trong - BK) và Ðông Kinh (Ðàng Ngoài - BK) thì ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của cha Gaspar de Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Ðào, nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông tôi còn thêm tiếng Latinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn...”

Rõ ràng, A. de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ Việt Latinh hóa, lại càng không phải là tác giả hoàn toàn của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (được Vatican xuất bản năm 1651), vì chính ông xác nhận rằng ông chỉ thêm tiếng Latinh vào cuốn Tự điển có sẵn đó mà thôi.

Cho nên, dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho Alexandre de Rhodes, người góp phần quan trọng như ông Hoàng Hưng đánh giá, theo tôi, là phản học thuật, không có sử liệu. Nếu cần phải xác nhận người có công với chữ Việt Latinh hóa thì đó là Francisco de Pina, người thật sự có công. Tiếp sau đó là Gaspar de Amaral (Từ điển An Nam-Bồ Ðào Nha) và Antonio Barbosa (Từ điển Bồ Ðào Nha-An Nam và Nhập môn Tiếng Ðàng Ngoài - Munuducio Ad Linguam Tunkinensem), hai người có công kiện toàn văn tự này. Còn A. de Rhodes chỉ dựa vào đó để viết sách cho việc truyền đạo như cuốn Phép giảng tám ngày mà trong đó chứa đựng nhiều ngôn từ bài xích tôn giáo và văn hóa Việt Nam.

Ngoài ra, để làm rõ thêm, tôi xin đặt một giả thuyết lịch sử phản diện: Nếu gần 200 năm sau khi các vị này chế ra chữ Việt Latinh hóa đó, không phải là thực dân Pháp mà “thực dân Bồ Đào Nha” xâm chiếm và đặt ách đô hộ lên nước ta, thì ông Hoàng Hưng nghĩ chính quyền thực dân Bồ Ðào Nha sẽ dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ai? Hỏi như thế để ông Hoàng Hưng thấy rằng việc Pháp vinh danh A. de Rhodes như người sáng chế ra một văn tự mới thì không phải lúc nào cũng thuần văn hóa, theo lịch sử mà là một hành động chính trị.

Tôi nghĩ rằng chính quyền thực dân Pháp lúc bấy giờ vinh danh A. de Rhodes là còn vì hai lý do: Một là để ghi ơn vai trò vận động đặc biệt của vị cố đạo này trong quá trình khai sinh chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam. Và hai là biểu diễn một chiến thắng văn hóa trong cuộc tranh giành ảnh hưởng bá quyền và thần quyền giữa hai nước Pháp và Bồ trong thế kỷ thứ XVI.

3. Tuy nhiên, phần góp ý số 2 ở trên là chỉ để tranh biện với ông Hoàng Hưng về “công” của A. de Rhodes, nếu có, mà thôi. Tại vì về mặt học thuật, ít nhất là cho đến nay (2006), người đầu tiên thật sự sáng nghĩ ra chữ Việt Latinh hóa một cách quy mô thì đã được xác định rõ ràng: Không phải là hai ông Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa nói trên, lại càng, dĩ nhiên, không phải là Alexandre de Rhodes, mà là một giáo sĩ Bồ Đào Nha khác tên là Francisco de Pina mà A. de Rhodes đã có nhắc đến nhưng một số người Việt, có lẽ, vì nặng lòng với tôn giáo và vì ơn mưa móc của thực dân Pháp nên cố tình quên.

Tôi xin trích một phần bài viết “Ai là người thật sự sáng chế ra chữ Quốc ngữ”, Tạp chí Xưa & Nay, số 62 tháng 3-4/2004, của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương mà chúng tôi, trong giới hạn của mình, đã kiểm chứng tính trung thực của các dữ kiện:

Giáo Sĩ Francisco De Pina

 “Thời Pháp thuộc, người Pháp tuyên truyền rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã có công sáng chế chữ Quốc ngữ. Nhưng theo nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Pháp Roland Jacques thì người có công đầu này chính là giáo sĩ Bồ Ðào Nha Francisco de Pina.

Roland Jacques đã bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu vấn đề này và đến cuối năm 1995 ông công bố chuyên luận “Công trình của một số nhà tiên phong Bồ Ðào Nha trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt Nam cho đến năm 1650”. Ðến năm 2002, công trình được tái bản có bổ sung bằng song ngữ Pháp-Anh.

Sau nhiều năm tìm kiếm trong hàng vạn trang viết về Ðàng Trong ở thế kỷ 17-18 còn được lưu trữ tại Thư viện Hoàng gia của cung điện Ajuda ở thủ đô Lisbonne, ông may mắn phát hiện được một bức thư viết dở, dài 7 trang, của giáo sĩ Francisco de Pina vào đầu năm 1623 gửi cho Khâm sai Jéromino Rodriguez ở Macao, báo cáo về công việc truyền giáo và Latinh hóa tiếng Việt.

  Giáo sĩ Francisco de Pina đến Ðàng Trong vào đầu năm 1617, đặt chân đầu tiên ở Ðà Nẵng, sau đó vào giữa năm này, đến truyền đạo ở cảng Thị Nại Hội An. Ðầu năm 1618, ông chuyển đến Nước Mặn, Quy Nhơn. Ðến đầu năm 1621, ông quay lại truyền đạo ở Hội An cho đến đầu năm 1625. Giáo sĩ A. de Rhodes đến Hội An năm 1624 và học tiếng Việt với ông tại đây.

... Trong bức thư viết vào đầu năm 1623 nói trên, Francisco de Pina đã viết: “Về phần tôi, tôi đã biên soạn một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tức tiếng Việt) và tôi đang bắt tay viết về ngữ pháp. Tuy nhiên, tôi cũng đã tập hợp được những cổ tích, thuộc nhiều loại khác nhau, nhằm cung cấp các trích dẫn của các tác giả để xác minh nghĩa của các từ và các quy tắc của ngữ pháp, cho đến nay tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc để tôi phiên dịch sang các chữ Bồ Ðào Nha (tức chữ Latinh)... Ngoài ra, tôi đã có ba bốn cuốn tập hợp các bài viết có lý luận trong số các bài viết hay nhất mà tôi tìm thấy được ở Vương quốc này”.

  Những điều Francisco de Pina đã viết trước khi Alexandre de Rhodes đến Ðàng Trong một năm cho thấy ông đã tiến hành việc Latinh hóa tiếng Việt chậm nhất là vào năm 1622, và đã tạo ra những cuốn sách viết bằng chữ Quốc ngữ sớm hơn bất kỳ một giáo sĩ Tây phương nào đến Ðàng Trong lẫn Ðàng Ngoài.

... Sau khi người Thầy Francisco de Pina qua đời, các công trình Latinh hóa tiếng Việt đầu tiên của ông đã vào tay người học trò Alexandre de Rhodes và ông này đã mang theo khi ra Ðàng Ngoài năm 1627.

... Về việc người Việt có tham gia trong sự phát minh chữ Quốc ngữ, theo Roland Jacques, gồm hai nhóm: Thứ nhất là giới trí thức gồm có các thầy đồ, sư sãi, các trưởng tông phái (đạo Lão, đạo Khổng,...), quan lại hưu trí và sĩ tử là những người giỏi tiếng mẹ đẻ, am hiểu nền văn hóa dân tộc. Nhóm thứ hai gồm các phiên dịch là thanh niên giáo dân biết tiếng Bồ Ðào Nha, Latinh giúp giáo sĩ truyền đạo. Và số người Việt này phải đông hơn gấp nhiều lần so với số các giáo sĩ.

... Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học hiểu rất rõ nếu các giáo sĩ phương Tây không được sự hợp tác của người Việt thì không thể Latinh hóa tiếng Việt được. Bởi vậy Roland Jacques đã viết: “Chính cả Pina và các đồng nghiệp đã tập hợp được những người hợp tác có chất lượng mà nếu không có họ, mọi công trình ngôn ngữ học nghiêm túc sẽ không thể có được”. Và ông đề nghị: “Cần thiết phải đặt đúng vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công trình tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân thứ yếu, trong đó người Bồ Ðào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đã giữ vai trò hàng đầu”.

Bài viết này của tác giả Nguyễn Phước Tương làm tôi suy nghĩ 2 điều:

(1) Vai trò góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ của A. de Rhodes mà những người như ông Hoàng Hưng đang muốn nỗ lực xiển dương thì cần phải được đánh giá lại cho đúng. Nhất là nỗ lực đó nhằm "phục hồi nhân phẩm" cho ông cố đạo này như ông Hoàng Hưng viết, và lại còn (hàm ý) muốn dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ông ta nữa.

(2) Những khám phá mới của nhà ngôn ngữ học Roland Jacques được công bố năm 2002 trên toàn thế giới, sau đó được tác giả Nguyễn Phước Tương thông báo trong nước trễ nhất là năm 2004, thế mà đến năm 2006 (nghĩa là 2 năm sau), ông Hoàng Hưng có vẻ vẫn lập luận và mang tâm cảnh (mindset) dựa trên những thông tin lỗi thời của ông từ năm 1992.

4. Như đã viết ở trong phần dẫn nhập và trong góp ý 1, về mặt học thuật, chúng ta đang chờ đợi ông Hoàng Hưng cho biết xuất xứ của các tài liệu, và còn vấn đề gì cần thảo luận thêm không? Tuy nhiên, dù là giả thuyết nào đúng, thì bàng bạc khắp bài viết ông Hoàng Hưng có vẻ như đã đóng chốt một kết luận về “công” (!) của ông cố đạo Alexandre de Rhodes này rồi.

Thật vậy, ông dẫn ra 4 sự kiện có thật nhưng ông lại mỉa mai không bằng lòng:

(1) … Tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đã lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công trình viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp.

(2) ... Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia Tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!

(3) ... Câu trích này thậm chí đã được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lý do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hóa Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đã bị xóa bỏ.

(4) ... Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi, các "nhà" khác sau đó cứ "ôtômatích" trích lại như một sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo!

Qua 4 đoạn ngắn đó, tôi có thể hiểu rằng, theo ông Hoàng Hưng, ông cố đạo Alexandre de Rhodes là người có công lớn với dân tộc ta (chí ít cũng là công thần với văn hóa Việt Nam), xứng đáng vinh danh trên toàn nước (thế mà tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hóa Việt Nam... đã bị xóa bỏ).

Chắc không ai có thể đồng ý với ông Hoàng Hưng về một kết luận tùy tiện, đơn giản và thiếu sử liệu đến như thế được. Lịch sử cần sòng phẳng. Công thì khen, tội thì phạt. Công ít thì khen ít, tội nhiều thì phạt nhiều, không thể mập mờ.

Công của ông cố đạo này thì đã quá rõ: ông A. de Rhodes dứt khoát không phải là người đầu tiên mà chính là giáo sĩ người Bồ, đã sáng nghĩ ra việc dùng mẫu tự Latinh để phiên âm tiếng Việt nhằm dễ dàng hóa việc truyền đạo. Nhưng trong lúc biên soạn sách giảng đạo bằng tiếng Việt theo mẫu tự Latinh, ông Rhodes cũng như các cố đạo người Bồ đã vô tình góp công vào việc phát triển chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh. Bên cạnh đó, những trí thức Việt Nam, các thầy đồ, sư sãi, quan lại… đã lợi dụng công trình của các ông cố đạo để chỉnh trang, hệ thống hóa và đặt nền móng cho tiếng Việt của chúng ta ngày nay mới thực sự là những người vô danh nhưng cần được vinh danh. Việc làm vô tình ấy của ông Rhodes phải chăng có thể được gọi là công thần văn hóa chăng?, và đáng để xây bia, đúc tượng, đặt tên đường như những vị danh nhân văn hóa khác của Việt Nam?

Huống gì khi mở rộng ra trên bình diện lịch sử dân tộc, tội của ông thì cũng đã quá rõ, và quá nặng: Ông Alexandre de Rhodes là một cố đạo Pháp đầu tiên đã vận động chính quyền Pháp xâm chiếm nước ta với ý đồ làm cho hai chính sách truyền đạo của nhà thờ và đô hộ của nhà nước quấn quyện vào nhau trong một thế hỗ tương quyền lợi, dù ý đồ đó không thành tựu ngày ông nhắm mắt. Tuy nhiên, chính vì “tiền lệ” đó mà sau này những giáo sĩ Pháp như Pallu, De la Motte, Huc, Pellerin, Puginier,... đã triển khai để thành công trong việc thuyết phục, kế hoạch, và tiến hành cuộc xâm lăng nước ta và áp đặt nền đô hộ trên dân tộc ta.

Xin giới thiệu với ông Hoàng Hưng một vài đầu sách xuất bản tại nước ngoài, để ông tham khảo thêm về chủ đề này: Charles Maybon: Histoire moderne du pays d’Annam; Marvin Gettleman: Vietnam: History, Documents and Opinions; Yoshiharu Tsuboi: L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine; Etienne Vũ Ðức Hạnh: La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam de 1851 à 1870; Francis Fitzgerald: Fire in the Lake; Helen Lamb: Vietnam’s Will to Live; Malcolm Browne: The New Face of the War; Stanley Karnow: Vietnam A History; Josepph Buttinger: Vietnam, A Political History; Trần Quý: Rhodes đã làm gì cho Việt Nam; Phạm Văn Sơn: Việt sử toàn thư; Nguyễn Thế Anh: Việt Nam thời Pháp đô hộ; Phan Khoang: Việt Nam Pháp thuộc sử; Cao Huy Thuần: Ðạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam; Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm; Tạ Chí Ðại Trường: Lịch sử nội chiến Việt Nam; Lý Chánh Trung: Tìm về dân tộcTôn giáo và Dân tộc; Nguyễn Xuân Thọ: Histoire de la pénétration Française au Vietnam (1858-1897)

Ngoài ra, cũng để xác định với ông Hoàng Hưng rằng quy luật “thập giá đi trước, lưỡi gươm theo sau” của giáo hội Vatican là nhất quán và có tính toàn cầu, xin lại giới thiệu với ông một số đầu sách khác để ông có một cái nhìn tổng thể hơn: Nino Lo Bello: The Vatican Empire; Paul Blanshard: American Freedom and Catholic Power; Roland Flamini: Pope, Premier, President; Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi: Catholicisme et sociétés asiatiques; Richard E. Greenleaf: The Roman Catholic Church in Colonial Latin America; Eric O. Hanson: The Catholic Church in World Politics; Norman Lewis: The Missionaries: God Against the Indians; Avro Manhattan: Catholic Imperialism and World Freedom  The Vaticans Holocaust; Trần Chung Ngọc, Công giáo chính sử, 2000; Peter Nichols: The Politics of the Vatican; Anene Obianyido: Christ or Evil? The Corrupt Face of Christianity in Africa; Padchi: The Holy Humbugs; Julian Pettifer & Clive Prince: Missionnaries; Karl M. Schmit: The Roman Catholic Church in Modern Latin America; Charlie Nguyễn: Công giáo trên bờ vực thẳm; Malachi Martin: The Keys of This Blood...

Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, tôi cho rằng việc đặt lại tên đường và dựng tượng Alexandre de Rhodes cách đây mấy năm là một quyết định hoàn toàn sai lầm [xem phần Trao đổi với Giáo sư Chương Thâu] của những người chịu trách nhiệm về văn hóa và sử học của nước ta, cả trong lẫn ngoài nhà nước, như hàng ngàn sai lầm khác trong quá khứ mà nhà nước cũng như nhân dân ta đang từ từ sửa lại.

Sự thật dù có bị chôn vùi hay bóp méo bằng những lớp bụi chính trị nhất thời và quyền lợi tôn giáo, thì cuối cùng vẫn là sự thật. Những sai lầm về lịch sử cần được nhà nước và nhân dân điều chỉnh.

 Bùi Kha

14-4-2006 

___________________

(1) Bài đã đăng trên web Talawas ngày 24-4-2006. Website:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6987&rb=0302

(2) . Phần nghiêng đậm trong các trích dẫn do Bùi Kha nhấn mạnh.

Các bài về Alexandre De Rhodes:

http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha_Rhodes_Main.php

Bài khác